MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ CÔNG VÀ HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP TỈNH: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH TIỀN GIANG

  • 32 trang
  • file .pdf
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG
QUẢN TRỊ CÔNG VÀ HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP TỈNH:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH TIỀN GIANG
Nhóm nghiên cứu:
TS. Lê Văn Chiến
TS. Bùi Phương Đình
TS. Lương Thu Hiền
TS. Hà Việt Hùng
TS. Đặng Ánh Tuyết
Nghiên cứu này có sử dụng kết quả nghiên cứu “Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành
chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2010. Thông tin chi tiết tại www.papi.vn.
Nhóm nghiên cứu trân trọng cảm ơn Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
(UNDP) và Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sĩ (SDC) đã tài trợ cho nghiên cứu
này!
HÀ NỘI - 2012
1
Nội dung
1. Giới thiệu ....................................................................................................................................... 2
Mục tiêu và mục đích nghiên cứu ........................................................................................................ 3
Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................................................. 4
Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................................................... 5
2. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Tiền Giang ............................................................ 5
Đặc điểm tự nhiên ........................................................................................................................... 5
Tình hình kinh tế xã hội Tiền Giang 2010 ........................................................................................ 7
Về thu chi ngân sách ..................................................................................................................... 11
3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị công cấp tỉnh ở Tiền Giang ....................... 12
3.1. Nội dung thứ nhất: Công khai minh bạch thông qua lựa chọn danh sách hộ nghèo. ................. 12
3.2. Nội dung thứ hai. Chất lượng dịch vụ y tế ............................................................................... 17
3.3. Nội dung thứ ba: Hiệu quả cung ứng thủ tục hành chính trong cấp phép xây dựng................... 21
3.4. Nội dung thứ tư: Thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở ............................................................ 24
4. Một số kết quả nghiên cứu .......................................................................................................... 27
5. Một số kiến nghị .......................................................................................................................... 29
Tài liệu tham khảo ........................................................................................................................... 31
Bài viết nghiên cứu này do một nhóm chuyên gia về nghiên cứu chính sách của Học viện
Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện. Các nhận định, đánh giá đưa ra
trong báo cáo là của nhóm tác giả, không phải của một cơ quan hay tổ chức chính thức
nào. Các thông tin chỉ có ý nghĩa tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học
trong lĩnh vực quản trị nhà nước và chính sách công.
2
1. Giới thiệu
Với một quốc gia, hoạt động của bộ máy hành chính, chất lượng của các dịch vụ công do
các cấp chính quyền cung ứng là những nhân tố vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước. Ở Việt Nam, gần đây đã có một số công trình nghiên cứu ý
kiến đánh giá của người dân, doanh nghiệp về chất lượng quản trị công của chính quyền câp
tỉnh. Một trong số đó là nghiên cứu điều tra của Tổ chức phát triển liên hiệp quốc (UNDP)
phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng
đồng về “chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI)” được thực
hiện hàng năm, từ năm 2009. Đây là nghiên cứu điều tra ý kiến đánh giá của người dân về chất
lượng dịch vụ công và thủ tục hành chính do các cấp chính quyền tỉnh, huyện, xã cung cấp.
Theo quan điểm của PAPI, chất lượng quản trị và hành chính công có thể được đo lường thông
qua 3 quy trình chính sách có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là (i) hoạch định chính sách;
(ii) thực thi chính sách và (iii) giám sát thực thi chính sách. Cũng theo PAPI, hiện nay có hai
phương pháp pháp đánh giá kết quả hoạt động của chính quyền các cấp: (i) đánh giá từ góc
độ của đơn vị cung ứng dịch vụ (còn gọi là đánh giá từ phía cung), và (ii) đánh giá từ góc độ
của người dân sử dụng dịch vụ (đánh giá từ phía cầu). PAPI đã được thiết kế theo phương
thức đánh giá thứ 2 để đánh giá hoạt động của chính quyền các cấp ở các tỉnh, thành phố. Cụ
thể, PAPI đánh giá chất lượng của quản trị và hành chính công cấp tỉnh thông qua đánh giá
của người dân về 6 nội dung lớn: (i) Sự tham gia của người dân ở cấp cơ sở; (ii) Tính công
khai minh bạch; (iii) Trách nhiệm giải trình với người dân; (iv) Kiểm soát tham nhũng; (v)
Thủ tục hành chính; và (vi) Cung cấp dịch vụ công.
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng để có thể đánh giá toàn diện hơn và đưa ra giải pháp thỏa
đáng nhằm cải thiện chất lượng quản trị công của các tỉnh thì cần xem xét đến những nhân tố
ảnh hưởng đến chất lượng quản trị đó. Do vậy, chúng tôi đã lựa chọn đánh giá hoạt động của
các cấp chính quyền theo cách thứ nhất, đánh giá từ góc độ của đơn vị cung ứng dịch vụ (còn
gọi là đánh giá từ phía cung). Nói cách khác, nghiên cứu này tập trung tìm hiểu những khó
khăn thuận lợi mà các cấp chính quyền từ tỉnh đến xã phải đối mặt hàng ngày có ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng hoạt động của họ.
Mục tiêu và mục đích nghiên cứu
o Nghiên cứu này hướng đến đánh giá kết quả hoạt động của chính quyền các cấp từ
góc độ của đơn vị cung ứng dịch vụ (đánh giá từ phía cung). Cụ thể, đây là nghiên
3
cứu nhằm tìm kiếm các nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả thực trạng quản trị công
tại Tiền Giang.
o Mục đích chính của nghiên cứu này là phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố “đầu
vào” và “đầu ra” của quản trị và hành chính công cấp tỉnh tại Tiền Giang .
o Cụ thể, nghiên cứu này nhằm tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản
trị công cấp tỉnh hay những khó khăn mà đội ngũ cán bộ công chức các cấp trong hệ
thống chính trị từ tỉnh, huyện, xã phải đối mặt hàng ngày trong khi thực hiện nhiệm
vụ phục vụ nhân dân của mình. Thông qua nghiên cứu thực tế, chúng tôi mong muốn
sẽ đưa ra một số gợi ý chính sách để giúp nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân của
chính quyền các cấp.
Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời một câu hỏi chung là: Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến
chất lượng quản trị công cấp tỉnh tại Tiền Giang?
Để trả lời được câu hỏi lớn này, nghiên cứu sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi nhỏ sau đây:
(i) Điều kiện tự nhiên, kinh tế chính trị của Tỉnh Tiền Giang có ảnh hưởng thế nào đến
chất lượng quản trị công?
(ii) Đội ngũ cán bộ (số lượng và chất lượng và chế độ đãi ngộ) ở các cấp chính quyền
ảnh hưởng thế nào đến chất lượng quản trị?
(iii) Nguồn lực tài chính dành cho các cấp chính quyền theo từng lĩnh vực hoạt động có
ảnh hưởng gì đến chất lượng quản trị công cấp tỉnh?
(iv) Chính sách hoặc chương trình nào giúp các cấp chính quyền thực hiện tốt chức
năng nhiệm vụ của mình? Cam kết chính trị của lãnh đạo tỉnh có ảnh hưởng như
thế nào đến chất lượng quản trị công cấp tỉnh?
Tuy nhiên, do điều kiện hạn chế về nguồn lực cũng như có điều kiện tìm hiểu sâu nên
chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu của mình trong phạm vi nghiên cứu những nhân tố kể trên
ảnh hưởng đến chất lượng thực (i) hiện chính sách xóa đói giảm nghèo; (ii) việc thực hiện
pháp lệnh dân chủ ở cơ sở;(iii) chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh; và (iv) thủ tục hành chính
trong cấp phép xây dựng.
4
Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời những câu hỏi nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn nghiên cứu Tiền Giang và so
sánh với Long An. Lý do là Tiền Giang và Long An đều thuộc đối tượng nghiên cứu của PAPI
và cùng nằm trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long, có điều kiện tự nhiên khá giống nhau
nhưng kết quả nghiên cứu của PAPI cho thấy từng mặt của quản trị công ở hai tỉnh là rất khác
nhau. Tại Tiền Giang, thành phố Mỹ Tho và huyện Gò Công Tây là đơn vị cấp huyện được lựa
chọn và Phường 7 và Thị trấn Vĩnh Bình là đơn vị cấp xã/phường trong nghiên cứu này.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là nghiên cứu tài liệu có sẵn, phỏng vấn sâu và thảo
luận nhóm. Những kết quả nghiên cứu thông qua phương pháp này theo chúng tôi đã đáp ứng
được việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra ban đầu.
Các cơ quan của Tiền Giang mà chúng tôi đã có các cuộc tọa đàm, phòng vấn là Tỉnh
Ủy, Hội đồng nhân dân Tỉnh, Văn phòng UBND Tỉnh, Sở y tế, Sở lao động thương binh xã
hội, Sở xây dựng, Sở tài chính. Ở cấp huyện, chúng tôi đã có buổi tọa đàm và phỏng vấn cán
bộ văn phòng UBND TP Mỹ Tho và Huyện Gò Công Tây, tại đó có sự tham dự của cán bộ các
phòng ban liên quan như Phòng y tế, Phòng LĐ TBXH, Phòng tài chính, Phòng kinh tế hạ
tầng, Trung tâm y tế thành phố Mỹ Tho, Trung tâm y tế huyện Gò Công Tây. Ở cấp
phường/xã, chúng tôi đã tọa đàm và phỏng vấn cán bộ thuộc Đảng ủy, UBND Phường 7 (TP
Mỹ Tho) và thị trấn Vĩnh Bình (huyện Gò Công Tây).
2. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Tiền Giang
Đặc điểm tự nhiên
5
Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong Vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam; Phía Bắc và Đông Bắc giáp Long An và TP. Hồ Chí Minh, cách
trung tâm TP Hồ Chí Minh khoảng 70 km, phía Tây giáp Đồng Tháp, phía Nam giáp Bến Tre
và Vĩnh Long, phía Đông giáp biển Đông. Tiền Giang nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Tiền
(một nhánh của sông Mê Kông) với chiều dài 120km. Diện tích tự nhiên là 2.481,77 km2,
chiếm khoảng 6% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 8,1% diện tích Vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam, 0,7% diện tích cả nước, trong đó nhóm đất phù sa chiếm 53% tổng diện tích
tự nhiên (125.431 ha) thích hợp cho trồng lúa năng suất cao và vườn cây ăn trái; nhóm đất
mặn chiếm 14,6% tổng diện tích tự nhiên (34.552ha), nhóm đất phèn chiếm diện tích 19,4%
diện tích tự nhiên (45.912ha). Tiền Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện (8 huyện, 01
thành phố, 01 thị xã) và 169 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó, thành phố Mỹ Tho, thủ phủ
của Tỉnh, là đô thị loại 2.
Tiền Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch với nhiều di tích văn hóa lịch sử và
sinh thái như: di tích văn hóa Óc Eo, Gò Thành; di tích lịch sử Rạch Gầm - Xoài Mút, di tích
Ấp Bắc, lũy Pháo Đài; nhiều lăng mộ, đền chùa như lăng Trương Định, lăng Hoàng Gia, lăng
Tứ Kiệt, chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, chùa Sắc Tứ… các điểm du lịch sinh thái mới
được tôn tạo như: vườn cây ăn quả ở cù lao Thới Sơn, Ngũ Hiệp, Trại rắn Đồng Tâm, khu
sinh thái Đồng Tháp Mười, biển Gò Công...
