Một số vấn đề về kế toán cho vay tổ chức cá nhân trong nước tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn từ liêm

  • 58 trang
  • file .doc
LỜI NÓI ĐẦU
Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế Việt Nam chuyển dần
từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định
hướng Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) có sự điều tiết của Nhà nước. Đây là một
bước ngoặt có tính chất quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế nước ta.
Đường lối đổi mới cơ chế quản lí kinh tế và chính sách phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần cuả Đảng và Nhà nước đã tạo tiền đề khách quan cho sự
khôi phục và phát triển sôi động của các thành phần kinh tế. Trong khu vực tổ
chức cá nhân trong nước, với những ưu thế, tiềm năng sẵn có của riêng mình,
các thành phần kinh tế tổ chức cá nhân trong nước đã nhanh chóng thích nghi
với cơ chế thị trường, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng không thể
thiếu được của mình đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Tuy nhiên bất kỳ một doanh nghiệp nào (dù là quốc doanh hay tổ chức cá
nhân trong nước) muốn tiến hành sản xuất kinh doanh để tồn tại và phát triển
đều cần phải có vốn. Các thanh phần kinh tế tổ chức cá nhân trong nước phần
lớn mới được hình thành, mặc dù các thành phần kinh tế này có rất nhiều tiềm
năng để phát triển nhưng quy mô còn nhỏ bé và không đủ vốn để tự đối đầu trực
tiếp với thương trường, phát huy tối đa hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trong khu
vực kinh tế này.
Trong bối cảnh đổi mới chung của đất nước, Ngân hàng thương mại với
vai trò trung gian tài chính quan trọng của xã hội đã từng bước cải tổ hoạt động
của mình, hoà nhập với có chế mới, mở rộng cho vay đối với các thành phần
kinh tế tổ chức cá nhân trong nước thông qua hoạt động tín dụng. Đây không chỉ
là vấn đề thực thi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước còn là phương
hướng phát triển tín dụng của Ngân hàng trong điều kiện hiện nay. Bởi chứa
đựng trong nó những nội tại tiềm năng to lớn, một khi nó được quan tâm đúng
mức sẽ phát triển nhanh chóng. Chính nó trong tương lai sẽ là thị trường tín
dụng vững chắc và rộng lớn của các Ngân hàng.
1
Gắn liền với hoạt động cho vay đối với thành phần kinh tế tổ chức cá
nhân trong nước là công tác kế toán cho vay tổ chức cá nhân trong nước. Nhờ
nghiệp vụ kế toán cho vay Ngân hàng sẽ quản lý tốt tài sản tiền vốn của Ngân
hàng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Đồng thời cũng quản lý tốt tài sản, tiền
vốn của khách hàng thông qua những số liệu ghi chép phản ánh kịp thời, chính
xác.
Công tác kế toán cho vay liên quan đến nhiều hoạt động sản xuất kinh
doanh của các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc
doanh. Đặc biệt là kế toán cho vay tổ chức cá nhân trong nước với thao tác
nghiệp vụ chính xác, đầy đủ, nhanh gọn góp phần thực hiện nhanh chóng công
tác giải ngân, theo dõi chặt chẽ quá trình sử dụng vốn và tính toán được hiệu quả
công tác tín dụng của Ngân hàng. Đồng thời đáp ứng đầy đủ nhu cầu thiếu vốn
đầu tư cho sản xuất kinh doanh của thành phần kinh tế tổ chức cá nhân trong
nước tạo một thế phát triển mới cho thành phần kinh tế này trong công cuộc phát
triển chung của cả đất nước.
Xuất phát từ những lí do trên đây và trong quá trình thực tập, tìm hiểu
nghiên cứu tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Từ Liêm tôi đã
mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số vấn đề về kế toán cho vay tổ chức cá nhân
trong nước tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Từ Liêm”
Phạm vi đề tài chủ yếu tìm hiểu tình hình kế toán cho vay tổ chức cá nhân
trong nước tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Từ Liêm. Từ
thực tế đó tôi cố gắng nêu ra một số ý kiến đóng góp để nâng cao hiệu quả công
tác kế toán cho vay của Ngân hàng. Do còn nhiều hạn chế về kiến thức cũng như
kinh nghiệm thực tế, bản khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy
tôi rất mong được sự giúp đỡ của các thầy cô và các bạn để bài luận văn được
hoàn thiện hơn !
2
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
VÀ NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN CHO VAY TRONG HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG
I. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN CHO VAY
1. Vai trò nhiệm vụ của kế toán Ngân hàng
1.1. Vai trò của kế toán Ngân hàng
Kế toán ngân hàng là hệ thống thông tin phản ánh hoạt động của ngân
hàng. Kế toán ngân hàng cung cấp những số liệu về huy động vốn, sử dụng vốn,
thu nhập, chi phí, lợi nhuận của từng loại nghiệp vụ và của toàn bộ hệ thống
ngân hàng. Qua đó ta có thể thấy được ngân hàng hoạt động có hiệu quả hay
không, đồng thời cũng thấy được triển vọng của ngân hàng để từ đó ra những
quyết định kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lí tài sản.
