Một số vấn đề về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở việt nam

  • 47 trang
  • file .doc
A - LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các
phạm trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu
quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời
là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia. Đã bao thời nay,
loài người đã và đang tiếp tục đứng trước một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt
này và cố gắng tiếp cận nó, mong tìm ra một nhận thức đúng đắn để từ đó xác
định và đưa vào vận hành trong thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến
nó trở thành một công cụ tích cực trong quản lý nền kinh tế ở mỗi nước.
Tỷ giá hối đoái, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại "giá của giá",
bị chi phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính trừu tượng
vốn có của bản thân nó. Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là cái gì đó để ngắm mà
trái lại, là cái mà con người cần phải tiếp cận hàng ngày, hàng giờ, sử dụng nó
trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc sử lý những vấn đề cụ thể liên
quan đến các chính sách kinh tế trong nước và quốc tế. Và do vậy, nhận thức
một cách đúng đắn và sử lý một cách phù hợp một cách tỷ giá hối đoái là một
nghệ thuật.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình quốc tế
hoá đã bao trùm tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc sống, thì
sự gia tăng của hợp tác quốc tế nhằm phát huy và sử dụng những lợi thế so sánh
của mình đã làm cho việc quản lý đời sống kinh tế của đất nước và là mối quan
tâm đặc biệt của chính phủ các nước trong quá trình phục hưng và phát triển
kinh tế. Việt Nam là một trong những nước như vậy.
Xuất phát từ những lý do trên đây, Em chọn đề tài của mình là "Một số
vấn đề về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam". Tập đề án
được chia làm 2 phần chính.
Những vấn đề lý thuyết chung ( chương I )
Những chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam ( chương II )
Do đề ra, chương I sẽ chiếm phần lớn tập đề án. Ở chương II. Em sẽ cố
gắng trình bầy và thể hiện những gì đã đề cập trong chương I.
Dưới đây em xin trình bầy nội dung đề án của mình.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I. Những vấn đề lý thuyết chung
I. Tỷ giá hối đoái và sự hình thành tỷ giá hối đoái
1. Tỷ giá hối đoái:
Hầu hết mỗi quốc gia hay một nhóm quốc gia liên kết (như liên minh
Châu Âu) đều có đồng tiền riêng của mình. Việt Nam có tiền đồng (VNĐ)
Trung quốc có Nhân dân tệ (CNY), Mỹ có Dollar (USD).
Mối liên hệ kinh tế giữa các nước, các nhóm nước với nhau mà trước hết
là quan hệ mua bán trao đổi đầu tư dẫn đến việc cần có sự trao đổi đồng tiền của
các nước khác nhau với nhau, đông tiền này đổi lấy đông ftiền kia, từ đố ta có
thể nói rằng: tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính
bằn tiền tệ của một nước khác. Thông thường, thuật ngữ "Tỷ giá hối đoái" được
ngầm hiểu là số lượng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ,
tuy nhiên ở Mỹ và Anh được sử dụng theo nghĩa ngược lại: số lượng đơn vị
ngoại tệ cần thiết để mua một đồng USD hoặc đồng bảng Anh; ví dụ: ở Mỹ 0, 8
xu/USD.
Các nhà kinh tế thường đề cập đến hai loại tỷ gia hối đoái:
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (en): đây là tỷ giá hôí đoái được biết đến
nhiều nhất do ngân hàng nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại
chúng hàng ngày.
- Tỷ giá hối đoái thực tế (er) được xác định er = en * Pn/Pf
Pn: chỉ số giá trong nước
Pf: chỉ số giá nước ngoài
Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch lạm
phát giữa các nước và phản ánh đúng swsc mua và sức cạnh tranh của một nước.
2. Sự hình thành tỷ giá hối đoái
a- Cầu về tiền trên thị trường ngoại hối
2
Có cầu về tiền của nước A trên thị trường ngoại hối khi dân cư từ các
nước khác mua hàng hoá và dịc vụ được sản xuất ra tại nước A. Một nước xuất
khẩu càng nhiều thì cầu đối với đồng tiền nước đó càng lớn trên thị trường ngoịa
hối.
Đường cầu về một loại tiền là hàm của tỷ giá hối đoái của nó xuống dố
phía bên phải, điều này cho thấy nếu tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá của
nước ấy càng trở lên đắt hơn đối với những người nước ngoài và ít hàng hoá
xuất khẩu hơn
b- Cung về tiền trên thị trường ngoại hối
Để nhân dân nước A mua được các sản phẩm sản xuất ra ở nước B họ
phải mua một lượng tiền đủ lớn của nước B, bằng việc dùng tiền nước A để trả.
Lượng tiền này của nước A khi ấy bước vào thị trường quốc tế.
Đường cung về tiền là một hàm của tỷ giá hối đoái của nó, dốc lên trên
về phía phải. Tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá nước ngoài càng rẻ và hàng
hoá ngoại được nhập khẩu ngày càng nhiều.
Các tỷ giá hối đoái được xác định chủ yếu thông qua các lực lượng thị
trường của cung và cầu. Bất kỳ cái gì làm tăng cầu về một đồng tiền hoặc làm
giảm cung của nó đều có xu hướng làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên. Bất kỳ cái
gì làm giảm cầu về một đồng tiền hoặc làm tăng cung đồng tiền ấy trên các thị
trường ngoại hối sẽ hướng tới làm cho giá trị trao đổi của nó giảm xuống ở hình
vẽ dưới, ta thấy được tỷ gía hối đoái cân bằng L o của đồng Việt Nam và đồng
USD Mỹ thông qua giao điểm S và D.
L USD
Đ
S
Lo
3
D
Qo Q(đ)
3.Phân loại tỷ giá hối đoái
Trong thực tế tuỳ từng nơi từng lúc khi quan tâm đến một khía cạnh nào
đó của tỷ gía hối đoái người ta thường gọi đến tên đến loại tỷ giá đó. Do vậy cần
thiết phải phân loại tỷ giá hối đoái.
Dựa vào những căn cứ khác nhau người ta chia ra nhiều loại tỷ giá khác
nhau:
a- Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được chia ra làm hai
loại
-Tỷ giá điện hối mà tỷ gía mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách
nhiệm chuyển ngoại hối bằng điện( telegraphic transfer -T/T)
-Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm
chuyển ngoại hối bằng thư ( mail transfen M/T)
b- Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái chia ra các loại
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do nhà Nước công bố được hình thành trên
cơ sở ngang giá vàng.
