Một số vấn đề về thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng đầu tư & phát triển (nhđt&pt) cao bằng thực trạng và giải pháp

  • 67 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Đất Nước ta hiện nay đang trong tiến trình thực hiện công cuộc công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Mục tiêu của công nghiệp hoá và hiện đại
hoá là xây dựng đất nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự
phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao,
quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ
văn minh. Để thực hiện được công nghiệp hoá hiện đại hoá là trách nhiệm của
nhiều ngành kinh tế trong đó có ngành Ngân hàng.
Ngày nay ngành Ngân hàng được coi là ngành kinh tế huyết mạch, có tầm
quan trọng đặc biệt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, để thực hiện
tốt nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng và Nhà nước giao cho, một trong những vấn đề
cấp bách đặt ra với ngành ngân hàng là phải xây dựng được hệ thống đủ mạnh
trên tất cả các lĩnh vực: năng lực hoạch định, thực thi chính sách, năng lực điều
hành, quản lý, kinh doanh, trình độ công nghệ, kỹ thuật hiên đại thích ứng với
cơ chế thị trường. Nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi
sự luân chuyển vốn nhanh. Vì vậy, đi đôi với việc đổi mới về cơ chế tổ chức, về
nghiệp vụ ngành Ngân hàng đã tập trung cải tiến chế độ thanh toán không dùng
tiền mặt.
Là một nghiệp vụ đa dạng và phức tạp nên phương thức thanh toán không
dùng tiền mặt vẫn còn một số tồn tại cần quan tâm nghiên cứu để có những giải
pháp tốt đảm bảo sự an toàn và độ tin cậy cao mà vẫn không làm chậm tốc độ
thanh toán tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng.
Nhận thức được những vấn đề nêu trên và xuất phát từ tình hình thực tế
tại Ngân hàng đầu tư & phát triển (NHĐT&PT) Cao Bằng. Em mạnh dạn chọn
đề tài “Một số vấn đề về thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng đầu
tư & phát triển (NHĐT&PT) Cao Bằng - Thực trạng và giải pháp” .
1
Kết cấu của khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt.
Chương 2: Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại
Ngân hàng đầu tư & phát triển (NHĐT&PT) Cao Bằng
Chương 3: Các giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng thanh
toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng đầu tư & phát triển
(NHĐT&PT) Cao Bằng
Do đề tài rất rộng và phức tạp, trình độ của bản thân còn nhiều hạn chế,
việc thu thập tài liệu và thời gian nghiên cứu có hạn, do đó khoá luận không
tránh khỏi những hạn chế. Rất mong được sự chỉ bảo của thầy cô và ban giám
đốc Ngân hàng đầu tư & phát triển (NHĐT&PT) Cao Bằng, cùng độc giả quan
tâm giúp đỡ để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA THANH
TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1. Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt
Cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ có sự phân hoá xã hội gồm phân công
lao động và chuyên môn hoá sản xuất dẫn đến nhiều loại sản phẩm ra đời và từ
đó xuất hiện sự trao đổi hàng hoá.
Quá trình trao sản phẩm hàng hoá đã phát triển từ thấp đến cao ban đầu
còn lẻ tẻ hay còn gọi là trao đổi giản đơn -‘Vật đổi vật’. Giai đoạn này chưa xuất
hiện tiền tệ trong trao đổi. Khi sản xuất hàng hoá phát triển thì việc trao đổi
hàng hoá trở nên thường xuyên và rộng rãi hơn, hình thức trao đổi giản đơn- vật
đổi vật không còn phù hợp nữa. Để thuận tiện cho quá trình trao đổi, người ta đã
chọn ra một hàng hoá có tính phổ biến nhất làm vật ngang giá chung để có thể
trao đổi trực tiếp với một hàng hoá bất kỳ. Lúc đầu vật ngang giá chung được
chọn là một loại hàng hoá có giá trị cao được xã hội chấp nhận sau đó được cố
định ở một số kim loại quý hiếm đó là bạc và vàng và sau cùng là vàng. Vàng đã
trở thành tiền tệ trong trao đổi - tiền thực.
Tuy nhiên, qua thực tế nhiều năm người ta nhận thấy tiền bằng kim loại
có những hạn chế nhất định, đặc biệt là khi nền kinh tế phát triển mạnh thì tiền
bằng kim loại càng bộc lộ rõ hơn những hạn chế và khiếm khuyết của nó. Nếu
sử dụng tiền vàng thì nhà nước phải có một khối lượng vàng rất lớn dự trữ. Điều
này những nước có nền kinh tế kém phát triển không thể thực hiện được. Vì vậy
người ta đã tìm đến các vật chất khác để thay thế tiền vàng trong lưu thông đó là
Tiền giấy. Tiền giấy ra đời thay cho tiền vàng có ưu điểm là nhẹ nhàng khi vận
chuyển vì dễ thay đổi mệnh giá. Tiền giấy xuất hiện thích hợp cho nhu cầu trao
đổi, phục vụ thuận tiện có thể thực hiện đầy đủ các chức năng của tiền.