Hầu hết các nghiệp vụ của kế toán ngân hàng đều liên quan đến các ngành
kinh tế khác vì thế kế toán ngân hàng không chỉ phản ánh tổng hợp hoạt động
của bản thân ngân hàng mà còn phản ánh tổng hợp hoạt động của nền kinh tế
thông qua quan hệ tiền tệ, tín dụng... giữa ngân hàng với các đơn vị tổ chức kinh
tế, các doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Thông qua các hoạt động của mình, kế toán ngân hàng giúp cho các giao
dịch trong nền kinh tế được tiến hành một cách kịp thời, nhanh chóng và chính
xác hơn. Những số liệu do kế toán ngân hàng cung cấp là những chỉ tiêu thông
tin kinh tế quan trọng giúp cho việc chỉ đạo điều hành hoạt động kinh doanh
ngân hàng và làm căn cứ cho việc hoạt động, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
và chỉ đạo hoạt động của toàn bộ nền kinh tế.
1.2. Nhiệm vụ của kế toán Ngân hàng
Ghi nhận, phản ánh một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh thuộc về hoạt động nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn của ngân
hàng theo đúng pháp lệnh kế toán, thống kê của Nhà nước và các thể lệ, chế độ
3
kế toán ngân hàng. Trên cơ sở đó giám sát, theo dõi để bảo vệ an toàn tài sản
của bản thân ngân hàng cũng như tài sản của xã hội bảo quản tại ngân hàng.
Kế toán ngân hàng phân loại nghiệp vụ tập hợp số liệu theo đúng phương
pháp kế toán và theo những chỉ tiêu nhất định nhằm cung cấp những thông tin
một cách đầy đủ, chính xác kịp thời phục vụ quá trình lãnh đạo thực thi chính
sách quản lí và chỉ đạo hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Kế toán ngân hàng giám sát việc sử dụng tài sản (vốn) nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng các loại tài sản thông qua kiểm soát trước (tiền kiểm) các
nghiệp vụ bên nợ và bên có ở từng đơn vị ngân hàng cũng như toàn hệ thống
góp phần tăng cường kỷ luật tài chính, củng cố chế độ hạcn toán kinh tế trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Kế toán ngân hàng còn tổ chức giao dịch phục vụ khách hàng một cách
khoa học, văn minh, giúp đỡ khách hàng nắm được những nội dung cơ bản của
kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng nói chung và kỹ thuật nghiệp vụ kế toán nói riêng
nhằm góp phần thực hiện chiến lược khách hàng của ngân hàng, Vì khách hàng
trong ngân hàng vừa là người cung cấp vốn, vừa là người mua vốn mà chức
năng trung gian quan trọng nhất của ngân hàng là biến nguồn vốn lẻ tẻ thành
một nguồn vốn lớn, biến kỳ gửi không kỳ hạn thành có kỳ hạn, họ tìm mọi cách
tranh thủ nguồn vốn để kéo thêm khách hàng và đồng thời giữ được khách hàng.
2. Vai trò nhiệm vụ của kế toán cho vay
2.1. Vai trò của kế toán cho vay
Kế toán cho vay giữ một vị trí quan trọng trong toàn bộ nghiệp vụ kế toán
của ngân hàng, nó được xác định là nghiệp vụ kế toán phức tạp bởi lẽ trong bảng
cân đối cho thấy hoạt động cho vay chiếm phần lớn trong tổng tài sản có của
ngân hàng nghĩa là kế toán cho vay tham gia vào quá trình sử dụng vốn- hoạt
động cơ bản của ngân hàng.
Có thể nói rằng nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng và là
nghiệp vụ hàng đầu của các ngân hàng thương mại. Để cho nghiệp vụ này có
hiệu quả, năng suất và chất lượng thì công tác kế toán cho vay góp phần không
nhỏ qua việc phản ánh một cách rõ ràng, chính xác các nghiệp vụ cho vay, đối
4
tượng khách hàng vay, thời hạn cho vay và phản ánh rõ ràng chất lượng tín dụng
để bảo vệ tốt hơn nguồn vốn của ngân hàng.
Kế toán cho vay phục vụ đắc lực trong công việc chỉ đạo chấp hành chính
sách tín dụng tiền tệ của Đảng và Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, với cơ
chế tín dụng như hiện nay Ngân hàng là cơ quan chuyên môn được giao nhiệm
vụ tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng đã áp dụng mức lãi suất đối
với các thành phần kinh tế tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần này có hoạt
động, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh kịp thời. Thực hiện tốt công tác
kế toán cho vay, làm tham mưu đắc lực cho công tác tín dụng để tín dụng thực
sự trở thành đòn bẩy cũng như giám đốc bằng tiền với toàn bộ hoạt động trong
nền kinh tế quốc dân.
Đối với nền kinh tế nói chung, kế toán cho vay tạo điều kiện cho các đơn
vị, tổ chức kinh tế nhận và hoàn trả vốn nhanh chóng, kịp thời chính xác trên cơ
sở đó để phát triển sản xuất kinh doanh và mở rộng lưu thông hàng hoá.
Kế toán cho vay phản ánh tình hình đầu tư vốn vào các ngành kinh tế
quốc doanh, các thành phần kinh tế. Thông qua kế toán cho vay có thể biết được
phạm vi, phương hướng đầu tư, hiệu quả đầu tư của ngân hàng vào các thành
phần kinh tế đó.
Kế toán cho vay theo dõi hiệu quả sử dụng vốn vay của từng đơn vị,
khách hàng, qua đó tăng cường khuyến khích hoặc hạn chế cho vay.