-Tỷ giá tự do là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ cung
cầu qui định .
- Tỷ giá thả nổi là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường và nhà nước
không can thiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này.
- Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian nào đó.
c- Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia ra các
loại:
- Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ.
4
- Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ
hạn bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc chuyển
khoản ngoại hối không phải bằng tiền mặt, bằng cách chuyển khoản qua ngân
hàng.
- Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối
bằng tiền mặt.
d- Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối:
- Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mau bán ngoại
hối của chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày.
- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá vào cuối giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán
ngoại hối của chuyến giao dịch cuối cùng trong ngày.
- Tỷ giá giao nhận ngay: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận
ngoại hối sẽ được thực hiện chậm nhất trong 2 ngày làm việc.
- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao
nhận ngoại hối sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng(có
thể là 1, 2, 3 tháng sau).
e- Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá chia
ra làm hai loại:
- Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào.
- Tỷg ía bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra.
II- Những nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái:
1- Cán cân thương mại: trong các điều kiện khác không đổi nếu nhập
khẩu của một nước tăng thì đường cung về tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển về
phía bên phải, tỷ giá hối đoái giảm xuống; nếu xuất khẩu tăng thì đường cầu về
tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển sang trái tỷ giá hối đoái tăng lên.
2- Tỷ giá lạm phát tương đối: nếu tỷ lệ lạm phát của một nước cao hơn tỷ
lệ lạm phát của một nước khác thì nước đó sẽ cần nhiêù tiền hơn để mua một
lượng tiền nhất định của nước kia. Điều này làm cho cung tiền dịch chuyển sang
phải và tỷ giá hối đoái giảm xuống.
5
3- Sự vận động của vốn: khi người nước ngoài mua tài sản tài chính, lãi
suất có ảnh hưởng mạnh. Khi lãi suất của một nước tăng lên một cách tương đối
so với nước khác thì các tài sản của nó tạo ra tỷ lệ tiền lời cao hơn và có nhiều
người dân nước ngoài muốn mua tài sản ấy. Điều này làm cho đường cầu về tiền
của nước đó dịch chuyển sang phải và làm tăng tỷ giá hối đoái của nó. Đây là
một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất tới tỷ giá ở các nước phát triển cao.
4- Dự trữ, phương tiện thanh toán, đầu cơ: tất cả đều có thể làm dịch
chuyển đường cung và cầu tiền tệ. Đầu cơ có thể gây ra những thay đổi lớn về
tiền, đặc biệt trong điều kiện thông tin liên lạc hiện đại và công nghệ máy tính
hiện đại có thể trao ddổi hàng tỷ USD giá trị tiền tệ mỗi ngày.
Trên đây là 4 nguyên nhân cơ bản gây lên sự dịch chuyển đường cung và
cầu trên thị trường ngoại hối. Sự dịch chuyển này đến lượt nó sẽ gây ra những
dao động của tỷ giá hối đoái, và như vậy phản ứng dây chuyền, những biến
động của tỷ giá hối đoái lại tác động đến nền kinh tế trong nước.
III- Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế
1-Thực trạng tác động của tỷ giá đối với các lĩnh vực tài chính, ngân
sách thời gian qua.
1.1-Thực trạng quan hệ giữa tỷ giá với ngân sách:
Mọi sự biến động của các loại tỷ giá đều tác động trực tiếp tới thu chi
ngân sách. Trước năm 1990 nhà nước thực hiện chính sách tỷ giá kết toán nội
bộ, mức tỷ giá nhà nước công bố thường cố định trong thời gian tương đối dài.
ở thời điểm công bố mức tỷ giá thấp hơn nhiều so với mức giá trên thị trường và
tình hình sức mua của đồng tiền tính chung thời kỳ 1985-1988, 1rúp mua trên
dưới 1.500VND hàng xuất khẩu, 1USD trên dưới 3.000VND, trong khi đó tỷ
giá kết toán nội bộ thanh toán trong quan hệ xuất nhập khẩu giữu mức
150VND/Rúp và 225VND/USD. Nhìn chung 1Rúp hàng xuất khẩu phải bù lỗ
1.350VND và 1USD phải bù 2.775VND. Kim ngạch xuất khẩu của năm 1987là
650 triệu R-USD trong đó khu vực đồng Rúp 500 triệu và khu vực đồng USD
150 triệu, Ngân sách nhà nước đã phải bù lỗ 900 tỷ. Đối với các ngành, các địa
6
phương càng giao nhiều hàng xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ với bạn, thì ngân
sách nhà nước càng phải bù lỗ nhiều. Ngân sách nhà nước không bù lỗ đủ hoặc
chậm trễ trong việc thanh toán thì công nợ giữa các doanh nghiệp và các ngành
càng tăng và càng thiếu vốn để tiếp tục kinh doanh. Đối với hàng nhập, thì khi
vật tư nguyên liệu thiết bị về nước nhà nước đứng ra phân phối cho các ngành
trong nền kinh tế quốc dân với mức giá thấp (phù hợp với mức tỷ giá 150
VNĐ/Rúp và 225VND/USD nêu trên). Như vậy, các ngành, các địa phương
được phân phối các loại vật tư, nguyên liệu đó thì được hưởng phần giá thấp
còn ngân sách nhà nước lại không thu được chênh lệch giá. Việc thực hiện cơ
chế tỷ giá kết toán nội bộ trong thanh toán xuất - nhập khẩu và bù lỗ hàng xuất
khẩu đó là:
- Nếu thực hiện nghiêm trọng nghĩa vụ giao hàng xuất khẩu cho bạn để có
thể đưa hàng nhập về đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, thì mức lỗ của
ngân sách cho hàng xuất khẩu lớn gây trở ngại cho việc điều hành ngân sách -
Nếu trì hoãn cho việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng xuất khẩu nhưng trong khi
đó vẫn yêu cầu bạn giao hàng nhập cho ta theo tiến độ, thì việc bù lỗ hàng xuất
khẩu được giảm ở mức độ nhất định, nhưng nghĩa vụ nợ của ta với bạn lại tăng
lên đáng kể.