3
Cùng với sự phát triển của xã hội, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển
mạnh mẽ, lưu thông hàng hoá ngày càng được mở rộng về cả qui mô, phạm vi
lẫn tính thường xuyên, liên tục thì thanh toán bằng tiền mặt cũng dần dần không
đáp ứng được nhu cầu của thanh toán nữa, vì thanh toán bằng tiền mặt sẽ làm
cho khối lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên rất lớn. Từ đó rất khó khăn cho
quá trình điều hoà lưu thông tiền mặt. Khối lượng tiền mặt tăng lên sẽ gây sức
ép về mặt giá cả, đó là một trong những nguyên nhân gây nên lạm phát cao. Mặt
khác thanh toán bằng tiền mặt phải chi phí rất lớn cho việc in ấn, vận chuyển,
đóng gói, bảo quản, kiểm đếm, cất trữ... Bên cạnh đó chức năng phương tiện
thanh toán của tiền tệ lại cho phép tiền tệ vận động tách rời với sự vận động của
hàng hoá. Chính do chức năng này, cùng với sự phát triển không ngừng của nền
kinh tế một phương thức thanh toán tiến bộ hơn đã ra đời đó là phương thức
thanh toán không dùng tiền mặt với hình thức tiền ghi sổ. Trong đó, Ngân hàng
đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng.
Vậy thanh toán không dùng tiền mặt là cách thanh toán không có sự xuất
hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người
chi trả sang tài khoản của người thụ hưởng mở tại Ngân hàng hoặc là bằng cách
bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng.
Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời làm giảm được khối lượng tiền
mặt trong lưu thông, tiết giảm được chi phí trong khâu in ấn tiền, bảo quản, vận
chuyển tiền, giảm được chi phí lao động xã hội. Nâng cao hiệu quả thanh toán
trong nền kinh tế, góp phần tăng tốc độ luân chuyển vốn của xã hội, thúc đẩy
phát triển sản xuất lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ.
Ngày nay, hệ thống Ngân hàng phát triển mạnh, thanh toán dưới hình thức
ghi sổ ngày càng được mở rộng cả về qui mô và phạm vi, tạo khả năng cho công
tác thanh toán không dùng tiền mặt được phát triển mạnh mẽ.
2.Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
4
2.1.Thanh toán KDTM phục vụ cho sản xuất lưu thông hàng hoá
không ngừng phát triển
Mục tiêu của sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để bán - tiêu thụ.
Thông qua khâu tiêu thụ các doanh nghiệp sẽ thu hồi lại vốn để tiếp tục chu kì
sản xuất tiếp theo -T-H...SX....H’- T’, quá trình đó được thông qua khâu thanh
toán. Như vậy khâu thanh toán có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình tổ
chức sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Như đã đề cập ở phần trên, TTKDTM chiếm
tỷ trọng rất lớn trong tổng doanh số thanh toán tiền tệ của nền kinh tế nói chung
và của từng doanh nghiệp nói riêng. Do vậy nếu tổ chức tốt TTKDTM sẽ có tác
động to lớn đến việc thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá không ngừng phát
triển.
2.2.Góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, giảm chi phí lưu thông xã hội
Công tác thanh toán không dùng tiền mặt gắn liền với công tác kế hoạch
hoá lưu thông tiền tệ. Thực hiện tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt tức
là tăng nhanh tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong chu chuyển tiền tệ,
sẽ làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm được các chi phí cần thiết
phục vụ cho lưu thông tiền mặt, tác động trực tiếp đến thị trường giá cả, kiềm
chế lạm phát tiến tới ổn định tiền tệ.
Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tạo điều kiện để giảm chi phí
lưu thông tiền mặt, tiết kiệm lao động xã hội: việc mở rộng thanh toán không
dùng tiền mặt sẽ làm tăng khối lượng tiền ghi sổ và giảm khối lượng tiền mặt
trong lưu thông, từ đó sẽ tiết giảm được chi phí cho toàn xã hội nói chung và
cho ngành Ngân hàng nói riêng do tiết giảm được chi phí về in ấn tiền, kiểm
đếm, vận chuyển, bảo quản tiền.
2.3. Góp phần tăng nguồn vốn cho NHTM
Công tác thanh toán không dùng tiền mặt càng phát triển, càng mở rộng
thì nguồn vốn Ngân hàng huy động được từ số dư trên các tài khoản tiền gửi
thanh toán của các tổ chức kinh tế sẽ tăng lên, tăng nguồn vốn tín dụng của ngân
hàng. Đồng thời thông qua thanh toán không dùng tiền mặt, Ngân hàng nắm
5
được một cách chính xác, hợp lý tình hình thiếu vốn của các bên tham gia thanh
toán, để kịp thời cho vay, phát tiền vay đúng mục đích và có vật tư hàng hoá
đảm bảo.