2.2. Nhiệm vụ của kế toán cho vay
Kế toán cho vay là công việc tính toán, ghi chép một cách đầy đủ, chính
xác các khoản cho vay, thu nợ, thu lãi, theo dõi thu nợ tín dụng ngân hàng trên
cơ sở đó bảo đảm an toàn vốn cho vay của ngân hàng và cung cấp các thông tin
cần thiết cho việc quản lý và điều hành nghiệp vụ tín dụng ngân hàng.
Nhiệm vụ bảo vệ tài sản đối với kế toán cho vay rất nặng nề bởi tài sản có
cho vay ra chủ yếu dưới dạng vốn tiền tệ mà lại giao cho tổ chức kinh tế sử
dụng. Nếu cho vay không có hiệu quả sẽ gây ra rủi ro rất lớn. Vì vậy kế toán cho
vay thực hiện tốt nhiệm vụ của mình để nâng cao chất lượng nghiệp vụ tín dụng.
5
Kế toán cho vay phải kiểm tra và xác định tính hợp pháp, hợp lệ của các
chứng từ kế toán cho vay để đảm bảo khoản vay có khả năng thu hồi ngay từ
khâu phát tiền vay.
Tổ chức ghi chép một cách kịp thời, chính xác các khoản cho vay, thu nợ,
thu lãi, chuyển nợ quá hạn kịp thời để bảo đảm an toàn tài sản và nâng cao hiệu
quả tín dụng.
Tham mưu cho cán bộ tín dụng và kết hợp với cán bộ tín dụng trong việc
giám sát sử dụng vốn vay, trong việc thẩm định khoản cho vay và đôn đốc thu
nợ hoặc chuyển nợ quá hạn theo đúng chế độ.
Cung cấp thông tin cần thiết cho cán bộ tín dụng cũng như cho lãnh đạo
ngân hàng để quản lý và điều hành nghiệp vụ tín dụng.
II. KHÁI QUÁT CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY HIỆN NAY
Phương thức cho vay là cách tính toán cho vay và thu nợ dựa vào tính
chất và cách xác định đối tượng cho vay.
1. Phương thức cho vay từng lần
Là một phương thức cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và tổ chức tín
dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và kí kết hợp đồng tín dụng.
Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu và đề nghị vay
vốn từng lần, khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên hoặc khách
hàng mà ngân hàng xét thấy cần thiết phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát
kiểm tra quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ an toàn.
Ưu điểm: Phương thức này là linh hoạt trong quá trình sử dụng vốn của
ngân hàng. Khi nào khách hàng có nhu cầu vay vốn, ngân hàng mới xem xét đáp
ứng (mỗi lần vay ngân hàng đều định thời hạn cho khoản vay đó, đến thời hạn
trả nợ người vay phải có trách nhiệm trả nợ ngân hàng). Do đó, qua phương thức
cho vay này ngân hàng kiểm tra chặt chẽ được từng món vay, tính toán được
hiệu quả kinh tế của từng đối tượng cho vay từ đó đảm bảo được khả năng an
toàn vốn cho ngân hàng.
6
Nhược điểm: Cho vay từng lần thủ tục rườm rà, phức tạp, gây khó khăn
cho người vay. Mỗi lần vay tiền, người vay phải làm đơn xin vay gửi tới ngân
hàng xem xét quyết định cho vay.
Nếu đối tượng vay vốn có vòng quay nhanh thì doanh nghiệp sẽ sử dụng
món vay đó vào nhiều mục đích mà ngân hàng không kiểm soát được điều này
gây nên tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau ảnh hưởng đến việc thu hồi nợ, ảnh
hưởng đến nguồn vốn của ngân hàng.
2. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng (cho vay luân chuyển)
Là cách thức cho vay bằng cách ngân hàng xác định cho khách hàng của
mình một hạn mức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định để làm căn cứ
cho việc phát tiền vay.
Phương thức này chỉ áp dụng đối với những khách hàng có tình hình sản
xuất kinh doanh ổn định vay vốn trả nợ thường xuyên, có tín nhiệm với ngân
hàng. Trách nhiệm của kế toán phải theo dõi chặt chẽ dư nợ của tài khoản cho
vay để dư nợ của tài khoản cho vay không vượt quá hạn mức tín dụng đã kí kết.
Ưu điểm: Trước hết nó tiết kiệm vốn tối đa cho người vay vì khi mua
nguyên liệu hàng hoá thì vay, bán hàng là ghi thẳng vào bên Có để trả nợ không
phải vừa vay vừa đọng tiền gửi như lối cho vay từng lần.
Thứ hai là cán bộ ngân hàng dễ nắm tình hình đơn vị vay vì doanh số cho
vay thể hiện doanh số mua vào, doanh số thu nợ thể hiện doanh số bán ra. Từ đó
biết tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng tương đối chính xác đặc biệt
là khả năng tài chính của khách hàng.
Nhược điểm: Do ngân hàng và khách hàng cùng thoả thuận hạn mức tín
dụng duy trì trong thời hạn nhất định nên ngân hàng luôn phải duy trì một số
vốn nhất định để sẵn sàng giải ngân cho người vay làm cho ngân hàng bị đọng
vốn sử dụng, nếu khoản vay lớn có thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn của ngân
hàng bởi đó là những khoản vốn chết đã không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng
mà ngân hàng còn phải trả lãi huy động cho những khoản vốn đó.
3. Phương thức cho vay theo dự án đầu tư
7
Ngân hàng nông nghiệp cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án đời sống.
Phương thức cho vay này áp dụng cho các trường hợp cho vay vốn trung
và dài hạn.