Mạng lưới viễn thông Tiền Giang được hiện đại hóa và triển khai đồng loạt trong toàn
tỉnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong nước và quốc tế. Điện lưới quốc gia đến toàn
bộ trung tâm các xã, phường, thị trấn.
Mạng lưới giao thông đường bộ khá hoàn chỉnh - đặc biệt là tuyến đường cao tốc thành
phố Hồ Chí Minh-Trung Lương vừa mới đưa vào vận hành đã giúp rút ngắn đáng kể khoảng
cách thời gian từ thành phố Mỹ tho đến thành phố Hồ Chí Minh. Mạng lưới sông, rạch chằng
chịt, bờ biển dài thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hoá với các khu vực lân cận đồng
thời là môi trường cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.
Khoáng sản Tiền Giang có mỏ đất sét Tân Lập với trữ lượng hơn 6 triệu m3, chất lượng
tốt, có thể sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp, đồ gốm; và trên 1 triệu m3 than bùn có thể làm
phân vi sinh hữu cơ. Ngoài ra, còn trữ lượng cát dọc sông Tiền phục vụ cho san lấp mặt bằng
và tài nguyên nước khoáng, nước nóng.
6
Hình 1: Hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm 1/1/2009 (Ngàn ha)
Nguồn: TCTK
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, vào thời điểm ngày 1/1/2009, đất đai dành để sản
xuất nông nghiệp đã chiếm trên 70% diện tích tự nhiên toàn Tỉnh (175,5 ngàn ha); đất dành
cho lâm nghiệp là 10 ngàn ha, tương đương 4% diện tích tự nhiên; đất chuyên dùng chiếm
19,6 ngàn ha, tương đương 7,8%, và đất ở chỉ chiếm 8,5 ngàn ha, tương đương 3,4% đất tự
nhiên. Với cơ cấu sử dụng đất đai như vậy cho thấy trong những năm qua kinh tế Tiền Giang
vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, vì vậy việc quy hoạch và sử dụng đất nông nghiệp
thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, đây cũng có thể
là một trong những chỉ số đo lường chất lượng quản trị công của Tiền Giang.
Tình hình kinh tế xã hội Tiền Giang 2010
Năm 2010, giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn Tỉnh theo giá năm 1994 đạt khoảng
13.767 tỷ đồng, tăng 10,6% so với năm 2009. Trong đó, khu vực nông nghiệp tăng 5,5%, khu
vực công nghiệp và xây dựng tăng 16,7%, khu vực dịch vụ tăng 11,5%. Thu nhập bình quân
đầu người đạt 20,9 triệu đồng/người/năm; tương đương 1.094 USD/người/năm. Bảng 1 cho
thấy tốc độ tăng giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn Tỉnh trong 3 năm 2008-2010. Qua bảng 1
cho thấy, nếu số liệu thống kê của Tỉnh là chính xác1, dù kinh tế Việt Nam đang trong giai
đoạn suy thoái nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Tiền Giang là rất cao. Trong khi tốc độ
tăng GDP chung của cả nước chỉ đạt mức 5-6% trong 5 năm qua thì Tiền Giang thường
xuyên đạt tốc độ trên 9%/năm, cao gần gấp đôi so với mức tăng trung của cả nền kinh tế.
1
Thực tế ở Việt Nam, nhiều tỉnh đã báo cáo con số tăng trưởng kinh tế cao hơn hiện thực
7
Bảng 1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước -Theo giá so sánh năm 1994
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước-% Đóng góp
vào tăng
trưởng %
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
(2010)
Tổng số 11,3 9,2 10,6 10,6
Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản 6,5 5,4 5,5 2,0
Khu vực Công nghiệp và xây dựng 16,4 15,3 16,7 4,2
Khu vực Dịch vụ 13,1 9,2 11,5 4,4
Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh Tiền Giang 2010
Hình 2 mô tả cơ cấu kinh tế của Tiền Giang trong các năm từ 2009 đến 2011. Qua cơ
cấu kinh tế của Tỉnh cho thấy, Tiền Giang vẫn là tỉnh sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Tỷ
trọng của nông nghiệp trong giá trị tổng sản phầm thường xuyên ở mức 45%, trong khi công
nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng tương đương nhau, khoảng 26-27%. Nếu so với quan niệm
chung hiện nay là nền kinh tế càng hiện đại thì tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp trong nền kinh
tế càng cao thì cơ cấu kinh tế của Tiền Giang còn khá lạc hậu so với mức trung bình của cả
nước (Cơ cấu GDP của cả nước năm 2010 là nông nghiếp chiếm 20,6%; công nghiệp chiếm
41,1%, và dịch vụ chiếm 38,3%). Tuy nhiên, điều này hoàn toàn có thể giải thích được do
Tiền Giang là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, nơi điều kiện địa
hình, đất đai có lợi thế với phát triển nông nghiệp hơn là phát triển công nghiệp.
Hình 2: Cơ cấu tổng sản phẩm của Tiền Giang
Năm 2009 Năm 2010
8
Năm 2011
Nguồn: Thống kê tỉnh Tiền Giang
Dân số trung bình của Tiền Giang hiện nay đạt khoảng 1,7 triệu người, chiếm khoảng
9,8% dân số Vùng đồng bằng sông Cửu Long, 11,4% dân số Vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam và 1,9% dân số cả nước. Mật độ dân số là 675 người/km2, cao gấp 1,5 lần mật độ dân số
trung bình của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (426 người/km2), cao gấp 3 lần mật độ dân số
trung bình trong cả nước (263 người/km2), cao gấp 2 lần mật độ dân số của Long An, tỉnh mà
chúng tôi cũng khảo sát nghiên cứu ở Khu vực phía Nam.