Tỷ giá qui định thấp nên các tổ chức kinh tế và cá nhân có ngoại tệ không
bán ngoại tệ cho ngân hàng, vì làm như vậy sẽ bị mất lãi. Các tổ chức đại diện
nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài cũng không chuyển tiền tài khoản ở ngân
hàng ở chi tiêu mà thường đưa hàng từ nước ngoài vào hoặc sử dụng ngoại tệ
tiền mặt trực tiếp trên thị trường. Do đó cơ chế tỷ giá của thời kỳ này đã trở
thành một yếu tố tạo cho ngoại tệ bị thả nổi, mua bán trên thị trường trong
nước. Thực tế này vừa gây thiệt hại về kinh tế cho Nhà nước vừa làm phát sinh
thêm những tiêu cực trong đời sống xã hội. Đồng thời nó tác động trở lại tỷ giá
kết toán nội bộ và làm cho tỷ giá giữa đồng nội tệ giữa các đồng ngoại tệ diễn
biến phức tạp thêm. Từ tình hình trên cho thấy, trước năm 1989 tỷ giá hối đoái
giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ do nhà nước qui định không tính đến biến động
giá trên thị trường đang bị trượt ngã nghiêm trọng, nên đã làm cho mức bù lỗ
7
hàng xuất khẩu trong ngân sách quá lớn, gây khó khăn trong việc điều hành và
quản lý ngân sách và thực hiện nghĩa vụ giao hàng mà ta đã cam kết với nước
ngoài, ngoại tệ bị rối loạn, Nhà nước không điều hành và quản lý được.
Tỷ giá hối đoái bị bóp méo so với thực tế đã khiến cho thu chi ngân sách
Nhà nước không phản ánh đúng nguồn thu từ nước ngoài và các khoản cấp phát
của ngân sách Nhà nước cho nền kinh tế quốc dân và cho các hoạt động khác có
sử dụng ngoại tệ.
Việc tạo ra một tỷ giá chính thức tưởng là giữ giá trị đồng Việt Nam so
với ngoại tệ để kế hoạch hoá và ổn định kinh tế, nhưng thực chất là đẩy xuất
khẩu Việt Nam vào ngõ cụt, không khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu và
đẩy mạnh hàng xuất khẩu, hệ quả là cán cân thương mại bị nhập siêu nghiêm
trọng, ngân sách Nhà nước phải gánh chịu thêm các thua thiệt.
Khi buộc phải thả nổi và phá giá mạnh đã làm cho chi phí của các doanh
nghiệp tăng lên đáng kể và lợi nhuận bị giảm, do đó mức thu từ thuế lợi tức của
các tổ chức kinh tế cho ngân sách Nhà nước cũng bị ảnh hưởng. Mặt khác, các
khoản chi tiêu cho các cơ quan và tổ chức được Nhà nước cấp cũng được tăng
lên tương ứng với mức mất giá của đồng nội tệ. Tình hình đó đã tác động đến
yếu tố làm tăng bội chi ngân.
Từ năm 1989, cùng với các cải cách kinh tế, tài chính, tiền tệ, Nhà
nước đã bỏ chế độ tỷ giá trước đây (tỷ giá kết toán nội bộ), giảm căn bản bù lỗ
cho hoạt động xuất - nhập khẩu và thực hiện chính sách giá sát với tỷ giá thị
trường. Ngân hàng nhà nước công bố tỷ giá chính thức của VNĐ với các ngoại
tệ mạnh, nhất là với USD trên cơ sở đó các ngân hàng thương mại xây dựng và
công bố tỷ giá hàng ngày với biên độ chênh lệch cho phép (khoảng 5%) so với
tỷ giá chính thức.
Về mặt ngân sách Nhà nước, chính sách một tỷ giá hối đoái sát với thị
trường khiến cho việc tính toán thu chi Ngân sách Nhà nước phản ánh trung
thực và chính xác hơn, không bị bóp méo. Tỷ giá đó góp phần làm cho công tác
kế hoạch hoá vay nợ và trả nợ nước ngoài từ ngân sách Nhà nước thuận lợi hơn
và có cơ sở vững chắc hơn.
8
* Mặc dù có những thành công rất đáng kể trong lĩnh vực tỷ giá và quản
lý ngoại tệ, nhưng vẫn còn một số hạn chế đã làm ảnh hưởng không tốt đến
quản lý, điều hành ngân sách, đó là
- Nguồn ngoại tệ không được quản lý chặt chẽ, còn bị buông lỏng đã
khiến cho lực lượng ngoại tệ của Nhà nước tăng chậm và chưa tương xứng với
mức độ tăng của cán cân thương mại, một cơ sở của sự ổn định thu chi ngân
sách Nhà nước là quĩ ngoại tệ chưa được tăng cường.
- Vì tỷ giá hối đoái chính thức theo sát tỷ giá thị trường nếu không ổn
định thì không những ngân sách bị động mà việc tính toán thu chi Ngân sách
bằng ngoại tệ theo không kịp thời dẫn tới không sát với thực tế thị trường, điều
hành Ngân sách Nhà nước không tránh khỏi lúng túng, nhất là trường hợp bị
thiếu hụt khi trả nợ đến hạn đòi phải giải quyết.
1.2: Thực trạng quan hệ tỷ giá và nợ nước ngoài
Tỷ giá có mối quan hệ hữu cơ với nợ nước ngoài và công tác quản lý nợ.
Trước năm 1979, Việt Nam có sử dụng 20tỷ Yên Nhật tương đương 92 triệu
USD (tỷ giá 216 Yên = 1USD). Ngày 6/11/1992 chính phủ Nhật mở lại tín dụng
với Việt Nam và cho Việt Nam vay 20 tỷ Yên, tương đương 159 triệu USD (tỷ
giá 126 Yên= 1USD). Ngoài ra, vào thời điểm 1987 trở về trước còn có các
khoản vay các công ty của Nhật 20 tỷ Yên, tương đương 125 triệu USD ( tỷ giá
160 Yên= 1USD). Đầu năm 1995, đồng Yên lên giá, 1USD chỉ còn 90 Yên là
như vậy, xét về góc độ tỷ giá thì trong thời gian qua sự tăng giá của đồng Yên
Nhật, đã làm tăng thêm gánh nặng nợ gốc qui ra USD, làm thiệt thòi cho người
đi vay.