Phương thức cho vay trả góp.
Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi
tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn
trong thời kỳ cho vay. Tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay
sau khi trả đủ nợ gốc và lãi.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Ngân hàng Nông nghiệp nơi cho vay chấp nhận cho khách hàng được sử
dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng
hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là
đại lí của Ngan hàng nông nghiệp. Khi cho vay phát hành và sử dụng thể tín
dụng, Ngân hàng nông nghiệp nơi cho vay và khách hàng phải tuân theo các quy
định của chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
Là việc tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay
vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định dể đầu tư cho dự án.
Cho vay hợp vốn.
Thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của Ngân hàng Nhà nước và hướng
dẫn của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Phương thức cho vay khác.
Các phương thức cho vay khác do Ngân hàng Nông nghiệp quy định.
Việc áp dụng phương thức cho vay nào phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất
kinh doanh nhu cầu về vốn cuả đối tượng cho vay. Trong giai đoạn hiện nay
phần lớn các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng nước ta áp dụng hai phương
thức cho vay chủ yếu đó là phương thức cho vay từng lần và phương thức cho
vay theo hạn mức tín dụng.
8
III. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ CHO
VAY TỔ CHỨC CÁ NHÂN TRONG NƯỚC
1. Hồ sơ chứng từ cho vay tổ chức cá nhân trong nước
Chứng từ kế toán là những giấy tờ đảm bảo về mặt pháp lí các khoản cho
vay của ngân hàng. Mọi sự tranh chấp về các khoản vay hay trả nợ đều phải giải
quyết trên cơ sở các chứng từ kế toán cho vay, đối với thành phần kinh tế tổ
chức cá nhân trong nước sử dụng các loại chứng từ gốc và chứng từ ghi sổ như
sau:
Chứng từ gốc: Là những căn cứ quan trọng để tính toán và hạch toán toàn
bộ số tiền vay và thu nợ của khách hàng. Bao gồm đơn xin vay, hợp đồng tín
dụng, khế ước vay tiền hoặc đơn xin vay kiêm giấy nhận nợ. Trong đó khế ước
vay tiền và đơn xin vay kiêm giấy nhận nợ trong phương thức cho vay từng lần.
Ngoài ra còn có các giấy cam kết thế chấp tài sản hoặc bảo lãnh bằng tài
sản cũng như là những chứng từ gốc về tài sản đảm bảo và là căn cứ để hạch
toán tài khoản ngoại bảng.
Chứng từ ghi sổ: Là những chứng từ dùng trong thanh toán như séc lĩnh
tiền mặt. Các chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt như uỷ nhiệm chi, séc
thanh toán trong trường hợp cho vay bằng chuyển khoản. Đối với phương thức
cho vay theo hạn mức, khi cho vay không phải lập khế ước vay tiền chỉ phải kí
hợp đồng tín dụng thì tính pháp lí của các khoản vay được thể hiện ngay trên
chứng từ phát tiền vay như séc lĩnh tiền mặt, uỷ nhiệm chi...cũng như hàng
tháng tiến hành đối chiếu xác nhận nợ theo số dư các tài khoản cho vay theo hạn
mức trên sổ hạch toán chi tiết.
Các giấy tờ trong quan hệ tín dụng đòi hỏi phải có đầy đủ tính pháp lí
được thể hiện trên các chứng từ kế toán cho vay là các yếu tố xác định thẩm
quyền chủ thể cho vay của ngân hàng, chỉ rõ người chịu trách nhiệm nhận nợ và
cam kết trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng.
Cán bộ kế toán cho vay là người chịu trách nhiệm thực hiện công việc:
Kiểm tra hồ sơ cho vay theo danh mục quy định; hướng dẫn khách hành mở tài
khoản tiền vay; làm thủ tục phát tiền vay theo lệnh của giám đốc hoặc người
9
được uỷ quyền ; hạch toán nghiệp vụ cho vay, thu nợ, chuyển nợ quá hạn; lưu
giữ hồ sơ theo quy định.
2. Tài khoản dùng trong kế toán cho vay
2.1. Tài khoản nội bảng
2.1.1. Tài khoản nợ trong hạn và được gia hạn nợ
- Ứng với phương thức cho vay từng lần là tài khoản cho vay thông
thường
- Ứng với phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng là tài khoản cho
vay theo hạn mức tín dụng
+ Tài khoản cho vay từng lần: Khi các đơn vị, tổ chức kinh tế, các doanh
nghiệp, tư nhân có nhu cầu vay vốn và được ngân hàng cho vay thì kế toán ngân
hàng sẽ mở cho mỗi người vay một tài khoản cho vay thích hợp
Tài khoản cho vay từng lần kết cấu như sau:
Bên Nợ: - Ghi số tiền khách hàng nhận vay trong hạn và được gia hạn nợ
Bên Có: - Ghi số tiền khách hàng trả nợ khoản vay trong hạn và được gia
hạn nợ
Dư nợ : - Phản ánh số tiền vay trong hạn và được gia hạn nợ của khách
hàng đối với ngân hàng
+ Tài khoản cho vay theo hạn mức tín dụng
Tuỳ theo sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng, ngân hàng sẽ cho
khách hàng vay theo hai tài khoản (Tài khoản cho vay theo hạn mức và tài
khoản tiền gửi thanh toán ) hoặc cho vay theo một tài khoản (Tài khoản tín dụng
vốn lưu động )
Đối với khách hàng mở 2 tài khoản: Tài khoản cho vay theo hạn mức và
tài khoản tiền gửi thanh toán.
