Một số giải pháp tăng vốn chủ sở hữu cho các ngân hàng thương mại việt nam nhằm phù hợp với sức ép tăng vốn của bối cảnh hội nhập

  • 129 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đối với những khởi
sắc của nền kinh tế trong suốt thời gian qua là không thể phủ nhận. Như huyết
mạch của thị trường tài chính - tiền tệ nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói
chung, các ngân hàng thương mại đã luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc tận
dụng và phát huy các nguồn lực tài chính trong nước, đáp ứng nhu cầu tín dụng
của đông đảo đối tượng và thành phần kinh tế, phục vụ đắc lực cho việc phát
triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vị trí ấy đang bị lung lay, vì cùng với sự hội
nhập quốc tế ngày càng chủ động và tích cực hơn của Việt Nam trong thời gian
gần đây, thị trường tài chính - ngân hàng sẽ mở rộng cửa cho các nhà đầu tư
nước ngoài. Việc cạnh tranh là không thể tránh khỏi, do đó năng lực cạnh tranh
là vấn đề then chốt.
Bàn về năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam, có rất nhiều điều để trăn trở: trình độ phát triển thị trường và trình độ quản
lý thấp, chất lượng tài sản không cao, công nghệ ngân hàng lạc hậu, dịch vụ còn
giới hạn, v.v…Song, một trong những hạn chế lớn nhất, ảnh hưởng cơ bản nhất
đến khả năng cạnh tranh của các định chế tài chính này tại Việt Nam chính là
tiềm lực tài chính còn hết sức yếu kém, mà Vốn chủ sở hữu là thước đo cho tiềm
lực ấy.
Nếu ngân hàng có thể hoạt động và lớn mạnh như một cây cổ thụ, thì vốn
chủ sở hữu chính là rễ của cái cây đó. Không chỉ tạo cơ sở hình thành và điều
kiện mở rộng cho ngân hàng, trong suốt quá trình hoạt động, nguồn vốn ấy luôn
đóng vai trò là tấm đệm chống đỡ mọi tổn thất đến từ lĩnh vực kinh doanh chứa
đựng đầy rủi ro này. Có thể nói, vốn chủ sở hữu là xuất phát điểm đầu tiên, và
cũng là cứu cánh cuối cùng cho mọi ngân hàng duy trì được sự tồn tại và phát
triển của mình. Một mức vốn chủ sở hữu đủ lớn sẽ giúp tránh được những vụ
phá sản ngân hàng _ một tai họa đem lại ảnh hưởng bất lợi đối với nền kinh tế
có lẽ là hơn bất cứ loại hình doanh nghiệp nào khác. Vì vậy, tìm hiểu sâu về
1
thực trạng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, và
những sức ép tăng nguồn vốn này trong thời gian tới là một việc làm rất thiết
thực và cấp bách, đặc biệt khi mà tài chính - ngân hàng là một trong những lĩnh
vực được mở cửa mạnh nhất sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) vào cuối năm 2006 vừa qua.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ những căn cứ lýý luận và thực tiễn để khẳng định vai trò
thiết yếu của vốn chủ sở hữu và hệ số an toàn vốn đối với các ngân hàng thương
mại; đồng thời nghiên cứu một số kinh nghiệm tăng vốn chủ sở hữu của các
nước trên thế giới, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.
Thứ hai, tìm hiểu và đánh giá thực trạng vốn chủ sở hữu và hệ số an toàn
vốn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua, những
kết quả, tồn tại và nguyên nhân.
Thứ ba, phân tích sức ép tăng vốn chủ sở hữu đối với các ngân hàng
thương mại Việt Nam trong tương lai gần; từ đó đề xuất một số giải pháp và
kiến nghị phù hợp với điều kiện và tình hình của hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Với thực tế là sức ép sẽ đến chủ yếu với bộ phận các ngân hàng thương
mại bản địa, cũng như mong muốn rằng các ngân hàng được thành lập bởi
những nguồn lực nước nhà không dần mất đi vị thế của mình trên thị trường,
khóa luận chỉ xin tập trung vào các ngân hàng thương mại do phía Việt Nam
nắm quyền chi phối, bao gồm các ngân hàng thương mại: Nhà nước, Cổ phần và
Liên doanh, trong khoảng thời gian từ năm 2000-2007.
4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp biện chứng trong nghiên cứu khoa học, Khóa
luận chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu: thống kê, tổng kết thực
tiễn, phân tích và khái quát.
5. Bố cục của Khóa luận
2
Chương I: Lýý luận chung výề Vốn Chủ Sở Hữu và Hệ số an toàn vốn của
các ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại
Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp tăng vốn chủ sở hữu cho các ngân hàng
thương mại Việt Nam nhằm phù hợp với sức ép tăng vốn của bối cảnh hội nhập.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - giảng viên khoa Tài Chính Ngân
Hàng của trường Đại học Ngoại Thương, đã hết sức tận tình chỉ bảo và giúp đỡ
em hoàn thành Khóa Luận này.