Là một tỉnh nông nghiệp nên dân số của tỉnh chủ yếu sống ở vùng nông thôn, có tới
86% dân số của Tiền Giang đang sống ở nông thôn, chỉ có 14% dân số sống ở đô thị. So với
mức bình quân của cả nước thì tỷ lệ dân số sống ở nông thôn của Tiền Giang còn quá lớn, cho
thấy có thể tốc độ đô thị hóa của Tỉnh trong những năm qua còn chậm.
Lực lượng lao động (dân số trong độ tuổi từ 15 đến 60) của tỉnh đạt khoảng 1 triệu
người, chiếm 60% dân số. Có thể nói đây là một tỷ lệ khá lý tưởng cho việc phát triển kinh tế
của Tỉnh.
Theo thống kê Tiền Giang, trong những năm qua tình hình dân số khá ổn định, biến đổi
về dân số của Tỉnh chủ yếu là do biến động cơ học gây nên. Năm 2011, tỷ lệ tăng dân số của
Tỉnh là 0,96%. Trong năm, toàn Tỉnh đã tạo việc làm them cho 22.350 lao động; dạy nghề
cho lao động nông thôn, người nghèo, người tàn tật được 8.662 người, đã có 147 người đi
xuất khẩu lao động.
Bảng 2: Dân số và lao động Tiền Giang
Dân số và Lao động 2005 2007 2008 2009 2010
9
Dân số (ngàn người) 1650.1 1661.6 1668.0 1672.8 1677.0
Mật độ DS (người/km2) 664.2 668.9 671.4 673.4 675.1
Thành thị (ngàn người) 222.3 226.3 228.4 229.0 232.4
Tỷ lệ % 13.5 13.6 13.7 13.7 13.9
Nông thôn (ngàn người) 1427.8 1435.3 1439.6 1443.8 1444.6
Tỷ lệ % 86.5 86.4 86.3 86.3 86.1
Lao động (ngàn người) 908.7 993.7 948.4 1018.2 1011.5
Tỷ lệ % 55.1 59.8 56.9 60.9 60.3
Nguồn tổng cục thống kê
Toàn bộ đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của Tiền Giang là 31.170 người, trong đó
có 6.718 cán bộ công chức từ cấp tỉnh đến cấp xã và 24.452 viên chức. Trong tổng số cán bộ
công chức viên chức của tỉnh, số người có trình độ đại học chiếm tỷ lệ cao nhất (55,7%), chỉ
có 15 người có bằng tiến sỹ (chiếm 0,08%); số người có bằng thạc sỹ là 499 người (chiếm
1,6%). Nếu chỉ tính số cán bộ công chức cấp tỉnh (bao gồm cán bộ UBND, các sở, ban ngành
của Tỉnh) thì Tiền Giang có 1068, ít hơn một chút so vớ 1200 người của Long An. Về trình độ
của công chức cấp tỉnh, Tiền Giang có 77,6% có trình độ đại học, cao đẳng, cao hơn mức
trung bình khoảng 70% của Long An. Số cán bộ có bằng sau đại học chiếm 5,6%, cao hơn
mức 3-4% của Long An.
Hình 3: Cơ cấu cán bộ công chức Tiền Giang
Nguồn: Báo cáo của Sở Nội Vụ Tiền Giang
10
Hình 4. Cơ cấu viên chức Tiền Giang
Nguồn: Báo cáo của Sở Nội Vụ Tiền Giang
Về thu chi ngân sách
Theo báo cáo của Sở Tài Chính và Cục Thống kê Tiền Giang, tổng thu ngân sách của
Tỉnh năm 2010 đạt 7.857,2 tỷ đồng. Riêng năm 2011, trong tổng thu ngân sách 6.628,3 tỷ
đồng thì có 3.462,4 tỷ đồng (chiếm 52% tổng thu) là thu từ kinh tế địa phương (bao gồm các
khoản thu nội địa, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu, thu từ xổ số kiến thiết quản lý qua ngân
sách); 1.688,6 (chiếm 25%) tỷ đồng là thu do nhận bổ sung từ ngân sách trung ương; 99,1 tỷ
đồng là thu từ các khoản vay như vay Kho bạc Nhà nước theo Khoản 3 điều 8 Luật ngân sách,
vay tín dụng ưu đãi để phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn..); 1.378,2 tỷ đồng là thu
kết dư từ năm 2010 chuyển sang.
Về chi ngân sách Tỉnh, năm 2010 tổng chi của Tiền Giang đạt mức 7.405,5 tỷ đồng,
trong đó chi thường xuyên là 2.601,8 tỷ đồng, chi đầu tư phát triển là 1.629,2 tỷ đồng, còn lại
là các khoản chi khác và tồn quỹ. Năm 2011, chi ngân sách tỉnh đạt mức 6.197.9 tỷ đồng,
trong đó chi thường xuyên đạt mức 3.266,7 tỷ đồng, chi đầu tư phát triển đạt mức 2.218 tỷ
đồng.
Bảng 3: Thu chi ngân sách (triệu VND)
2010 2011
Tổng thu 7.857.159 6.628.271
Trong đó - thu từ kinh tế địa phương 3.079.140 3.462.420
11
- Thu từ kinh tế nhà nước
197.094 230.000
- Thu thuế công thương nghiệp
790.615 950.000
ngoài QD
398.893 460.000
- Thu từ DN FDI
Tổng chi 7.405.475 6.197.898
Trong đó chi đầu tư phát triển 1.629.226 2.218.040
Chi thường xuyên 2.601.888 3.266.746
Trong đó
- Sự nghiệp kinh tế 282.810 473.573
- Sự nghiệp văn xã 1.613.236 1.996.613
- Quản lý hành chính 534.558 577.166
Nguồn: Niên giám thống kê Tiền Giang.