Quá trình hạch toán cho vay, thu nợ được thực hiện trên tài khoản theo
hạn mức với kết cấu
Bên Nợ: - Ghi số tiền ngân hàng cho vay theo hạn mức đã kí kết
Bên Có: - Ghi số tiền khách hàng thu nợ trên cơ sở tiền bán hàng hay các
tài khoản thu nhập khác
10
Dư nợ: - Phản ánh số tiền khách hàng còn nợ ngân hàng (Dư nợ cao nhất
bằng hạn mức tín dụng)
Trường hợp hết dư nợ mà khách hàng vẫn nộp tiếp các khoản thu của
mình cho ngân hàng thì kế toán sẽ hạch toán vào tài khoản tiền gửi thanh toán.
Đối với khách hàng mở một tài khoản: Quá trình hạch toán cho vay, thu
nợ đều được thực hiện trên tài khoản này. Tài khoản này vừa mang tính chất tài
khoản cho vay, vừa mang tính chất tài khoản tiền gửi thanh toán tài khoản này
có thể dư nợ hoặc dư có.
Bên Nợ : Phản ánh toàn bộ số tiền cho trả của đơn vị vay bao gồm cả
khoản chi thuộc đối tượng cho vay của ngân hàng cũng như các khoản chi trả
không thuộc đối tượng vay của ngân hàng.
Bên Có : Phản ánh toàn bộ thu nhập của khách hàng vay.
Dư Nợ : Phản ánh số tiền khách hàng (đơn vị vay) nợ ngân hàng.
Dư Có : Phản ánh số tiền đơn vị gửi tại ngân hàng.
Trong quan hệ tín dụng giữa người vayvà ngân hàng không phải bao giờ
người vay cũng trả nợ ngân hàng đúng kỳ hạn. Trường hợp đến hạn trả người
vay không đủ khả năng trả nợ và cũng không được ngân hàng cho gia hạn nợ thì
số nợ đó phải chuyển sang tài khoản nợ quá hạn để theo dõi thu hồi với mức lãi
suất cao hơn lãi suất cho vay bình thường.
2.1.2. Tài khoản nợ quá hạn
Bên Nợ : Ghi số tiền cho vay đã quá hạn từ tài khoản cho vay chuyển
sang.
Bên Có : Ghi số tiền thu nợ quá hạn hoặc số nợ quá hạn được xử lí
chuyển sang TK thích hợp hay ngoại bảng
Dư nợ : Thể hiện số nợ quá hạn chưa thu
Tài khoản Nợ quá hạn chia thành 3 nhóm:
+ Nợ quá hạn 1-180 ngày, có khả năng thu hồi
Tài khoản này dùng để hạch toán số tiền ngân hàng cho khách hàng vay
đã quá hạn trong vòng 180 ngày kể từ ngày đến hạn phải trả, còn có khả năng
thu hồi.
11
Kết cấu của tài khoản:
Bên Nợ : - Ghi số tiền cho vay phát sinh nợ quá hạn trong vòng 180
ngày
Bên Có : - Ghi số tiền khách hàng trả nợ
Số dư Nợ : - Phản ánh số tiền cho khách hàng vay đã quá hạn trong vòng
180 ngày
Hạch toán chi tiết: Mở tài khoản chi tiết phù hợp với tài khoản nợ trong
hạn và được gia hạn nợ.
+ Nợ quá hạn 181-360 ngày, có khả năng thu hồi.
Kết cấu của tài khoản:
Bên Nợ : - Ghi số tiền cho vay phát sinh nợ quá hạn từ 181-360 ngày
Bên Có : - Ghi số tiền khách hàng trả nợ
Số dư Nợ : - Phản ánh số tiền cho khách hàng vay phát sinh nợ quá hạn
181-360 ngày.
+ Nợ khó đòi.
Tài khoản này dùng để hạch toán số tiền mà ngân hàng cho khách hàng
vay đã được đánh giá là khó đòi (khó thu hồi hoặc không có khả năng thu hồi).
Kết cấu của tài khoản:
Bên Nợ : - Ghi số tiền cho vay phát sinh nợ quá hạn trên 360 ngày
- Ghi số tiền ( trong hạn và quá hạn) đã được đánh giá là
không có khả năng thu hồi
Bên Có : - Ghi số tiền khách hàng trả nợ
Số dư Nợ : - Phản ánh số tiền cho khách hàng vay và đã được đáng giá
là không có khả năng thu hồi.
2.1.3. Tài khoản lãi cộng dồn dự thu
Tài khoản lãi cộng dồn dự thu là thuộc tài khoản nội bảng, là số tiền lãi
mà ngân hàng dự thu đối với những khoản cho vay trong hạn và được gia hạn nợ
trong một thời gian theo quy định. Mục đích có tài khoản này để cho hạch toán
thu lãi đúng kỳ kế toán.
Kết cấu của tài khoản :
12
Bên Nợ : Ghi số tiền lại tính cộng dồn.
Bên Có : Ghi số tiền khách hang vay trả tiền.
Ghi số tiền đến kỳ hạn mà không nhận được(trong một thời gian
theo quy định)
Dư Nợ : Phản ánh số tiền lãi cho vay mà ngân hàng chưa được thanh
toán.