Tương tự như tình hình trên, việc sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp
ở nước ta liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó tỷ giá có tác động mạnh đến khả
năng thanh toán của các doanh nghiệp. Trong các năm 1989-1990 có 81 doanh
nghiệp vay nợ nước ngoài theo phương thức tự vay tự trả với doanh số vay là
5722 triệu Yên là 10, 9 triệu USD, tỷ giá lúc này là 130 Yên=1USD, do đó
tổng vay nợ bằng đồng Yên quy ra USD là 44 triệu USD. Đến năm 1995, do
chưa trả được nợ mà đồng yên lại tăng giá, nên nợ gốc vay tăng từ 44 triệu USD
9
lên 58 triệu USD (chưa tính đến yếu tố lãi suất tiền vay và tỷ giá giữa đồng Việt
nam và USD). Do tổng hợp nhiều yếu tố, rong đó có yếu tố về tỷ giá, nên đại
bộ phận trong số 81 doanh nghiệp vay vốn theo phương thức này đều bị sức ép
của cả hai loại tỷ giá.
- Tỷ giá giữa Yên và USD (đại bộ phận doanh số vay của các doanh
nghiệp kể trên là vay đồng Yên cuả các Công ty Nhật trong khi đó đồng Yên
tăng giá).
- Tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD (trong khi đó đồng Việt Nam bị
giảm giá).
Sự biến động của tỷ giá cùng các với yếu tố ngoại hối, nhưng nó có ý
nghĩa đặc biệt riêng của nó đối với việc huy động vốn, thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, thu chi ngân sách nhà nước, ổn định kinh tế và xã hội.
Ngược lại, vực nợ nước ngoài nếu không quản lý tốt và không sử dụng có hiệu
quả sẽ trở thành gánh năngk đối với nền kinh tế hiện tại và tương lai, có khi còn
ảnh hưởng đến nền độc lập và chủ quyền quốc gia.
Về vay nợ chính phủ phải có quy chế chặt chẽ quy định được vay về trách
nhệm, nghĩa vụ và quyền hạn của các pháp nhân kinh tế và pháp nhân công
quyền trước các khỏan vay và khỏan trả nợ. Hiện nay chúng ta có qui định Nhà
nước vay Nhà nước trả, doanh nghiệp vay doanh nghiệp trả, Nhà nước không
gánh hộ nợ doanh nghiệp.
Thiếu vốn phải vay, nhưng không phải ai cho vay với điều kiện nào cũng
chấp nhận cả. Phải thấy rằng, nếu tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam hạ, đồng
ngoại tệ tăng, thì khoản trả nợ của Ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp sẽ
phải tăng, nhưng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ lại có lợi, đó là một bài toán
khó, phải tính xem lợi ích do xuất khẩu mang lại cho phát triển kinh tế có bù lại
được thiệt hại của số tiền Ngân sách Nhà nước và doanh nghiệp phải trả nợ cao
hơn không?
Vì lẽ đó, chúng ta phải tỉnh táo đàm phán với các chủ nợ khi vay, không
thể chấp nhận bất cứ điều kiện nào và không thể không nghĩ đến việc trả giá,
đặc biệt phải chú trọng đến các vấn đề chính trị của các khoản vay. Phải thấy
10
được rằng các chủ nợ cho vay là để lấy lãi chứ không phải làm việc nghĩa. Vấn
đề là ơe chỗ làm thế nào để giải quyết hài hoà giữa lợi ích của bên cho vay và
bên vay. Việc quảnlý nợ khônghcỉ quy định trách nhệm mà còn phải luôn chú ý
tới hiệu quả sử dụng khoản vay. Vì vậy quản lý đầu tư sử dụng các khoản vay
cho các công trình, mục tiêu là một việc có tầm quan trọng đặc biệt. Các cơ
quan tài chính và ngân hàng phải đặc biệt chú ý tới vấn đề này-vay cho mục tiêu
nào được quản lý theo mục tiêu đó.
Về viện trợ: viện trợ không hoàn lại không nhiều, nhưng cũng phải được
quản lý chặt chẽ. Những khoản viện trợ cuả nước ngoài cho chính phủ và các
cấp chính quyền phải được đưa vào ngân sách nhà nước để cân đối và sử dụng,
không hình thành quỹ riêng. Tuy các khoản này ngân sách không phải trả lại
nhưng là một nguồn khá quan trọng góp phần giải quyết các vấn đè của đất
nước.
Những khoản tài trợ của các tổ chức quốc tế và cá nhân cho các dự án
ngoài ngân sách và các tổ chức xã hội cũng phải được chuyển vào ngân sách để
quản lý và chỉ cấp phát bằng tiền Việt nam theo tỷ giá chính thức ở thời điểm sử
dụng, không cấp phát bằng ngoại tệ.
Để đáp ứng yêu cầu trên, chính phủ cần thành lập một tổ chức trực tiếp
quản lý nợ, viện trợ. Cơ quan này không những nắm các khoản nợ, viện trợ, tài
trợ của chính phủ, các cấp chính quyền, mà cả các khoản nợ của các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm thực hiện yêu cầu quản lý vĩ mô của
nhà nước trong điều kiện kinh tế mở. Chỉ xét riêng trong cán cân vay lãi, cán
cân thanh toán quốc tế, thì không phải chỉ có nợ chính phủ mới nằm trong đó
mà ngay cả nợ của các doanh nghiệp tư nhân các của nước cũng phải đưa vào.
Bởi vì, vốn đưa vào dù ai sử dụng thì vẫn là cho cả nền kinh tế và khi trả, dù ai
trả cũng phải lấy một phần GDP để trả nợ mà việc đó liên quan đến lợi ích quốc
gia, trực tiếp tác dộng đến sự cân bằng của cán cân thanh toán. là quốc gia có số
nợ nước ngoài lớn nếu so với GDP, trong tương lai còn phải vay và đồng thời
phải trả nợ đến hạn vì vậy với việc hình thành chiến lược vay và trả nợ có ý
nghĩa chiến lược to lớn.
11
1.3 Thực trạng tác động cuả tỷ giá đến lãi suất và trái phiếu chính phủ.
Tỷ giá ngoại hối có liên quan chặt chẽ đến lãi suất và có tác dụng điều
chỉnh lãi suất. Trong nền kinh tế thị trường khi đồng nội tệ mất giá khối lượng
nội tệ cung ứng ngoài thị trường lớn đòi hỏi phải điều chỉnh tăng lãi suất, trong
trường hợp này làm tăng chi ngân sách về thanh toán lãi suất huy động nội tệ.