3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị công cấp tỉnh ở Tiền Giang
Phần này chúng tố sẽ mô tả lại xếp hạng của Tiền Giang trong nghiên cứu PAPI về hiệu
quả của quản trị và hành chính công năm 2010. Sau đó, ở mỗi trục nội dung chúng tôi cố gắng
tìm tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến vị trí của Tỉnh trong bảng xếp hạng và so sánh với
Long An chúng tôi đã khảo sát, nghiên cứu.
3.1. Nội dung thứ nhất: Công khai minh bạch thông qua lựa chọn danh sách hộ nghèo.
Khái niệm minh bạch trong quản trị ở cấp cơ sở được thể hiện trong pháp lệnh dân chủ
cở sở thông qua “quyền được biết” về những quyết định mà chính quyền cấp xã/phường phải
thông báo cho người dân. Những thông tin này thường bao gồm nghị quyết của Hội đồng
Nhân dân và Ủy ban Nhân dân, các chính sách và công cụ pháp lý của nhà nước, các loại phí
hành chính, thuế hay phí của chính phủ, số liệu tài chính hàng năm của xã/phường. Những
thông tin này thường được trình bày dưới hình thức các bản phô-tô dán trên bảng tin bên ngoài
trụ sở ủy ban nhân dân xã/phường/thị trấn.2
Trong nghiên cứu PAPI, chất lượng thực hiện lựa chọn danh sách hộ nghèo nằm ở trục
nội dung thứ 2 “công khai, minh bạch ở cấp tỉnh”. Ở nội dung này Tiền Giang xếp thứ 22/30
được nghiên cứu năm 2010. Trong đó đánh giá của người dân về chất lượng thực hiện chính
sách XĐGN của địa phương được thể hiện qua 3 nội dung chính: (i) nhận thức của người dân
về chuẩn nghèo; (ii) Đánh giá của người dân về việc công khai danh sách hộ nghèo của chính
quyền xã, (iii) nhận thức của người dân về tính chính xác của danh sách hộ nghèo.
PAPI trang 25.
12
Để có thể tìm được câu trả lời thỏa đáng về những nhân tố ảnh hưởng tới kết quả của
Tiền Giang trong công tác xóa đói giảm nghèo. Chúng tôi đã tiến hành đo lường những yếu tố
“đầu vào” từ phía trải nghiệm của đội ngũ cán bộ các cấp – trong đó đặc biệt chú ý tới nhóm
“chức năng” – Sở/phòng Thương binh, Lao động và xã hội trực tiếp thực hiện công tác này.
Theo số liệu thống kê mà chúng tôi nhận được, tỷ lệ hộ nghèo ở Tiền Giang (hình 3)
trong các năm 2005- 2010 có xu hướng giảm mạnh. Riêng năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo của Tiền
Giang tăng lên 9,3% so với mức 7,04% năm 2010. Lý do của sự tăng đột biến này là do Chính
phủ có sự điều chỉnh chuẩn nghèo mới. Nếu so sánh với tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước
thì tỷ lệ hộ nghèo của Tiền Giang cũng thấp hơn nhiều. Ví dụ, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước năm
2009 là 14% (theo chuẩn mới) thì ở Tiền Giang chỉ có 8,28%. Tuy nhiên so với Long An thì tỷ
lệ hộ nghèo của Tiền Giang lại cao hơn (Tỷ lệ hộ nghèo của Long An là 2,2% vào năm 2009).
Mặc dù Long An là tỉnh điều chỉnh tăng chuẩn nghèo so với quy định chung của Chính phủ.
Hình 5: Tỷ lệ hộ nghèo ở Tiền Giang (Đơn vi: %)
Nguồn: Báo cáo giám sát của HĐND Tiền Giang
Tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công khai minh bạch danh sách hộ nghèo ở
Tiền Giang, chúng tôi thấy như sau:
Thứ nhất, về tổ chức thực hiện: Kết quả thu được từ các cuộc tọa đàm, phỏng vấn sâu đội ngũ
cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị của tỉnh cũng như số liệu qua báo cáo hàng năm về
việc tổ chức thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo đều cho thấy: Công tác xóa đói giảm
nghèo của tỉnh Tiền Giang được thực hiện trong sự phối hợp tổng thể với nhiều chương trình
khác nhau bao gồm: chương trình Mục tiêu quốc gia, chương trình giả quyết việc làm, chương
trình cho vay vốn tín dụng ưu đãi cho người nghèo và cho học sinh sinh viên, chương trình cấp
13
phát thẻ BHYT cho người nghèo, Quĩ vì người nghèo, các chính sách hỗ trợ xây mới và sửa
chữa nhà, chính sách hưởng trợ cấp xã hội, trao tặng các thiết bị giúp người tàn tật, hộ trợ tiền
điện theo quyết định số 168/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ.
Quá trình lập danh sách hộ nghèo được thực hiện theo đúng hướng dẫn của Bộ Lao động-
Thương binh xã hội. Hàng năm, trưởng thôn/tổ trưởng dân phố phố hợp với đại diện các tổ
chức đoàn thể xây dựng danh sách hộ nghèo dựa trên hướng dẫn của Bộ LĐ-TBXH. Tiếp đó,
trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân số tổ chức họp dân để đại diện các hộ gia đình thảo luận và thống
nhất về danh sách. Nếu hộ nào nhận được từ 50% trở lên đại diện hộ dân đồng tình thì sẽ được
nằm trong danh sách hộ nghèo. Danh sách này sẽ được lập thành 2 bản, một bản gửi lên
UBND xã/phường để tổng hợp cũng với danh sách của các thôn/tổ dân phố khác và bản được
trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân số giữ. Danh sách hộ nghèo của xã/phường sau đó được niêm yết
công khai để lấy ý kiến phản hồi. Sau đó, danh sách hộ nghèo được gửi lên UBND huyện/quận
để tiếp tục được xem xét kiểm tra. Cuối cùng, huyện/quận tổng hợp toàn bộ danh sách hộ
nghèo của cả huyện và gửi lên Tỉnh để duyệt và gửi lên Bộ LĐ-TBXH.