2.1.4. Tài khoản dự phòng rủi ro tín dụng
Tài khoản này dùng để phản ánh việc lập, dự phòng và xử lí các khoản dự
phòng về các khoản cho vay và có khả năng không đòi được vào cuối niên độ kế
toán
Kết cấu của tài khoản:
Bên Có : - Ghi số dự phòng các khoản phải thu khó đòi tính vào chi phí
Bên Nợ : - Ghi các khoản nợ phải thu khó đòi không thu được phải xử lí
xoá nợ.
- Kết chuyển số chênh lệch về dự phòng phải thu khó đòi đã lập không sử
dụng còn lại đến cuối niên độ kế toán lớn hơn số phải trích lập dự
phòng cho niên độ sau.
Số dư Có : - Phản ánh số dự phòng các khoản phải thu khó đòi còn lại
cuối kỳ.
Hạch toán chi tiết: Mở 1 tài khoản
2.1.5. Tài khoản thu lãi cho vay(701): Gồm các khoản thu lãi cho vay đối
với khách hàng vay vốn
Kết cấu của tài khoản:
Bên Có : - Các khoản thu về hoạt động kinh doanh trong năm
Bên Nợ : - Số tiền thoái thu các khoản thu trong năm
- Chuyển tiêu số dư có cuối năm sang tài khoản lợi nhuận năm
nay khi quyết toán
Số dư Có : - Phản ánh các khoản thu về hoạt động kinh doanh trong năm
2.2. Tài khoản ngoại bảng
13
Hiện nay, do các ngân hàng nước ta các hình thức cho vay còn nhiều hạn
chế về mặt pháp lý và nó chứa đựng nhiều rủi ro gây thất thoát vốn cho ngân
hàng vì thế cho nên các ngân hàng thương mại thường tiến hàng cho vay có tài
khoản đảm bảo.
Trong việc hạch toán nội bảng kế toán cũng mở thêm tài khoản ngoại
bảng để theo dõi các tài sản dùng để đảm bảo cho các món vay của khách hàng.
Tài khoản ngoại bảng được hạch toán căn cứ vào phiếu nhập, xuất tài sản.
2.2.1. TK ngoại bảng: Tài sản thế chấp cầm cố
Kết cấu của tài khoản:
Bên nhập: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hoặc giấy tờ tài sản nhập kho
bảo quản.
Bên xuất: Phản ánh giá trị tài sản hoặc giấy tờ tài sản xuất kho trả lại cho
khách hàng khi thu hết nợ
Còn lại : Phản ánh giá trị tài sản hoặc giấy tờ tài sản ngân hàng còn đang
giữ của khách hàng.
2.2.2. TK ngoại bảng: Lãi chưa thu
Đối với các khoản lãi chưa thu phát sinh (lãi treo ) kế toán không nhập lãi
vào gốc mà hạch toán vào tài khoản ngoại bảng “ lãi treo” để tiếp tục truy thu.
Bên nhập : Phản ánh số lãi treo đến hạn truy thu.
Bên xuất : Phản ánh số lãi treo đã truy thu .
Còn lại : Phản ánh số lãi treo chưa thu được .
2.2.3. Tài khoản ngoại bảng: Nợ khó đòi đã xử lí
Tài khoản này dùng để hạch toán các khoản nợ bị tổn thất đã dùng dự
phòng rủi ro để bù đắp, đang trong thời gian theo dõi để có thể tiếp tục thu hồi
dần. Thời gian theo dõi trên tài khoản này phải theo quyết định của BTC, hết
hạn quy định mà không thu được thì cũng huỷ bỏ.
Kết cấu:
Bên nhập: - Số tiền nợ khó đòi đã được bù đắp nhưng đưa ra theo
dõi ngoài bảng cân đối kế toán
Bên xuất : - Số tiền thu hồi được của khách hàng
14
- Số nợ bị tổn thất đã hết hạn theo dõi
Số còn lại: - Phản ánh số nợ bị tổn thất đã được bù đắp nhưng phải
tiếp tục theo dõi để thu hồi
Hạch toán chi tiết: Mở tiểu khoản theo từng khách hàng nợ và từng
khoản nợ
Việc mở chi tiết của các tài khoản đều có thể được ký hiệu theo mã số
thích hợp của các tài khoản cấp III , cấp IV và cấp V của các ngân hàng.
3. Quy trình kế toán cho vay từng lần
3.1. Kế toán giai đoạn cho vay
Mỗi lần vay tiền, người vay làm đơn xin vay gửi tới ngân hàng để trình
bày lý do xin vay. Đây là căn cứ để ngân hàng xem xét, tính toán, quyết định
cho vay. Nếu khoản vay được giám đốc ký duyệt cho vay thì bộ phận tín dụng
chuyển hồ sơ cho bộ phận kế toán thực hiên nghiệp vụ hạch toán kế toán, thanh
toán. Bộ phận kế toán kiểm soát lại và hướng dẫn người vay lập các chứng từ kế
toán nhận tiền vay . Trường hợp khách hàng dùng đơn xin vay kiêm giấy nhận
nợ thì không phải lập khế ước vay tiền, khi lập khế ước vay tiền hay đơn xin vay
kiêm giấy nhận nợ thì phải lập đủ số liên quy định và ghi đầy đủ các yếu tố trên
mẫu in sẵn để đảm bảo tính pháp lý của chứng từ cho vay.