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG I
LÝý LUẬN CHUNG VýỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ HỆ SỐ AN TOÀN
VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1. Khái niệm
Ngân hàng (NH) là một trong các định chế tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Có thể định nghĩa NH qua các chức năng, dịch vụ, hoặc vai trò mà
chúng thực hiện, nhưng những yếu tố trên đang không ngừng thay đổi: Rất
nhiều tổ chức tài chính_bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, môi
giới chứng khoán, quỹ tương hỗ hay công ty bảo hiểm…đang nỗ lực cung cấp
các dịch vụ ngân hàng; Ngược lại, NH cũng đang đối phó với các đối thủ cạnh
tranh (các tổ chức tài chính phi NH) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch
vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, đầu tư vào quỹ tương hỗ, v.v...Do
đó, cách tiếp cận thận trọng nhất có lẽ là xem xét NH trên phương diện những
loại hình dịch vụ mà nó cung cấp. Theo cách này:“Ngân hàng là các tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất _ đặc biệt là
tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [10]. Cũng có
một số định nghĩa dựa trên các hoạt động chủ yếu của NH, ví dụ tại Việt Nam
theo Điều 1_Khoản 3 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các TCTD (số
20/2004/QH11): “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”, trong
đó: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cung cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Có nhiều cách phân loại NH: Theo chức năng, có NHTW và NHTM; Theo
mục đích và phạm vi hoạt động có: NHTM, NH phát triển, NH đầu tư, NH
chính sách, NH hợp tác và các loại hình NH khác. Theo cách nào thì trong hầu
4
hết mọi nền kinh tế, NHTM vẫn thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài
sản, thị phần và số lượng NH. Về cơ bản, có thể nói điểm phân biệt NHTM với
các loại hình NH khác là: NHTM hoạt động vì mục đích lợi nhuận (trong khi
NHTW làm nhiệm vụ chính là quản lýý, thực thi và giám sát chính sách tiền tệ,
đóng vai trò điều tiết, là NH của các NH trong nền kinh tế; còn các NH chính
sách, phát triển hay đầu tư lại ưu tiên thực hiện những chính sách phát triển kinh
tế của Nhà nước, trợ giúp người nghèo, đầu tư dự án, v.v…). Do đó khi nói đến
NH, nhìn chung có thể hiểu đó là NHTM, vì chúng thực hiện được tất cả những
chức năng, nhiệm vụ và hướng tới cung cấp tất cả những dịch vụ ngân hàng mà
không bị giới hạn bởi các mục đích khác. NHTM cũng được phân loại theo
nhiều cách. Theo hình thức sở hữu: NHTM Nhà nước, tư nhân, cổ phần, liên
doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài; Theo tổ chức hoạt động: Bán lẻ và Bán
buôn; Chuyên doanh và Đa năng; Theo cơ cấu tổ chức: Sở hữu công ty và
Thuộc sở hữu công ty; Đơn nhất và Có chi nhánh.
NHTM thực hiện những chức năng vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế:
- Trung gian tín dụng: Trong hầu hết mọi nền kinh tế, NH là tổ chức thu hút
tiền tiết kiệm lớn nhất: Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và các tổ
chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại NH, vì thế NH đóng vai trò thủ quỹ cho
toàn xã hội; Ngược lại, NH cũng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh
nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần với Nhà nước (tỉnh, thành phố,...); Các
khoản tín dụng của NH cho Chính phủ (thông qua việc mua các chứng khoán
của Chính phủ) là nguồn tài chính quan trọng để đầu tư phát triển; Đối với các
doanh nghiệp, NH thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ mua hàng
hóa dự trữ, xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị, v.v...
- Trung gian thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc
mua hàng hóa và dịch vụ bằng cách phát hành séc, thẻ, ủy nhiệm chi,…cung cấp
mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy, tiền đúc.
- Tạo tiền: xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và than toán mà NH có
khả năng “tạo tiền”. Từ một khoản tiền gửi ban đầu vào NH, thông qua cho vay
5
bằng chuyển khoản (vì không phải mọi khoản vay đều được rút ra bằng tiền mặt
để đưa vào lưu thông), các NH nhân số tiền đó lên rất nhiều lần.
2. Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
Các NHTM có những nghiệp vụ là: Nghiệp vụ tài sản nợ _ là nghiệp vụ huy
động, tạo nguồn vốn (với các dịch vụ như nhận tiền gửi, đi vay, phát hành kỳ
phiếu, trái phiếu, v.v.); Nghiệp vụ tài sản có _ là việc sử dụng những nguồn vốn
tạo dựng được vào các hoạt động kinh doanh (cho vay, thuê mua, tài trợ dự án,
đầu tư chứng khoán. v.v..) ; Nghiệp vụ trung gian (hoạt động ngoại bảng) _ là
các nghiệp vụ mà NHTM thực hiện căn cứ theo yêu cầu của khách hàng, thay
mặt khách hàng thanh toán, làm ủy thác,v.v.. để thu phí (bảo lãnh, đại lýý, quản
lýý ngân quỹ, v.v..). Cùng với sự phát triển của nền kinh tế cũng như ngành
ngân hàng nói riêng, số dịch vụ mà NHTM cung cấp cho ba nghiệp vụ nói trên
hiện nay đã lên tới con số 6.000.