Hình 6. Đánh giá của người dân về danh sách hộ nghèo
Nguồn: PAPI 2010
Thứ hai, về cam kết chính trị của hệ thống chính trị Tỉnh: Kết quả thu được từ các cuộc tọa
đàm, phỏng vấn sâu đội ngũ cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị của tỉnh cũng như số liệu
qua báo cáo hàng năm về việc tổ chức thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo đều cho thấy: Tổ
chức thực hiện chiến lược XĐGN là một trong những nội dung quan trọng trong kế hoạch phát
triển kinh tế-xã hội của địa phương cũng như trong hội nghị tổng kết cuối năm. Việc tổ chức
các khóa tập huấn ngắn hạn cho cán bộ chuyên trách về lĩnh vực này cũng được quan tâm, đặc
biệt là tập huấn về kiến thức và kỹ năng rà sóat hộ nghèo nhằm đảm bảo sự khách quan, minh
14
bạch trong lập rà soát hộ nghèo. Sự quyết tâm về chính trị của các cấp chính quyền còn được
thể hiện thông qua 3 nghị quyết chuyên đề của HĐND về công tác XĐGN trên địa bàn Tỉnh:
NQ số 20/1997/NQ-HĐND_K5 về chương trình XĐGN đến năm 2000; Nghị quyết số
26//NQ-HĐND_K6 về việc thực hiện nghị quyết về chương trình XĐGN tỉnh Tiền Giang giai
đoạn 2001-2005; Nghị quyết số 85/2006/NQ-HĐND ngày 16/7/2006 về việc thực hiện chương
trình XĐGN- việc làm của Tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2006-2010.
“Về chính sách riêng đối với công tác XĐGN thì đến nay Tỉnh vẫn không có chính sách độc lập thành
văn bản về chính sách XĐGN của Tỉnh, mà chủ yếu thực hiện chính sách XĐGN của Trung ương đưa
về thông qua các quyết định, các thông tư, trong nghị quyết của HĐND thì có lồng ghép chính sách đối
với hộ nghèo VD như miễn phí và lệ phí cho người nghèo, miễn học phí cho học sinh, miễn, rồi chính
sách đất đai, hỗ trợ điện nước cho người nghèo ở nông thôn, hỗ trợ tết…” (Cán bộ HĐND)
Tuy vậy, nếu so sánh với Long An, tỉnh đứng thứ 8 trong nội dung này thì có thể thấy
mức độ cam kêt của các cấp chính quyền Tiền Giang trong công tác XĐGN là thấp hơn so với
các tỉnh lân cận như Long An. Chính quyền các cấp của tỉnh Long An đã có sáng kiến trong
trục nội dung này như: tại mỗi huyện/thành phố chọn một đơn vị xã/phường có điều kiện kinh
tế khó khăn nhất và tỷ lệ hộ nghèo cao nhất được một biên chế cán bộ chuyên trách có năng
lực, nhiệt tình và kinh nghiệm về công tác XĐGN, hưởng lương như những công chức khác.
Qua trao đổi cán bộ tại UBND thành phố Mỹ Tho cũng cho biết khó khăn mà chính quyền
đang đối mặt là ban chỉ đạo giảm nghèo cấp xã không ổn định về nhân sự bởi vậy các hoạt
động thường bị gián đoạn và hiệu quả không cao. Nhiều nơi sự nhiệt tình của đội ngũ cán bộ
trong lĩnh vực này còn hạn chế và hiệu quả hoạt động không cao; quá trình rà soát có lúc có
nơi còn chưa thực sự đảm bảo sự khách quan.
Thứ 3, về nguồn nhân lực cho công tác XĐGN: Giống như Long An, các cấp chính
quyền của Tiền Giang đều có các Ban chỉ đạo “xóa đói giảm nghèo”. Ở cấp tỉnh Ban chỉ đạo
XĐGN do một đồng chí phó chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban, một đồng chí đại diện Sở
LĐTBXH làm phó ban thường trực và lãnh đạo các sở, ban ngành là thành viên. Mô hình này
cũng được áp dụng ở chính quyền cấp huyện. Đối với cấp xã thì Ban chỉ đạo này có sự thay
đổi hơn do cơ cấu bộ máy hành chính. Tuy nhiên, trưởng ban chỉ đạo vẫn là Phó chủ tịch và
cán bộ lao động thương binh - xã hội đảm nhận chức năng thường trực.
Ban chỉ đạo XĐGN cấp tỉnh gồm 21 cán bộ nhưng đều là cán bộ kiêm nhiệm, không có
ai làm chuyên trách bởi vậy tính trách nhiệm và hiệu quả trong công việc cũng bị ảnh hưởng.
15
Tương tự ở cấp huyện mô hình này cũng được vận hành trong cả tỉnh. Ở cấp xã, công tác
XĐGN do một đồng chí cán bộ thương binh – xã hội kiêm nhiệm, được hưởng 200 ngàn
đồng/tháng. Bằng chứng thực tế này cho thấy chế độ phân công cán bộ phụ trách công tác
XĐGN ở Tiền Giang chưa được ưu tiên như ở Long An. Vì cán bộ làm việc kiêm nhiệm, kinh
phí dành riêng cho Ban này cũng không có nên việc ảnh hưởng đến kết quả giảm nghèo cũng
là điều dễ giải thích.
Thứ tư, về nguồn tài chính: Vốn cho chương trình GQVL-GN của tỉnh chủ yếu từ nguồn
ngân sách trung ương. Tỉnh không có chính sách gì riêng biệt về ngân sách cho công tác xóa
đói giảm nghèo. Một phần nhỏ nguồn vốn thực hiện chính sách XĐGN được huy động từ các
nguồn ngân sách địa phương, các tổ chức tín dụng và đặc biệt là quỹ của các hội do hội viên tự
đóng góp.