Trường hợp khoản cho vay phát tiền vay làm nhiều lần thì không nhất
thiết mỗi lần phát tiền vay phải lập khế ước vay tiền riêng,mà có thể lập một khế
ước cho cả khoản vay đó, quá trình phát tiền vay sẽ được theo dõi ở mặt sau của
khế ước. Sau khi hoàn thành các thủ tục giấy tờ cho vay theo đúng quy định, kế
toán căn cứ vào các chứng từ để hạch toán.
Nợ : Tài khoản cho vay của khách hàng.
Có : Tài khoản tiền mặt (nếu cho vay bằng tiền mặt)
Hoặc tài khoản tiền gửi của người thụ hưởng (nếu cho vay bằng chuyển
khoản)
Hoặc tài khoản thanh toán qua lại giữa các ngân hàng (nếu người thụ
hưởng có tài khoản ở ngân hàng khác)
15
Riêng với món vay có giá trị tài sản thế chấp cầm cố, kế toán sẽ ghi nhập
vào tài khoản ngoại bảng “tài sản thế chấp cầm cố”
3.2. Kế toán giai doạn thu nợ, thu lãi
Một trong những đặc điểm của phương thức cho vay từng lần là mỗi lần
cho vay đều phải xác định thời hạn trả. Đến hạn trả nợ người vay phải có trách
nhiệm trả nợ ngân hàng. Nếu đến kỳ hạn trả nợ người vay không trả đủ cho ngân
hàng thì kế toán chủ động trích tài khoản tiền gửi của người vay để thu hồi nợ.
Nếu tài khoản tiền gửi của người vay đã hết số dư và khoản vay đó không
được ngân hàng gia hạn nợ thì kế toán làm thủ tục chuyển nợ quá hạn.
Các bút toán phản ánh khi thu nợ:
Thu cả gốc và lãi cùng một thời điểm
Nợ : Tài khoản tiền mặt
hoặc tài khoản tiền gửi của người vay (phần gốc và lãi)
Có : Tài khoản cho vay của người vay (phần gốc)
Có : Tài khoản thu nhập của ngân hàng (phần lãi)
Thu gốc và lãi của món vay không cùng thời điểm.
Trường hợp này kế toán cho vay sẽ thu lãi hàng tháng theo số dư nợ tài
khoản cho vay (theo phương pháp tích số). Do vậy thu nợ và thu lãi sẽ được
hạch toán ở các thời điểm khác nhau
Hạch toán giai đoạn thu lãi
Nợ : Tài khoản tiền mặt, ngân phiếu thanh toán (nếu trả lãi bằng tiền mặt)
Hoặc tài khoản tiền gửi của người vay (nếu trả lãi bằng chuyển khoản)
Có : Tài khoản thu nhập của ngân hàng (phần lãi)
Hạch toán giai đoạn thu gốc
Nợ : Tài khoản tiền mặt tại quỹ (nếu thu bằng tiền mặt)
Hoặc tài khoản tiền gửi của người vay (nếu thu bằng chuyển khoản)
Có : Tài khoản cho vay của người vay.
Kế toán chuyển nợ quá hạn
Có hai cách định kỳ hạn nợ dẫn đến có hai cách theo dõi tiền cho vay theo
món.
16
Nếu định kỳ hạn trả nợ vào ngày nhất định trong tháng thì đến ngày cuối
kỳ hạn nợ kế toán sẽ làm thủ tục thu hồi nợ. Hết ngày đó người vay không có
khả năng trả nợ thì sẽ chuyển sang tài khoản nợ quá hạn. Nếu định kỳ hạn nợ
theo tháng thì số nợ phải thu được tiến hành trong cả tháng kỳ hạn nợ. Hết tháng
nếu người vay không hoàn thành việc trả nợ ngân hàng và cũng không được gia
hạn nợ thì kế toán làm thủ tục để chuyển số nợ đó sang tài khoản nợ quá hạn.
Khi chuyển nợ quá hạn kế toán ghi:
Nợ : Tài khoản nợ quá hạn (mở cho từng khách hàng vay)
Có : Tài khoản cho vay của người vay.
Xử lý lãi khi chuyển nợ quá hạn:
Trong trường hợp khi đến hạn mà khách hàng chưa trả hết lãi, thì ngân
hàng sau khi tính lãi hạch toán ngoại bảng ghi “nhập tài khoản lãi chưa thu” và
theo dõi khi nào tài khoản tiền gửi của khách hàng có tiền sẽ thu hồi.
Khi thu hạch toán ngoại bảng: xuất tài khoản “lãi chưa thu” đồng thời
hạch toán nội bảng:
Nợ : Tài khoản tiền gửi của người vay (phần lãi)
Có : Tài khoản thu nhập của ngân hàng (phần lãi)
Khi thu hồi nợ kế toán cho vay phải xoá nợ trên khế ước vay tiền, những
khế ước thu hết nợ khi xoá xong sẽ đóng thành tập riêng. Những khế ước chỉ thu
có một phần thì lưu trở lại hồ sơ vay vốn của người vay để tiếp tục theo dõi thu
nợ. Khế ước chuyển nợ quá hạn lưu ở hồ sơ quá hạn.
4. Quy trình kế toán cho vay theo mức tín dụng
4.1. Kế toán giai đoạn cho vay
Căn cứ để kế toán phát tiền vay theo phương thức cho vay này là hạn mức
tín dụng đã thoả thuận giữa ngân hàng và đơn vị vay vốn ghi trên hợp đồng tín
dụng trong kỳ trong phạm vi hạn mức tín dụng, thời hạn hiệu lực của hợp đồng
tín dụng, mỗi lần rút tiền vay, khách hàng chỉ cần lập giấy nhận nợ tiền vay kèm
theo các chứng từ xin vay phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín
dụng. Như vậy, trách nhiệm của kế toán là phải theo dõi chặt chẽ dư nợ tài
17
khoản cho vay để dư nợ của tài khoản cho vay không vượt quá hạn mức tín dụng
đã kí kết trong kỳ.