Khi đồng nội tệ lên giá nhà nước phải điều chỉnh giảm mức lãi suất, điều này sẽ
giảm chi ngân sách về thanh toán lãi suất huy động nội tệ, nếu không điều chỉnh
mức lãi suất thì những nhà sản xuất kihn doanh sẽ bán ngoại tệ cho ngân hàng
lấy nội tệ gửi vào ngân hàng hoặc mua trái phiếu chính phủ để hưởng lãi suất
cao. Điều này sẽ tác động xấu đến sản xuất - kinh doanh trong khi đó ngân sách
phải tiếp tụcthanh toán lãi suất về huy động tiền gửi. Kinh nghiệm của một số
nước Châu Á (như Malaixia, Thái lan, Indonexia) cho thấy việc sử lý hài hoà
phối hợp điều hành lãi suất và tỷ giá ngoại hối đã làm cho tỷ giá giữ được biên
độ ổn định và tiền tệ không có biến động mạnh.
Do đồng USD mất giá ở mức cao, nên hiện nay Mỹ đang đẩy mạnh xu
hướng nâng cao lãi suất. Việc làm này sẽ làm tăng lãi suất tiền vay bằng ngoại tệ
USD, và do đó sẽ tác động trực tiếp đến các khoản vay nợ của Việt Nam. Với
diễn biến này đòi hỏi chúng ta cần có sách lược chọn đồng tiền với mức lãi suất
thích hợp, nhằm đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay đạt hiệu quả.
Tóm lại: từ những vấn đề phân tích trên đây và thực trạng Việt Nam cho
thấy, tình hình taì chính quốc gia (đặc biệt là ngân sách nhà nước) và chế độ
ngoại tệ, tỷ giá có quan hệ biện chứng qua lại hết sức chặt chẽ, một mặt tình
hình tài chính (mà biểu hiện tập trung là ngân sách nhà nước) là một nhân tố
hàng đầu quyết định đến sự lựa chọn tỷ giá, phương án điều chỉnh tỷ giá, mặt
khác chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá cũng có ảnh hưởng hết sức mạnh mẽ,
toàn diện đến quản lý. Nền tài chính quốc gia thông qua nhiều kênh, dưới nhiều
hình thức và góc độ khác nhau, chính vì vậy khi đặt vấn đề lựa cọn chính sách,
phương án điều chỉnh tỷ giá sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu như không đề cập,
phân tích thực trạng tài chính hiện hành của quốc gia.
12
1.4 Tỷ giá hối đoái đối với điều chỉnh hoạt động kinh tế đối ngoại.
Các nước đang phát triển thường thiết ké chính sách tỷ giá hối đoái nhằm
duy trì sức cạnh tranh quốc tế ở mức phù hợp với vị thế cán cân thanh toán quốc
tế lâu bền. Bằng cách tăng giá các hàng thương mại hoá được so với các hàng
hoá không thương mại hoá được; sự phá giá đồng thời chuyển dịch cầu tổng thể
có lợi cho các cho các hàng hoá không thương mại hoá được, và cung tổng thể
có lợi cho các hàng hoá thương mại hoá được, và do đó giảm bội dư cầu đối với
hàng hoá thương mại hoá được (tức là cải thiện được vị thế của cán cân vãng
lai). Ngoài tác dộng của chính sách chuyển đổi chi tiêu, phá giá cũng giảm cầu
tổng thể thông qua ảnh hưởng của khối lượng tài sản, một sự tăng giá nội địa sẽ
làm cho sự phá giá đồng tiền nội địa tháp hơn giá trị thực của tài sản tài chính và
giảm hấp thụ.
Do vai trò cốt yếu của tỷ giá hối đoái đói với việc duy trì sức cạnh tranh
đối với bên ngoài tỷ giá có thể làm thay đổi vượt ra khỏi điểm cân bằng của nó.
Bởi vì điểm cân bằng này được xác địng nội sinh, chính sách tỷ giá hối đoái cần
lưu ý đến các tác động của các cơn sốc khác nhau lên điểm cân bằng của tỷ giá
thực. Phần này đề cập đến các tiếp cận khác nhau trong việc xác định điểm cân
bằng tỷ giá thực và nghiên cứu tác dộng của các cơn sốc bên trong và bên
ngoaig lên điểm cân bằng đó, sau đó sẽ tập trung vào chính sách cụ thể nhằm
duy trì sức cạnh tranh trong quá trình điều chỉnh.
Xác định tỷ giá hối đoái cân bằng:
Nói chung có hai tiếp cận để xác định tỷ giá hối đoái thực "cân bằng".
Tiếp cận đơn giản và phổ biến nhất là dựa vào khái niệm tỷ giá theo sức mua so
sánh. Nguyên lý trung tâm của tỷ giá so sánh sức mua là tỷ thực cân bằng tỷ lệ
với các mức giá tương đối giữa một nước với đối tác ngoại thương của mình,
tức là đối với sức mua so sánh giữa các đồng tiền các quốc gia. Như vậy tỷ giá
sức mua so sánh được coi là chỉ số thích hợp cho cân bằng tỷ giá giưã các đồng
tiền với tỷ lệ lạm phát quy định tỷ lệ thay đổi của tỷ giá danh nghĩa theo thời
gian. Việc áp dụng tỷ giá so sánh sức mua bao gồm việc sử dụng tỷ giá hối đoái
hiện hữu để tính mặt bằng giá tương đối theo các đại lượng tiền tệ thông dụng.
13
Bất cứ sự sai lệch nào của tỷ giá thực so với giá trị gốc của nó sẽ được coi là dấu
hiệu tỷ giá đã đi lệch ra khỏi giá trị tỷ giá so sánh sức mua cân bằng.