2.4.Phục vụ việc chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của
NHNN
Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt góp phần thực hiện tốt chính
sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước: việc mở rộng hình thức thanh toán không
dùng tiền mặt sẽ giảm được khối lượng lớn tiền mặt trong lưu thông và làm tăng
khối lượng tiền ghi sổ, điều đó giúp cho Ngân hàng Trung ương có thể sử dụng
hữu hiệu các công cụ của chính sách tiền tệ.
Như vậy, thanh toán không dùng tiền mặt giữ một vai trò hết sức quan
trọng. Đứng trên giác độ của ngành Ngân hàng, nó phản ánh khá trung thực trình
độ quản lí, trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của Ngân hàng cũng như sự tín nhiệm
của khách hàng. Trong nội bộ một Ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt
không chỉ tác động đến nghiệp vụ thanh toán mà còn tác động tới các mặt
nghiệp vụ khác của Ngân hàng như nghiệp vụ tín dụng. Nếu làm tốt công tác
thanh toán không dùng tiền mặt thì sẽ thúc đẩy nghiệp vụ tín dụng phát triển và
ngược lại. Đi đôi với sự phát triển kỹ thuật tin học, ngày nay hoạt động Ngân
hàng hiện đại cũng chuyển hướng kinh doanh bằng cách mở rộng các dịch vụ
thay cho kinh doanh chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay là chủ yếu như
trước đây, trong đó dịch vụ thanh toán đóng vai trò trọng tâm và đặc biệt quan
trọng.
3. Quá trình phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt
Nam
Từ khi thành lập ngân hàng quốc gia( Tháng 5-1951) đến nay hoạt động
thanh toán luôn đóng vị trí, vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động của ngân
hàng để phục vụ yêu cầu luân chuyển vốn của nền kinh tế. Tuy nhiên ở mỗi giai
đoạn thì cách nhìn nhận và nội dung hoạt động của TTKDTM cũng có khác
nhau. Có thể phân hoạt động thanh toán thành 2 giai đoạn là hoạt động thanh
6
toán trong thời kì nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập
chung( từ 1989 về trước) và hoạt động thanh toán trong thời kì nền kinh tế nước
ta chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự chỉ đạo của nhà nước( từ
1990 đến nay).
3.1. Thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ nền kinh tế vận
hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung
Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, Ngân hàng luôn là
trung tâm thanh toán của nền kinh tế , Thanh toán không dùng tiền mặt chỉ được
mở rộng trong lĩnh vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nhằm tập trung
nguồn vốn phục vụ sản xuất, hướng theo kế hoạch của nhà nước đã đề ra.
Ở thời kỳ này mặc dù chưa hình thành hệ thống Ngân hàng hai cấp nhưng
vẫn có nhiều cải tiến về công tác TTKDTM nhằm nâng cao hiệu quả Thanh toán
không dùng tiền mặt, đáp ứng cho nhu cầu thanh toán vốn, chuyển vốn cho nền
kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập chung và đáp ứng chuyển tiền
phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ.
Tuy vậy TTKDTM ở thời kì này còn bộc lộ một số nhược điểm làm hạn
chế kết quả của hoạt động TTKDTM:
- TTKDTM chủ yếu tập chung phục vụ cho khu vực kinh tế quốc doanh,
tập thể, các cơ quan đoàn thể. TTKDTM chưa được sử dụng trong dân cư, từ đó
làm cho việc thanh toán trong dân cư diễn ra hoàn toàn dưới hình thức tiền mặt.
- Cơ chế thanh toán cứng nhắc với việc quy định các doanh nghiệp,
TCKT chỉ được mở tài khoản tại Ngân hàng nơi doanh nghiệp đóng trụ sở. Các
hình thức thanh toán mới chỉ tập chung vào một số hình thức truyền thống như:
Séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán liên hàng. Các hình thức thanh toán
hiện đại như: Thẻ thanh toán, thanh toán bù trừ vẫn chưa được áp dụng.
-Kỹ thuật thanh toán lạc hậu, chủ yếu làm bằng tay nên thanh toán chậm
trễ, sai sót nhiều gây mất lòng tin đối với những người tham gia sử dụng tiện ích
thanh toán.
Những tồn tại nêu trên cùng với việc Ngân hàng luôn khan hiếm tiền mặt
nên gây tâm lý cho khách hàng ngại Thanh toán không dùng tiền mặt, họ luôn
7
nắm giữ một lượng tiền rất lớn để sẵn sàng chi trả khi cần thiết. Tâm lý thích chi
tiêu tiền mặt của người Việt Nam cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại.
3.2. Thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ Ngân hàng hoạt
động theo cơ chế thị trường
Bước sang thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch
hoá tập trung sang cơ chế thị trường. điều này đã làm thay đổi hoàn toàn cơ chế
quản lý của nền kinh tế, trong đó ngành Ngân hàng đã chuyển từ hệ thống Ngân
hàng một cấp sang hệ thống Ngân hàng hai cấp.