Kế toán ngân hàng sau khi kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ và
đối chiếu với hạn mức tín dụng, nếu đủ điều kiện thì căn cứ vào chứng từ để
hạch toán:
Nợ TK : Cho vay theo hạn mức tín dụng hoặc tài khoản tín dụng vốn lưu
động.
Có TK : Tiền mặt tại quỹ (nếu cho vay bằng tiền mặt)
Hoặc tài khoản của người thụ hưởng (nếu thanh toán cùng ngân hàng)
Tài khoản thanh toán qua lại giữa các ngân hàng (nếu thanh toán khác
ngân hàng)
4.2. Kế toán giai đoạn thu nợ, thu lãi
Trong phương thức cho vay theo hạn mức, việc trả nợ của khách hàng dựa
trên cơ sở vòng quay vốn tín dụng hoặc khách hàng trả nợ theo từng tháng được
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Có hai cách thu nợ:
Cách 1 Thu nợ trực tiếp: tức là toàn bộ số tiền bán hàng của người vay
vốn được nộp vào bên có của tài khoản cho vay khu thu hết nợ (hết số dư của tài
khoản cho vay) thì không tiếp tục thu nữa.
Cách 2 Thu gián tiếp: thu qua tiền gửi thanh toán của khách hàng. Khi
khách hàng có thu nhập sản xuất kinh doanh hay tiền bán hàng nộp vào ngân
hàng thì kế toán cho vay sẽ ghi vào bên có của tài khoản tiền gửi của khách hàng
sau đó kế toán mới trích từ tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng để thu
nợ. Việc kế toán trích bao nhiêu phần trăm của số tiền mà khách hàng gửi vào
tài khoản tiền gửi thanh toán được chia làm hai trường hợp: Trích theo tỉ lệ phần
trăm của số thu của sản xuất kinh doanh hoặc trích theo tỉ lệ phần trăm cuả số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán.
Đến kì hạn trả nợ kế toán cho vay hạch toán thu nợ của khách hàng theo
số tiền mà khách hàng vay nộp vào ngân hàng.
Khi khách hàng nộp tiền bán hàng vào tài khoản tiền gửi
Nợ : Tài khoản tiền mặt
18
Có : Tài khoản tiền gửi thanh toán.
Khi thu nợ hạch toán
Nợ : Tài khoản tiền gửi người vay
Có : Tài khoản cho vay của khách hàng
Việc thu lãi được tiến hành hàng tháng theo phương pháp tích số trích từ
tài khoản tiền gửi để thanh toán hay khách hàng nộp tiền mặt. Nếu đến ngày
ngân hàng thu lãi mà khách hàng không trả lãi thì kế toán cho vay ghi số lãi đó
vào tài khoản ngoại bảng “lãi chưa thu”
Hết tháng đơn vị vay vốn không hoàn thành kế hoạch trả nợ ngân hàng và
cũng không được xem xét để chuyển sang thu tiếp ở tháng kế tiếp, kế toán sẽ lập
phiếu chuyển khoản chuyển số tiền đơn vị còn nợ ngân hàng sang tài khoản nợ
quá hạn.
Kế toán cho Nợ quá hạn ở thời điểm nào thì tính lãi theo thời điểm đó.
19
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHO VAY TỔ CHỨC CÁ NHÂN
TRONG NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN TỪ LIÊM
I. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỪ
LIÊM
1. Một số nét tổng quát về Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Từ Liêm
Hoà nhập với tiến trình đổi mới nền kinh tế đất nước sau Đại hội VI của
Đảng (1986) hoạt động ngân hàng đã có những chuyển biến tích cực góp phần
huy động vốn phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước. Bước chuyển mình
rõ rệt của hệ thống ngân hàng là vào năm 1990, thời điểm ban hành hai pháp
lệnh ngân hàng là "Pháp lệnh ngân hàng Nhà nước" và"Pháp lệnh ngân hàng,
hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính" đã luật hoá hoạt động ngân hàng nhằm
tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện công tác ngân hàng. Cũng từ đấy hệ thống
tổ chức của ngân hàng đã chuyển từ Ngân hàng một cấp sang Ngân hàng hai cấp
có sự phân biệt rõ chức năng quản lí Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, tín
dụng, tiền tệ, cung ứng và điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền.
Cùng với sự chuyển mình của nền kinh tế đất nước, hệ thống Ngân hàng
Việt nam nói chung và hệ thống Ngân hàng nông nghiệp nói riêng cũng có nhiều
thay đổi rõ rệt. Sau khi nghị định 53/HĐBT ban hành ngày 26/3/1988 có hiệu
lực thì Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Từ Liêmđược ra đời.
Đây là một Ngân hàng thương mại quốc doanh, là ngân hàng thành viên và hạch
toán độc lập của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Với tên gọi: NHNO & PTNT Từ Liêm.
Tên giao dịch quốc tế: The Branch for Agriculture and Rual
Development of Tu Liem district.
Trụ sở đặt tại: Đường Cầu Diễn - Hà Nội
20