Tiếp cận khác, có sức hấp dẫn hơn là định nghĩa tỷ giá hối đoái thực như
là giá so sánh tương đối giữa hàng hoá mậu dịch và hàng hoá không mậu dịch
hoá được, nó đưa ra thước đo các động lực quyết định sự phân phối nguồn lực
giữa hai khu vực trọng yếu này của nền kinh tế: nếu giá nội địa của hàng hoá
thương mại hoa so với hàng hoá không thương mại hoá được thì nguồn lực sẽ
được phân phối lại sang khu vực hàng hoá thương mại hoá và cán cân ngoại
thương sẽ được cải thiện. Theo nghĩa đó, thì điểm cân bằng của tỷ giá thực sẽ
tương ứng với giá so sánh giữa hàng hoá thương mại hoá và hàng hoá không
thương mại hoá đem lại đồng thời sự cân bằng nội và cân bằng ngoại. Cân bằng
nội có nghĩa là thị trường hàng hoá không thương mại hoá được thanh toán liên
tục, cân bằng ngoại có nghĩa là thâm hụt cán cân vãng lai được tài trợ một cách
bền vững từ luồng vốn nước ngoài vào.
Ngoài chỉ số giá thực tế thì vẫn còn có các vấn đề tiềm tànglên quan đến
biến động chỉ số và sức cạnh tranh với bên ngoài. Một số nghiên cứu gần đây
chỉ ra sự thay đổi chỉ số tỷ giá thực quan được có thể là biểu hiện của sự thay
đổi điểm cân bằng của tỷ giá thực do các loại cơn sốc trong nước và nước ngoài
gây ra (ví dụ: sự tác động cảu chênh lệch mức tăng năng suất, thay đổi điều kiện
ngoại thương, cải cách thuế quan, thay đổi trong điều hành ngân sách chính
phủ, sự tăng lên của lãi suất thực quốc tế) lên cân bằng của tỷ giá thực.
Chênh lệch về mức độ phát triển, tiến bộ trong công nghệ có tác động
quan trọng đến điểm cân bằng của tỷ giá thực, ví dụ: nếu năng suất lao động
tăng nhanh hơn trong khu vực hàng hoá thương mại hoá so với khu vực hàng
hoá không thương mại hoá, thì giá so sánh giữa hàng hoá không thương mại
hoá sẽ tăng do sự tăng đồng nhất của tiền lương trong cả hai khu vực. Với giá
hàng hoá thương mại hoá thị trường quốc tế quy định thì tỷ giá hối đoái thực cân
bằng sẽ giảm. vậy tỷ giá thực cân bằng ở các nước có tốc độ tăng năng suất thấp
các nước đang phát triển thường chịu các cơn sốc về điều kiện ngoại thương.
Giả sử điều kiện ngoại thương xấu đi vì sự giảm giá tương đối của hàng xuất
14
khẩu, sự xấu đi này tạo nên dư thừa cung đối với hàng hoá không thương mại
hoá và dư thừa cầu đối với hàng hoá thương mại hoá, làm cho cán cân vãng lai
xấu đi. Mất cân bằng cán cân vãng lai được điều chỉnh lại qua việc giảm giá
tương đối của hàng hoá không thương mại hoá-tức là tăng tỷ giá thực và dịch
chuyển cung nội địa từ hàng hoá không thương mại hoá sang hàng hoá xuất
nhập khẩu.
Phân tích về tác động của cải cách thuế nhập khẩu cho thấy: giảm thuế
nhập khẩu thường là tương đương với tăng tỷ giá thực cânbằng. về phương diện
định tính thì tác động của tự do hoá nhập khẩu cũng giống như việc cải thiện
điều kiện ngoại thương (do giảm giá xuất khẩu). Thuế nhập khẩu thấp hơn sẽ
giảm giá tương đối của hàng nhập khẩu, tạo nên sự dư thừa cầu đối với hàng
hoá này, và dư thừa cung đối với hàng hoá xuất khẩu. để đưa về cân bằng thì
giá tương đối của hàng hoá không thương mại hoá sẽ giảm. Như vậy phản ứng
đối với việc giảm thuế nhập khẩu là tỷ giá hối đoái thực sẽ tăng lên.
Tỷ giá thực cân bằng cũng bị tác động của các biện pháp ngân sách, ngay
cả khi thiếu hụt ngân sách không thay đổi thì sự thay đổi trong cơ cấu thu chi
ngân sách cũng làm cho tỷ giá thực cân bằng thay đổi. Ví dụ: nếu chính phủ cho
hướng thành phần chi tiêu sang hàng hoá thương mại hoá sẽ giảm và tỷ giá thực
sẽ tăng. Cũng như vậy, một sự thay đổi cơ cấu thuế sẽ tác dộng tới tỷ giá thực
cân bằng bằng cách gây nên sự dịch chuyển của hành vi đầu tư-tiết kiệm của nền
kinh tế. Về nguyên tắc, nhiều sự kết hợp của biện pháp ngân sách sẽ cho cùng
một kết quả cân bằng ngân sách tổng thể, nhưng với mỗi sự kết hợp sẽ cho một
tỷ giá thực cân bằng. Vì vậy điểm cân bằng của tỷ giá hối đoái thực không chỉ
định do vị thế ngân sách quy định, mà còn do cơ cấu chi và thu của chính phủ
quy định.
Một sự tăng lên lãi xuất quốc tế sẽ tác động đến điểm cân bằng của tỷ giá
hối đoái thực thông qua hai kênh: thứ nhất, dưới chế độ tỷ giá cố định thì lãi
xuất trong nước tăng lên để giữ được mức so sánh với lãi xuất quốc tế, do đó
làm giảm chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm. Một sự cải thiện cán cân vãng lai
như vậy sẽ gây nên việc giảm tỷ giá thực cân bằng. Thứ hai, phụ thuộc vào việc
15
nước đó là chủ nợ hay con nợ ròng, một sự cải thiện hoặc xấu đi phản ánh sự
thay đổi tương ứng cảu sự thay đổi vị thế chuyển giao các nhân tố thu nhập, tác
động này sẽ thúc đẩy thêm việc giảm tỷ giá thực cân bằng là không rõ ràng, nếu
một nước là con nợ lớn. Tác động của lãi xuất quốc tế cao hơn cũng phụ thuộc
vào phản ứng ngân sách của chính phủ. Nếu chính phủ làm trung hoà tác động
của ngân sách lên sự thay đổi lãi xuất bằng cách giảm chi tiêu hàng hoá thương
mại hoá, thì tỷ giá thực cân bằng sẽ có xu hướng giảm trong dài hạn. mặt khác,
tỷ giá thực cân bằng sẽ tăng nếu việc trả lãi xuất được tài trợ bằng cách tăng
thuế, hoặc nếu kèm theo việc giảm chi tiêu chính phủ đối với hàng hoá không
thương mại hoá.