- Cấp Ngân hàng nhà nước: có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và
Ngân hàng đồng thời đóng vai trò là Ngân hàng phát hành và Ngân hàng của các
Ngân hàng.
- Cấp NHTM (TCTD): Thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
Ngân hàng.
Đi đôi với việc đổi mới về mô hình tổ chức, các cơ chế chính sách, cơ chế
nghiệp vụ cũng được thay đổi trong đó có nghiệp vụ TTKDTM để phù hợp với
Ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Có thể nói TTKDTM ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã có sự chuyển
biến tích cực.
+ Trước hết về xây dựng cơ chế chính sách và cơ chế nghiệp vụ: Về phía
Chính phủ đã ban hành nghị định 91/CP (1990) và tiếp đến là nghị định 64/CP
(2001) để thay thế nghị định 91/CP về tổ chức hoạt động thanh toán trong nền
kinh tế. Riêng về séc chính phủ đã ban hành nghị định 30/CP để điều chỉnh công
cụ thanh toán séc ở Việt Nam sang năm 2003 chính phủ đã ban hành nghị định
159/CP để thay nghị định 30/CP. Về phía NHNN thì thống đốc đã ban hành
quyết định 22(1990) và sau đó là quyết định 226 (2002) để thay thế quyết định
22 về cơ chế TTKDTM ở Việt Nam.
Các văn bản của chính phủ và NHNN đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt
động thanh toán ở Việt Nam đồng thời cũng quy định rõ các hình thức thanh
toán áp dụng cho phù hợp với nền kinh tế thị trường đa thành phần.
8
+ Về công nghệ thanh toán thì đã có bước nhẩy vọt là chuyển từ kỹ thuật
thanh toán thủ công sang kỹ thuật thanh toán điện tử đặc biệt là khâu chuyển
tiền.
+ Về tổ chức bộ máy và cán bộ: Các NHTM là các tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán được sắp xếp lại theo từng hệ thống để xây dựng hệ thống thanh
toán của từng hệ thống, về tổ chức thanh toán liên Ngân hàng (thanh toán bù trừ
liên Ngân hàng và chuyển tiền điện tử liên Ngân hàng ). Về đội ngũ cán bộ được
bố trí đủ về số lượng và nâng cao trình độ nghiệp vụ thông qua các khoá đào tạo
lại đặc biệt là các lớp học chuyên đề về thanh toán, về tin học.
+ Về các hình thức thanh toán thì ngoài việc hoàn thiện các hình thức
truyền thống còn ban hành thêm thẻ thanh toán.
Với những cố gắng của các NHTM trong thời kỳ đổi mới đã làm cho hoạt
động của các NHTM nói chung và hoạt động thanh toán nói riêng có sự chuyển
biến đáng khích lệ. Đã đảm bảo được khâu thanh toán nhanh, chính xác, an toàn
tài sản nên khách hàng không còn phàn nàn về thanh toán chậm trễ, thiếu chính
xác như thời kỳ bao cấp. Riêng khâu thanh toán trong dân cư đang được triển
khai mạnh mẽ và thu được những kết quả bước đầu
II. QUI ĐỊNH CHUNG TRONG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT
1. Những quy định chung
Để đẩy mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt. Nhiều văn bản
pháp qui về lĩnh vực thanh toán đã được Chính phủ ban hành như Nghị định số
64/2001/NĐ-CP ngày 20/09/2001 về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều
quyết định, thông tư, chỉ thị mới như Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày
26/3/2002 thay thế cho Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21/02/1994 về ban hành
thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt. Các văn bản trên nhằm hoàn thiện dần
chế độ thanh toán không dùng tiền mặt cho phù hợp với yêu cầu đổi mới của nền
kinh tế, tạo điều kiện cho các Ngân hàng, tổ chức tín dụng triển khai nhiều thể
9
thức, hình thức thanh toán tiên tiến, từng bước hoà nhập với hệ thống thanh toán
theo thông lệ quốc tế.
Các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, đơn vị vũ trang, công dân
Việt Nam và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (gọi chung là
đơn vị cá nhân) được quyền lựa chọn Ngân hàng để mở tài khoản giao dịch và
thực hiện thanh toán. Việc mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng và thực hiện
thanh toán qua tài khoản được ghi bằng đồng Việt Nam. Trường hợp mở tài
khoản và thanh toán bằng ngoại tệ phải thực hiện theo qui chế quản lí ngoại hối
của Chính phủ Việt Nam ban hành.