Nghiên cứu trường hợp tại huyện Gò Công Tây cho thấy Tại huyện đã lập Ban chỉ đạo
công tác xóa đói giảm nghèo gồm 17 thành viên, trong đó Phó chủ tịch huyện làm Trưởng ban,
Trưởng phòng Lao động Thương binh xã hội làm phó thường trực và các ban ngành khác của
huyện là thành viên. Ban này hoạt động có sự phân vai và giao nhiệm vụ mỗi thành viên theo
dõi một xã. Chế độ hội họp một năm 2 lần. Tuy nhiên trên thực tế chúng tôi cho rằng, vai trò
chính vẫn thuộc về tổ công tác của phòng LĐ, TB và XH. Cán bộ ở phòng này có thâm niên
công tác 5 – 10. Mỗi xã phân công một cán bộ ở xã làm kiêm nhiệm với mức trợ cấp 200.000
đ/tháng. Tuy nhiên, qua trao đổi chúng tôi cho rằng đội ngũ cán bộ chuyên trách ở cấp huyện
và đặc biệt là cấp xã thiếu những kỹ năng và ít sáng tạo trong lĩnh vực này. Việc tập huấn, bổ
sung các kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ này cần có sự tập trung trọng điểm hơn, bởi lẽ họ là
người trực tiếp hỗ trợ và giúp đỡ hộ nghèo. Thậm chí có nhiều đơn vị xã phường tại thời điểm
mà chúng tôi khảo sát vẫn chưa hoàn thành được việc rà soát, thống kê hộ nghèo của đơn vị
mình.
Một số khó khăn, thách thức gặp phải
Qua tọa đàm, trao đổi với cán bộ Ban chỉ đạo XĐGN của Tỉnh, chung tôi nhận được ý kiến
phải hồi về những khó khăn mà Ban gặp phái khi thực hiện công tác XĐGN nói chung, lên
danh sách hộ nghèo nói riêng như sau.
 Việc phân cấp tài chính chỉ thực hiện đến cấp huyện; tuyến xã/phường không được
chủ động về nguồn tài chính cho công tác XĐGN. Vì vậy, khi được hỏi: nguồn tài
chính thực hiện XĐGN từ đâu thì một số cán bộ Ban XĐGN cấp xã/phường trả lời
16
không thống nhất. Có thể đây là một nguyên nhân khiến các Ban XĐGN cấp
xã/phương thiếu chủ động khi rà sóat hộ nghèo.
 Tỉnh chưa có sáng kiến về CS XĐGN so với LA; không có cán bộ chuyên trách; trình
độ thấp – chủ yếu trình độ trung cấp; ít được tập huấn đào tạo; tính luân chuyển cao;
kinh nghiệm làm việc chủ yếu là 5 năm.
 Phiếu thống kê hộ nghèo phức tạp– khó khăn cho cán bộ Ban XĐGN trong việc rà
sóat và lập lên DS hộ nghèo
Tóm lại, so sánh với Long An, nhóm nghiên cứu nhận định, mặc dù điều kiện tự nhiên khá
giống với Long An, số lượng và cơ cấu ban chỉ đạo XĐGN ở các cấp, quy trình bình xét hộ
nghèo cùng được thực hiện theo hướng dẫn chung của Bộ LĐTBXH nhưng Tiền Giang bị
đánh giá thấp hơn về công tác XĐGN là do thiếu sự cam kết chính trị mạnh mẽ của chính
quyền các cấp đối với công tác này, đồng thời Tỉnh cũng đầu tư ít hơn về nguồn lực làm công
tác XĐGN và tài chính. Tiền Giang không có cán bộ chuyên trách làm công tác XĐGN như
Long An, chuẩn nghèo của Tỉnh vẫn giữ nguyên so với mức chung của cả nước.
3.2. Nội dung thứ hai. Chất lượng dịch vụ y tế
Trong nghiên cứu PAPI, chất lượng dịch vụ y tế được nghiên cứu ở trục nội dung thứ 6
“cung ứng dịch vụ công”. Trong đó, PAPI nghiên cứu bốn dịch vụ công chủ yếu đó là lĩnh vực
y tế, lĩnh vực giáo dục tiểu học công lập, cơ sở hạ tầng cơ bản và an ninh trật tự. Trong khảo
sát này chúng tôi chỉ tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế bao gồm các
nguồn lực: bác sĩ, trang thiết bị y tế và nguồn lực tài chính được phân bổ. Với trục nội dung
này Tiền Giang vẫn là tỉnh bị xếp thấp hơn so với Long An.
Hình 7: Đánh giá của người dân về dịch vụ y tế
Nguồn: UNDP
17
Một số yếu tố “đầu vào” ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế của Tiền Giang có thể
trình bày như sau:
Thứ nhất, về nguồn nhân lực: Theo báo cáo của Sở y tế Tiền Giang, số lượng cán bộ y
dược trên địa bàn Tỉnh liên tục tăng lên trong những năm qua. Năm 2010, toàn tỉnh có 829 cán
bộ dược, 3.197 cán bộ ngành y, trong đo có 809 bác sỹ. Tính trung bình có 4,9 cán bộ dược
sỹ/vạn dân, 19,1 cán bộ y tế/vạn dân, những nếu tính riêng số bác sỹ thì chỉ đạt 4,87 bác
sỹ/vạn dân, tỷ lệ BS/giường bệnh ở Tiền Giang đạt mức 0,25 (xem bảng dưới).