Tỷ giá hối đoái thực, sức cạnh tranh quốc tế và lạm phát:
Trong khi tỷ giá thực có thể chênh lệch ra khỏi điểm cân bằng vì một số
các cơn sốc gây nên thì nguyên nhân chủ yếu của viêvj xấu đi sức cạnh tranh đối
với bên ngoài ở hầu hết các nước đang phát triển là tỷ lệ lạm phát nội địa cao
kèm theo việc duy trì chế độ tỷ giá tỷ giá danh nghĩa cố định. Các tiếp cận để
ngăn ngừa sự xấu đi của sức cạnh tranh quốc tế là thực hiện quy tắc tỷ giá thực.
Như vậy quy tắc tỷ giá có thể ngăn ngừa được sự xuất hiện mất cân đối
lớn và lâu dài của các giá cả tương đối và do đó tránh được mất cân bằng ngoại,
bằng cách cho tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh thường xuyên và theo liều
lượng tương đối nhỏ. Người ta lập luận rằng: tỷ giá hối đoái thực tế có thể giữ
được ở mức đúng đắn, không gây ra cái giá điều chỉnh phải trả cho nền kinh tế,
và do đó che lấp được vấn đề phá giá có thể nổi lên trên chiến trường chính trị.
Hơn thế nữa, người ta còn khẳng định quy tắc tỷ giá thực cung cấp một mức
cho dự đoán. bởi vì nó cung cấp cho những người tham gia thị trường thông tin
bổ ích về chiều hướng có thể xảy ra các giá tương đối và do đó tránh được các
quyết định sản xuất dựa trên các dự đoán mong đợi sai lệch.
Tuy vậy, việc chấp nhận quy tắc tỷ giá thực cũng gây ra một số vấn đề
như: xác định điểm cân bằng của tỷ giá thực là không dễ dàng về lý thuyết, chứ
chưa nói về mặt thực tiễn và một số khó khăn nghiêm trọng có thể phải tính đến
nếu đích tỷ gía đặt sai. Vì vậy, trong khi phát biểu quy tắc tỷ giá thực thf phải
16
cho phép có một độ sai số so với điểm cân bằng của tỷ giá thực do các cơn sốc
bên ngoài hoặc trong nước gây ra. Nếu cơn sốc là tạm thời, thì có thể kiên trì
quy tắc tỷ giá thực. Nếu cớn sốc là lâu dài thì sự sai biệt lớn của tỷ giá thực so
với điểm cân bằng có thể làm giảm sức cạnh tranh quốc tế.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy: các quy tắc tỷ giá thực có thể tạo nên
sự không an tâm, đối với hệ quả cân bằng vĩ mô, dù nó có tác động tốt về mặt
cân bằng ngoại. Việc thực hiện đích tỷ giá thực, tức là buộc phải theo đuổi đích
phần thực mà lại sử dụng các công cụ đại lượng danh nghĩa với giá cả nội địa.
Vì vậy các cơn sốc đối với lạm phát trong nước có thể mang tính chất lâu dài,
và trong một số trường hợp có thể dẫn đến lạm phát, về phía cạnh khác, trong
nền kinh tế nhỏ, cung tiền tệ có thể bị gia tăng do nguồn bên ngoài tăng lên, thì
một sự bùng nổ giá cũng có thể xảy ra ngay cả khi chính sách tín dụng không
bành chướng.
Chính sách hỗ trợ đối với các biến động của giá thông qua điều chỉnh tiền
tệ và tỷ giá sẽ tác động đến quá trình hình thành tiền lương trong nền kinh tế.
Theo chính sách đó thì người lao động sẽ không quan tâm nhiều đến tác động
lên công ăn việc làm của việc định ra tiền lương danh nghĩa cao hơn, vì các
công ty có đủ khả năngchuyển chi phí tiền lương cao hơn sang giá cao hơn, vì
vậy sự tăng lương sẽ phản ánh đầy đủ trong tiền lương và tăng giá cả tiếp tục
theo đó. Tác động lên tổng sản phẩm của các chính sách hỗ trợ tài chính và tỷ
giá hối đoái sẽ phụ thu vào nguồn gây nên biến động. Nếu cơn sốt cung thống
trị, thì biến động của tổng sản phẩm sẽ tăng lên do chỉ số hoá đầy đủ tỷ giá hối
đoái. Ngược lại, nếu cơn sốt cầu thóng trị thì các chính sách hỗ trợ sẽ làm ổn
định tổng sản phẩm.
Các nghiên cứu về hệ quả của quy tắc tỷ giá thực voà ổn định giá chỉ mới
bắt đầu gần đây và có ít. Ađam và Gros (1966) nghiên cứu vấn đề bằng cách sử
dụng một số mô hình phân tíc đơn giản với các giả thiết khác nhau liên quan đến
cơ cấu hàng hoá, tính cứng nhắc của giá lương, độ tự do lưu chuyển vốn. Họ
kết luận rằng: chính sách tiền tệ có thể mất khả năng kiểm soát lạm phát nếu đặt
tỷ giá danh nghĩa theo quy tắc tỷ giá thực và nếu sau đó lại tìm cách kiểm soát
17
lạm phát, thì sẽ mất khả năng kiểm soát diễn biễn kinh tế vĩ mô khác, họ cũng
lập luận rằng: nếu tỷ giá hối đoái thực nâng quá mức so với điểm cân bằng thì
lạm phát chắc chắn sẽ cao hơn.
Hoạt động của quy tắc tỷ giá thực và chính sách ngân sách liên quan chặt
chẽ với nhau Lizondc (1989) đưa ra lược đồ mối quan hệ giưã in tiền do thiếu
hụt ngân sách và tốc độ phá giá tỷ giá. Trong đó, giá trị cân bằng lâu bền của tỷ
giá thực là hàm không chỉ biến thực nêu trên mà còn của tỷ lệ lamj phát trong
nước. Đại lượng sau quyết định tổng thu được của chính phủ thông qua thuế lạm
phát, đếnlượt nó lại tác động lên giá trị tài sản của tư nhân và chi tiêu trong dài
hạn, và do đó lên điểm cân bằng của tỷ giá thực. Mỗi một đích tỷ giá thực gây
ra một tỷ lệ lạm phát nội địa về dài hạn, khi các điều kiện khác không thay đổi.