Để mở tài khoản tiền gửi thanh toán các doanh nghiệp, cá nhân cần phải
gửi cho Ngân hàng nơi mở tài khoản những giấy tờ sau:
* Đối với khách hàng là các DN, tổ chức kinh tế:
- Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản ký tên và đóng dấu,
trong đó ghi rõ:
+ Tên đơn vị
+ Họ và tên chủ tài khoản
+ Địa chỉ giao dịch của đơn vị
+ Số, ngày tháng năm, nơi cấp giấy CMT nhân dân của chủ tài
khoản.
+ Tên Ngân hàng nơi mở tài khoản
- Bản đăng ký mẫu dấu và chữ ký để giao dịch với Ngân hàng nơi
mở tài khoản gồm:
+ Chữ ký của chủ tài khoản và của những người được uỷ quyền ký
thay chủ tài khoản trên các giấy tờ thanh toán giao dịch với Ngân hàng (chữ ký
thứ nhất).
+ Chữ ký của kế toán trưởng và của những người được uỷ quyền ký
thay kế toán trưởng (chữ ký thứ hai).
+ Mẫu dấu của đơn vị.
10
- Các văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của đơn vị như quyết định
thành lập đơn vị, giấy phép thành lập doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm thủ
trưởng đơn vị...(nếu là bản sao phải có chứng nhận của công chứng Nhà nước ).
* Đối với khách hàng là các cá nhân:
- Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản ký tên, trong đó ghi
rõ:
+ Họ và tên của chủ tài khoản
+ Địa chỉ giao dịch của chủ tài khoản
+ Số, ngày tháng năm và nơi cấp giấy CMT của chủ tài khoản.
+ Tên Ngân hàng nơi mở tài khoản.
- Bản đăng ký mẫu chữ ký của chủ tài khoản để giao dịch với Ngân
hàng nơi mở tài khoản. Đối với tài khoản đứng tên cá nhân không thực hiện việc
uỷ quyền người ký thay chủ tài khoản, tất cả các giấy tờ thanh toán giao dịch với
Ngân hàng đều phải do chủ tài khoản ký.
* Sử dụng tài khoản tiền gửi thanh toán
- Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản tiền gửi.
Trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi và tuỳ theo yêu cầu chi trả,
chủ tài khoản có thể thực hiện các khoản thanh toán qua Ngân hàng hoặc rút tiền
mặt ra để sử dụng.
- Chủ tài khoản chịu trách nhiệm về việc chi trả vượt quá số dư tài
khoản tiền gửi và chịu phạt theo qui định; chịu trách nhiệm về sai sót, lợi dụng
trên các giấy tờ thanh toán qua Ngân hàng của những người được chủ tài khoản
uỷ quyền ký thay.
- Chủ tài khoản phải tuân theo những qui định và hướng dẫn của
Ngân hàng phục vụ mình về việc lập các giấy tờ thanh toán, phương thức nộp,
lĩnh tiền ở Ngân hàng. Trên giấy tờ thanh toán, các chữ ký và dấu phải đúng
mẫu đã đăng ký tại Ngân hàng.
11
- Chủ tài khoản tự tổ chức hạch toán, theo dõi số dư tiền gửi ở NH.
Trong phạm vi 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được giấy báo Nợ, giấy báo Có
về các khoản giao dịch trên tài khoản tiền gửi, bản sao sổ tài khoản tiền gửi hoặc
giấy báo số dư tài khoản tiền gửi cuối tháng do Ngân hàng gửi đến, chủ tài
khoản phải đối chiếu với sổ sách của mình, nếu có chênh lệch thì báo ngay cho
Ngân hàng biết để cùng nhau đối chiếu, điều chỉnh lại số liệu cho khớp đúng.
2. Quy định về trách nhiệm thanh toán
a) Đối với người chi trả ( người mua ).
Phải mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng hoặc các tổ chức làm
dịch vụ thanh toán. Khi tiến hành thanh toán phải thực hiện thanh toán
thông qua tài khoản đã mở theo đúng chế độ quy định và phải trả phí
thanh toán theo quy định của ngân hàng và tổ chức làm dịch vụ thanh toán.
b) Đối với người thụ hưởng(người bán ).
Phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời và đúng
lượng gía trị mà người mua đã thanh toán đồng thời phải kiểm soát kỹ càng
các chứng từ phát sinh trong quá trình thanh toán.
3 . Đối với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán- Ngân hàng thương
mại
Là trung gian thanh toán và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho
khách hàng các NHTM phải có trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt động
thanh toán:
- Khi nhận được giấy đăng ký mở tài khoản của khách hàng, Ngân hàng
có trách nhiệm giải quyết việc mở tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trong
ngày làm việc. Sau khi đã chấp nhận việc mở tài khoản, Ngân hàng thông báo
cho khách hàng biết số hiệu tài khoản, ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản.
- Việc trích tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các khoản chi
trả phải có yêu cầu của chủ tài khoản, trừ trường hợp chủ tài khoản vi phạm kỷ
luật chi trả hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền được pháp luật quy
12
định buộc chủ tài khoản phải thanh toán, Ngân hàng được quyền trích tài khoản
tiền gửi của khách hàng để thực hiện việc thanh toán đó.
- Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách
hàng, cung cấp đầy đủ các loại chứng từ thích hợp với mỗi loại hình thanh toán,
đảm bảo lập đúng thủ tục quy định, dấu và các chữ ký trên giấy tờ thanh toán
đúng với mẫu đã đăng ký, số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng còn đủ để
thanh toán.
Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán nếu các giấy tờ thanh toán
không đủ các yêu cầu trên.
- Hạch toán các nghiệp vụ phát sinh theo yêu cầu của khách hàng một
cách chính xác, kịp thời, an toàn tài sản.
- Cuối ngày làm việc Ngân hàng có trách nhiệm gửi giấy báo Nợ, báo Có
cho khách hàng và cuối tháng gửi giấy báo số dư tài khoản tiền gửi cho chủ tài
khoản biết.
- Khi thực hiện các dịch vụ, Ngân hàng được thu phí theo qui định của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- Đảm bảo duy trì số dư trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước
để đáp ứng được cho tất cả các khoản thanh toán của khách hàng.
III. NỘI DUNG CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG
DÙNG TIỀN MẶT
Theo nghị định 64/CP của chính phủ và quyết định 226/2002/QĐ-
NHNN của thống đốc NHNN thì có 5 hình thức thanh toán được áp dụng
trong thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ là:
+ Hình thức thanh toán bằng séc.
+ Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm chi - Lệnh chi.
+ Hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu - Nhờ thu.
+ Hình thức thanh toán thư tín dụng.
+ Hình thức thanh toán thẻ Ngân hàng .
13
Mỗi hình thức có nội dung kinh tế và cách thức thanh toán khác nhau
1. Thanh toán bằng Séc
Séc là lệnh trả tiền vô diều kiện của người phát hành lập trên mẫu in
sẵn do NHNN Việt Nam quy định, yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán trích một số tiền từ tài khoản tiển gửi của mình để trả cho người thụ
hưởng có tên ghi trên séc hoặc trả cho người cầm séc.
Séc là công cụ lưu thông tín dụng được sử dụng rộng rãi( tổ chức và
các cá nhân) ở tất cả các nước trên thế giới, quy tắc sử dụng séc đã được
chuẩn hóa trên luật thương mại quốc gia và trên công ước quốc tế.
Nghị định 30/CP của Chính phủ ban hành về quy chế phát hành sử dụng
séc do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 09/05/1996 và tiếp đến là nghị định
159/CP quy định rõ ở Việt Nam được phép lưu hành loại séc vô danh và séc ký
danh, trong đó séc vô danh được chuyển nhượng tự do, còn séc ký danh được
phép chuyển nhượng thông qua thủ tục ký hậu chuyển nhượng. Trừ trường hợp
người phát hành séc đã ghi cụm từ “không được phép chuyển nhượng” hoặc trên
tờ séc ghi “không tiếp tục chuyển nhượng”. Nghị định 30/CP và nghị định
159/CP ra đời đã đánh dấu một bước chuyển biến có ý nghĩa kinh tế lớn trong
việc sử dụng séc ở Việt Nam. Theo Nghị định này, séc không còn là một công
cụ chuyển khoản đơn thuần mà còn phát huy được vai trò là công cụ lưu thông.
Séc được dùng để thanh toán trực tiếp tiền hàng hoá, dịch vụ giữa người
mua (người chi trả) và người bán (người thụ hưởng), nộp thuế trả nợ... hoặc để
rút tiền mặt tại các chi nhánh Ngân hàng. Tất cả khách hàng mở tài khoản tại
Ngân hàng đều có quyền sử dụng séc để thanh toán. Trong hình thức thanh toán
bằng séc, việc trả tiền do người trả tiền khởi xướng và kết thúc bằng việc ghi số
tiền trên tờ séc vào tài khoản của người nhận tiền.
 Thời hạn hiệu lực của séc là 30 ngày kể từ ngày chủ tài khoản phát
hành séc đến ngày người thụ hưởng nộp séc vào Ngân hàng (gồm cả ngày chủ
nhật và ngày lễ). Nếu ngày kết thúc của thời hạn là ngày chủ nhật, ngày lễ thì
thời hạn được lùi vào ngày làm việc tiếp theo sau ngày chủ nhật, ngày lễ đó.
Một tờ séc đủ điều kiện thanh toán là tờ séc, đảm bảo các yếu tố sau đây:
14
 - Tờ séc phải có đủ các yếu tố và nội dung quy định, không bị tẩy
xóa, sửa chữa, số tiền bằng chữ và bằng số phải khớp nhau.
 - Được nộp trong thời hạn hiệu lực thanh toán.
 - Không có lệnh đình chỉ thanh toán.
- Chữ ký và dấu (nếu có) của người phát hành séc phải khớp đúng với
mẫu đã đăng ký tại Ngân hàng.