Để đảm bảo lực lượng cán bộ y tế đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân,
thời gian qua Tiền Giang đã thực hiện nhiều biện pháp thu hút cán bộ về công tác tại địa
phương, đặc biệt là những người đã có bằng đại học trở lên. VD, từ năm 2010, Tỉnh nâng mức
hộ trợ thêm cho cán bộ y tế xã phường từ mức 300.000 đ/tháng lên 600.000 đ/tháng. Ngoài ra,
thông qua dự án hô trợ y tế cho vùng Đồng bằng song Cửu Long, Tỉnh đã cử đi đào tạo 220
người (CK I 97 người; CKII 22 người, thạc sỹ 8 người, chuyên tu 88 người, chuyên khoa sơ
bộ 5 người) và tổ chức đào tạo ngắn hạn cho 335 cán bộ y đang công tác trong ngành.
Sở y tế Tiền Giang cũng đã liên kết với các trường ĐHY Dược để cử cán bộ đi đào tạo
nâng cao, đào tạo theo địa chỉ 77 người có trình độ đại học và sau đại học, trong đó có 24
người được đào tạo sau đại học (cao học, 24 người; chuyên khoa II, 5 người; chuyên khoa I 13
người); đại học có 53 người (bác sỹ đa khoa, 28 người; bác sỹ y học cổ truyền, 5 người; dược
sỹ, 8 người; và CN Y các loại, 12 người).
Bảng 4: Thống kê ngành y tế
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Số cán bộ dược 549 551 622 773 855 829
Số cán bộ Y 2392 2500 2630 2856 2935 3197
Trong đó BS 664 691 744 757 774 809
Số giường bệnh 2801 3016 3175 3197 3608 3210
Nguồn: Tổng cục thống kê
18
Hình 8: Thống kê y tế Tiền Giang
Nguồn: Tổng cục thống kê
Mặc dù đã có nỗ lực rất lớn từ phía chính quyền, đặc biệt là Sở Y tế, nhưng so với Long
An thì Tiền Giang chỉ nhiều hơn về chỉ số dược sỹ/vạn dân và số BS/vạn dân trong khi chỉ số
số cán bộ y tế/vạn dân và số giường bệnh/vạn dân lại thấp hơn của Long An.
Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao Tiền Giang lại bị đánh giá thấp hơn, chúng tôi so
sánh hai trung tâm y tế: Gò Công Tây của Tiền Giang và Thạnh Hóa của Long An (cả hai
Huyện này đều được nghiên cứu PAPI khảo sát), con số cụ thể của năm 2010 như sau.
Bảng 5: Thống kê của bệnh viện
Gò Công Tây (TG) Thạnh Hóa (LA)
Dân số (người) 127.836 54.688
Số giường bệnh 82 70
Số GB/vạn dân 6,4 12,8
Số nhân viên 82 103
Trong đó: số BS 17 22
Số BS/vạn dân 2,7 5,8
Số BS/GB 0,2 0,26
Số lượt khám bệnh 261.768 55.553
Báo cáo của Trung tâm y tế Gò Công Tây và Thạnh Hóa
Bảng 5 thống kê cơ sở vật chất và nhân viên y tế tại 2 bệnh viện chúng tôi khảo sát. Rõ
ràng các thống kê đều cho thấy, các yếu tố đầu vào của Thạnh Hóa (Long An) tốt hơn nhiều so
với Gò Công Tây (Long An). Hình 9 dưới đây so sánh kinh nghiệm làm việc của hai bệnh
19
viện. Ở Gò Công Tây có tới 53% nhân viên y tế đã làm việc trên 20 năm trong khi ở Thạnh
Hóa (Long An) chỉ khoảng 10%. Số năm kinh nghiệm nhiều là một lợi thế của Gò Công Tây,
nhưng theo ý kiến của lãnh đạo trung tâm, hiện bệnh viện rất thiếu BS, đặc biệt là BS chuyên
khoa nhưng do thu nhập của cán bộ y tế thấp nên trong nhiều năm qua Trung Tâm không thể
tuyển được BS mới về. Có lẽ đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự đánh giá
của người dân về chất lượng dịch vụ y tế tại Tiền Giang ở vị trí rất “khiêm tốn”.
Hình 9:Kinh nghiệm của cán bộ y tế bệnh viện
Báo cáo của Trung tâm y tế Gò Công Tây và Thạnh Hóa
Thứ hai, về trang thiết bị của bệnh viện: Tại các bệnh viện, trang thiết bị thường do
chính quyền trung ương mà đại diện là Bộ y tế cung cấp theo các chương trình mục tiêu. Khi
máy móc thiết bị hư hỏng thì bệnh viện tự phải bỏ tiền để sửa chữa – nguồn kinh phí chủ yếu
được ứng từ khoán chi cho bệnh viện, và đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh
hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế công. Trong quá trình phỏng vấn, rất nhiều ý kiến chia sẽ
với chúng tôi về vấn đề này. Bởi lẽ, trang thiết bị y tế chi phí rất cao trong lúc kinh phí phân
cấp lại quá eo hẹp. Tuy nhiên, tình hình này cũng đã được cải thiện hơn vì trong những năm
vừa qua, bệnh viện đã được trang bị thêm nhiều máy móc thiết bị phục vụ chuyên môn từ
nguồn trái phiếu của Chính phủ.
Thứ ba, về nguồn tài chính của các bệnh viện: Ngoài nguồn thu là viện phí, trong các
năm 2009-2010, các bệnh viện Tiền Giang được ngân sách tỉnh cấp 27 triệu đồng/giường
bệnh/năm cho bệnh viện hạng hai, 25,5 triệu đồng/giường bệnh/năm cho bệnh viện hạng ba
(Tỉnh không có bệnh viện hạng 1). Con số này đã được nâng lên mức 51 triệu đồng/giường
bệnh/năm với bệnh viện hạng hai và 50,5 triệu đồng/giường bệnh/năm. Như vậy, nguồn đầu tư
20