Bên cạnh đó cần lưu ý không phải tất cả các đích tỷ giá thực là khả thi và không
phải tất cả các quy tắc tỷ giá đều đưa nền kinh tế đến đích, ngay như nếu đích
đó là khả thi.
Kinh nghiệm các nước lạm phát cao đã làm tăng sự phản đối việc chấp
nhận các quy tắc tỷ giá thực. Nhiều nước trên đã trải qua tình trạng tỷ lệ lạm
phát cao trong thập kỷ trước mà đặc trưng "mặt bằng cao". Lạm phát nhảy từng
bước đến các thời kỳ lạm phát cao hơn nhưng lại tương đối ổn định. Trong một
số trường hợp thì bước nhảy như vậy liên quan đến phá giá từng đợt, tiếp theo
là "cố định" dựa vào các quy tắc tỷ giá so sánh sức mua. Trong các nỗ lực lớn
hơn, gần đây họ cố định tỷ giá danh nghĩa để cung cấp một mốc neo danh
nghĩa. Điều này cũng không kết luận rằng: gắn cố định dựa trên cơ sở tỷ giá so
sánh sức mua là gây nên lạm phát cao, nhưngnthực tiễn cho thấy nguy cơ ngày
càng cao.
Tuy vậy, cũng cần nhận thấy một số lợi thế của quy tắc tỷ giá thực, ví
dụ: tỷ giá thực sẽ không cho phép chênh lệch xa điểm cân bằng, vì vậy không
phải lo lắng trước sự mất ổn định của giá nội địa.
Tóm lại, một khi đích mục tiêu đặt ra đối với tỷ giá thực vẫn còn đúng,
thì tiềm năng gây lạm phát do sử dụng đích mục tiêu tỷ giá thực gây ra có thể
được kìm hãm bằng cách sử dụng các chính sách ngân sách và tiền tệ thắt chặt,
18
tiếp cận này sẽ ngăn ngừa sự xuất hiện biến động gây mất ổn định của giá cả,
ngay cả khi nếu tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh để duy trì sức cạnh tranh
quốc tế. Khi không biết chắc chắn giá trị cân bằng của tỷ giá thực thì không nên
quá chú trọng vào việc đặt ra đích mục tiêu tỷ giá thực, ngya cả khi nếu các
chính sách ngân sách và tiền tệ được sử dụng một cách thận trọng. Gánh nặng
của điều chỉnh ít nhất là một phần do các chính sách tài chính chịu, hơn là hoàn
toàn dồn cho điều chỉnh tỷ giá. Theo nghĩa đó thì cần phải chú ý rằng các chính
sách như vậy bản thân chúng có thể chịu tác động bởi chế độ tỷ giá hối đoái mà
chính phủ đưa ra.
Để phân tích tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế ta đưa ra khái
niệm khả năng cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh = ePo/P
Trong đó: Po: giá sản phẩm ngoài tính theo gía thi trường nước ngoài.
P: giá sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước tính theo đồng nội tệ.
e:tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước ngoài tính theo đồng nội địa.
Với P và Po không đổi khi E tăng, EPo sẽ tăng. Giá của sản phẩm nước
ngoài trở nên đắt tương đối so với giá của sản phẩm trong nước và ngược lại,
giá của sản phẩm trong nước trở nên rẻ, tương đối so với sản phẩm nước ngoài.
Sản phẩm trong nước do đó có khả năng cạnh tranh cao hơn xuất khẩu sẽ tăng
( X tăng ), nhập khẩu giảm đi (IMgiảm), điều này làm cho xuất khẩu ròng
(NX= X_IM) tăng lên. Vì AD=C+I+G+NV nên NX tăng lên làm cho AD dịch
phải, trên hình vẽ ta thấy sản lượng cân bằng Q tăng lên tỷ lệ thất nghiệp giảm.
AD'
P ASLR ASSR
AD
19
Q* Q
Như vậy sự thay đổi tỷ giá hối đoái danh nghĩa và do đó tỷ giá hối đoái
thực tế sẽ tác động đến cân bằng cán cân thương mại, do đó tác động đến sản
lượng, việc làm giá cả.
Hãy mở rộng tác động của tỷ giá hối đoái với cán cân thanh toán, ở đây
có mối quan hệ giữa lãi xuất và tỷ giá hối đoái.
Khi lãi suất tăng lên, đồng tiền nội địa trở nên có giá trị hơn, tỷ giá hối
đoái của đồng nội địa tăng lên, trong điều kiện tư bản vận động một cách tự do
thì tư bản nước ngoài sẽ tràn vào thị trường trong nước, giả định cán cân thương
mại là công bằng thì cán cân thanh toán là thặng dư.
Như vậy tỷ giá hối đoái là một biến cố rất quan trong, tác động đến sự
cân bằng của cán cân thương mại và cán cân thanh toán, do đó tác động đến sản
lượng, việc làm cũng như sự cân bằng của nền kinh tế nói chung. Chính vì vậy,
một số nước trên thế giới vẫn còn duy trì tỷ giá hối đoái cố định, còn phần lớn
các nước theo đuổi chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý nhằm giữ cho tỷ
giá hối đoái chỉ biến động trong một phạm vi nhất định, để ổn định và phát triển
nền kinh tế.
IV. Các chế độ tỷ giá hối đoái
Hiện nay, trên thế giới và đang tồn tại nhiều loại chế độ tỷ giá hối đoái
biến tướng từ hai hình thức cơ bản là cố định và thả nổi. Trong thế giới mà sự
phụ thuộc lẫn nhau càng tăng, việc lựa chọn một chế độ ngoại hối phù hợp với
bối cảnh quốc tế, điều kiện cụ thể từng bước và đáp ứng điều chỉnh kinh tế vĩ
mô, nhất là với các nước đang thực hiện chuyển đổi cơ chế thực sự là vấn đề
nan giải.
1. Tỷ giá hối đoái cố định bản vị vàng
Theo chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái được qui định căn cứ vào hàm
lượng vàng của các đồng tiền. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, khi
thương mại quốc tế tăng lên cùng với hoạt động đầu cơ, chế độ bản vị vàng này
không đáp ứng được nhu cầu phát triển và các nước thôi áp dụng từ năm 1971.
20