- Không ký phát hành séc vượt quá thẩm quyền quy định tại văn bản ủy
quyền.
 - Tài khoản tiền gửi của Chủ tài khoản đủ số dư để thanh toán.
 - Các chữ ký chuyển nhượng (đối với séc ký danh) phải liên tục.
 Ở Việt Nam hiện nay, séc có nhiều loại nhưng séc dùng trong
TTKDTM gồm có séc chuyển khoản và séc bảo chi.
 1.1. Séc chuyển khoản
 Séc chuyển khoản là loại séc do người chi trả ký phát hành để trao
trực tiếp cho người cung cấp khi nhận hàng hoá, dịch vụ cung ứng. Để phân
biệt với các loại séc khác, khi viết séc chuyển khoản người người viết phải gạch
hai đường gạch song song chéo góc ở phía trên, bên phải hoặc ghi từ “chuyển
khoản’’ ở mặt trước của tờ séc.
 Séc chuyển khoản được dùng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài
khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng. Nếu thanh toán khác chi nhánh Ngân
hàng thì các chi nhánh Ngân hàng đó phải tham gia thanh toán bù trừ trên địa
bàn tỉnh, thành phố.
 Về nguyên tắc, séc thanh toán chuyển khoản phải được phát hành
trên cơ sở số dư tài khoản tiền gửi hiện có tại Ngân hàng. Trường hợp có nhiều
tờ séc nộp vào Ngân hàng tại cùng một thời điểm nhưng số dư tài khoản tiền gửi
không đủ để thanh toán tất cả những tờ séc đó thì Ngân hàng phải ưu tiên thanh
toán theo thứ tự các tờ séc phát hành trước sẽ được thanh toán trước. Nếu tài
khoản tiền gửi không đủ tiền để thanh toán (séc phát hành quá số dư tài khoản
tiền gửi), séc sẽ bị Ngân hàng từ chối thanh toán, chủ tài khoản phải chịu trách
15
nhiệm thanh toán tờ séc đó và những khoản tiền phạt chi phí phát sinh liên quan
đến việc khiếu nại và khởi kiện.
 Phạm vi thanh toán séc chuyển khảon gồm thanh toán cùng một tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán (hai bên chi trả và thụ hưởng cùng mở tài
khoản tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán) và thanh toán khác tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán (hai bên chi trả và thụ hưởng mở tài khoản ở hai tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác nhau có tham gia thanh toán bù trừ).
 Để đảm bảo quy định người chi trả phải có đủ tiền để trả cho người
thụ hưởng thì khi kế toán séc chuyển khoản phải thực hiện nguyên tắc ghi Nợ
trước, ghi có sau.
 - Quy trình thanh toán Séc chuyển khoản.
 + Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại cùng một chi
nhánh Ngân hàng.
(1a)
Người chi trả Người thụ
 (ký phát hưởng séc
séc)
(1b)
(2) (3)
Tổ chức cung
ứng dịch vụ
Chú thích: thanh toán
1a- Người chi trả tiền phát hành séc và giao cho người thụ hưởng séc.
1b- Người thụ hưởng séc trao hàng cho người chi trả.
2 - Người thụ hưởng tiếp nhận séc, sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ
của tờ séc, lập 3 liên bảng lê nộp séc vào tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
xin thanh toán.
3- Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán kiểm tra tờ séc, nếu đủ điều kiện
thì tiến hành trích tài khoản tiền gửi của người trả tiền và báo có cho người thụ
hưởng séc.
+ Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại hai Ngân hàng khác
nhau có tham gia thanh toán bù trừ:
16
Người chi 1
Người thụ
trả
(kí phát séc) hưởng séc

2b  2 5

a
3

NH phục vụ 4 NH phục vụ người
người chi trả thụ hưởng
Chú thích:
1- Người trả tiền phát hành séc và giao cho người thụ hưởng.
2a- Người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp lệ của tờ séc lập 3 liên
bảng kê nộp séc cùng các tờ séc nộp vào Ngân hàng phục vụ mình xin thanh
toán.
2b - Cũng có thể người thụ hưởng nộp séc trực tiếp vào tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán phục vụ người chi trả.
3 - Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán chuyển séc và bảng kê nộp
séc sang tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (Ngân hàng ) phục vụ người chi
trả trong phiên giao hoán chứng từ thanh toán bù trừ.
4- Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp
lệ của tờ séc và số dư tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản sẽ tiến hành trích tài
khoản của người trả tiền để chuyển sang ngân hàng phục vụ bên bán qua TTBT.
5- Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng nhận chuyển tiền qua TTBT từ
Ngân hàng phục vụ người trả tiền sẽ hạch toán thu tiền cho người bán và gửi báo
có cho người bán.
1.2. Séc bảo chi
Trong quá trình thanh toán, nếu các chủ thể thanh toán không tín nhiệm
lẫn nhau về khả năng chi trả, hoặc người trả tiền đã có Quyết định xử phạt của
Ngân hàng về việc phát hành séc chuyển khoản quá số dư thì người thụ hưởng
có quyền yêu cầu người trả tiền sử dụng séc bảo chi để thanh toán.
17
Séc bảo chi là một loại séc thanh toán được Ngân hàng đảm bảo khả năng
chi trả bằng cách trích số tiền trên séc từ tài khoản tiền gửi của người trả tiền
sang tài khoản riêng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho tờ séc đó, hoặc bảo
chi séc không cần lưu kí.
Séc bảo chi có phạm vi thanh toán rộng hơn séc chuyển khoản. Ngoài
việc được sử dụng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một chi
nhánh Ngân hàng, hoặc hai chi nhánh Ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ
trên địa bàn tỉnh, thành phố, séc bảo chi còn được sử dụng để thanh toán giữa
khách hàng mở TK tại các chi nhánh Ngân hàng trong cùng hệ thống trong
phạm vi cả nước.
Do séc đã được Ngân hàng đảm bảo chi trả nên khi khách hàng nộp séc
vào Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng thì Ngân hàng này sau khi kiểm tra tính
hợp pháp, hợp lệ của tờ séc có thể ghi Có ngay vào tài khoản của người thụ
hưởng. Nếu do sơ suất khi kiểm tra, sau này phát hiện tờ séc không hợp lệ thì
Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng phải chịu trách nhiệm.
Quy trình thanh toán séc bảo chi.
+ Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại cùng một chi nhánh
Ngân hàng.
Người trả 2 Người thụ
tiền hưởng
1 3 

Ngân hàng
Chú thích:
1- Người trả tiền làm thủ tục bảo chi séc
- Người trả tiền lập 2 liên giấy “yêu cầu bảo chi séc kèm tờ séc đã ghi đầy
đủ các yếu tố nộp vào Ngân hàng để xin bảo chi séc.
18
- Ngân hàng đối chiếu giấy “yêu cầu bảo chi séc” và tờ séc, số dư tài
khoản của người phát hành, nếu đủ điều kiện thì tiến hành trích tiền từ tài khoản
gửi chuyển vào tài khoản đảm bảo thanh toán séc. Sau đó đóng dấu “bảo chi”
lên tờ séc và giao séc cho khách hàng.
2- Người trả tiền giao séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hóa, dịch
vụ.
3- Người thụ hưởng lập bảng kê kèm các tờ séc nộp vào Ngân hàng xin
thanh toán.
4- Ngân hàng kiểm tra ký hiệu mật trên séc và các yếu tố cần thiết khác
tiến hành ghi Có vào tài khoản tiền gửi của người thụ hưởng và báo Có cho họ.
2. Thanh toán bằng ủy nhiệm chi - Lệnh chi
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn
của Ngân hàng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi)
trích tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng.
- Điều kiện áp dụng:
Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản tiền hàng, dịch vụ hoặc
chuyển tiền trong cùng hệ thống hay khác hệ thống Ngân hàng.
Trong hình thức thanh toán ủy nhiệm chi, người trả tiền chủ động khởi
xướng việc thanh toán bằng cách lập 4 liên ủy nhiệm chi nộp vào Ngân hàng
phục vụ mình để trích tài khoản tiền gửi của mình chuyển trả cho bên phụ
hưởng. Trên ủy nhiệm chi, bên trả tiền phải ghi đầy đủ, chính xác các yếu tố
khớp đúng với nội dung giữ các liên ủy nhiệm chi và ký tên đóng dấu lên tất cả
các liên ủy nhiệm chi (phần chữ kí chủ tài khoản và kế toán trưởng).
Khi nhận được ủy nhiệm chi, trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng
phục vụ người trả tiền phải hoàn tất lệnh chi hoặc từ chối thực hiện nếu tài
khoản của khách hàng không đủ tiền hoặc lệnh chi lập không hợp lệ.
- Quy trình thanh toán:
19
+Uỷ nhiệm chi thanh toán cùng Ngân hàng.
Người chi trả Người thụ hưởng
(người mua) 1
(người bán)
2
3
4
Ngân hàng
Chú thích:
1 - Người mua gửi lệnh chi cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán
2 - Người bán giao hàng cho người mua
3 - Ngân hàng gửi báo nợ cho người mua
4 - Ngân hàng gửi báo có cho người bán.
+ Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở TK ở hai Ngân hàng khác
nhau, ủy nhiệm chi (UNC) trở thành phương tiện chuyển tiền.
Người thụ hưởng
Người trả tiền
1a (người bán)
(người mua)
1b 2a 3
NH phục vụ người NH phục vụ người
2b
trả tiền thụ hưởng
Chú thích:
1a – Người bán giao hàng cho người mua
1b- Người trả tiền lập 4 liên UNC nộp vào Ngân hàng phục vụ mình để
trích TK của mình trả tiền cho người thụ hưởng.
20