Với những chức năng và nghiệp vụ nói trên, NHTM có vai trò bôi trơn sự
lưu thông của tiền tệ, chuyển dịch vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, huy động và
tạo nguồn lực phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách của Chính phủ (đặc
biệt là chính sách tiền tệ), góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi
các mục tiêu xã hội.
3. Ngân hàng _ ngành kinh doanh có độ rủi ro cao
Lĩnh vực kinh doanh nào cũng luôn hàm chứa rủi ro, song đối với NH _ với
tư cách là một định chế tài chính đặc biệt _ nhân tố này lại càng là một yếu tố
thường trực và đa dạng hơn nữa. Các nhà quản trị NH liên tục phải đối mặt với
vô số rủi ro đến từ: sự thay đổi lãi suất (Rủi ro lãi suất), khả năng không thể chi
trả đúng hạn của khách hàng (Rủi ro tín dụng), nhu cầu rút vốn ồ ạt của khách
hàng (Rủi ro thanh khoản), những bất lợi trong tỷ giá (Rủi ro ngoại hối), Rủi ro
công nghệ , Rủi ro hoạt động ngoại bảng, Rủi ro quốc gia, chiến tranh, thay đổi
chính sách thuế, v.v…
6
* Góp phần tạo nguồn lực làm nên những chức năng, vai trò đó của NHTM,
đồng thời hạn chế ảnh hưởng của vô số những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng nêu trên chính là yếu tố Vốn chủ sở hữu.
II. Vốn chủ sở hữu và Hệ số an toàn vốn (CAR) của ngân hàng thương mại
1.Vốn chủ sở hữu đối với ngân hàng thương mại
1.1. Khái niệm
VCSH của NHTM có thể được hiểu là nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp
của chủ NH trong một thời gian dài, chủ yếu bao gồm các khoản vốn NH được
cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng khi mới thành lập,
cộng với những khoản được trích lập, giữ lại từ lợi nhuận hoạt động. Về cơ bản,
cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, VCSH không phải hoàn trả, chủ NH
có thể tăng, giảm (với sự đồng ýý ýcủa cơ quan chức năng), thay đổi cơ cấu của
VCSH, hoặc quyết định các chính sách phân phối lợi nhuận vốn dĩ có ảnh hưởng
trực tiếp đến nguồn vốn này. Song, là một định chế tài chính đặc biệt, VCSH
của NHTM mang một số điểm riêng có như về thành phần của vốn, vai trò của
vốn, v.v... Với chức năng là trung gian tín dụng, NHTM chỉ lấy VCSH làm bàn
đạp ban đầu; Còn lại, họ không ngừng huy động tiền của các chủ thể khác trong
xã hội và nền kinh tế để tài trợ cho các hoạt động của mình. Do đó, ngay cả khi
gia tăng về số lượng tuyệt đối theo đà phát triển của NH, VCSH vẫn chỉ chiếm
một tỉ trọng nhỏ, đôi khi là rất nhỏ (như trường hợp các NHTM Việt Nam) trong
tổng nguồn vốn của NH. ví dụ: tại Deutsche Bank (một trong những NH hàng
đầu Châu Âu và thế giới, có lịch sử từ năm 1876), đến 31/12/2006: Tổng nguồn
vốn là 1.126 tỷ Euro, trong khi VCSH chỉ là 32,8 tỷ Euro [43xxviii]. Tuy nhiên,
chiếc bánh xe nhỏ ấy lại là khớp nối cho cả guồng máy ngân hàng, đóng vai trò
sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo khả năng phát
triển lâu dài của NHTM, đồng thời các thành phần của VCSH cũng được phân
loại một cách chi tiết để đáp ứng các công tác đánh giá vốn của NH (sẽ đề cập ở
các phần sau).
7
Năm 1988, Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (Basel Committee on
Banking Supervision) đã đưa ra văn bản: “Sự thống nhất quốc tế về đo lường
vốn và các tiêu chuẩn vốn” (International Convergence of Capital Measurement
and Capital Standards ), trong đó đưa ra định nghĩa dựa trên các thành phần của
vốn tại NHTM (Capital*)_ mà bản chất là VCSH. Từ đó đến nay, đặc biệt là
trong thời gian gần đây khi thị trường tài chính phát triển hết sức sôi động, hầu
hết các NH trên thế giới đều áp dụng những chuẩn mực phân loại đó. Các nhà
kinh tế và học giả Việt Nam cũng đi theo tinh thần của văn bản trên, song lại
thiếu sự thống nhất về tên gọi. Điều này khiến cho việc tìm hiểu bản chất của
phạm trù VCSH sao cho đúng với thông lệ quốc tế và pháp luật Việt Nam có
phần phức tạp. Trong những tài liệu thuộc lĩnh vực NH (của Việt Nam hoặc
được dịch sang tiếng Việt), các tác giả đưa ra nhiều cách gọi tên khác nhau khi
đề cập đến VCSH của NHTM: “Vốn tự có”[7][11][13]; hoặc “VCSH”[4][5][6]
[10]; hoặc đồng nhất các khái niệm “Vốn”, “Vốn tự có”, “VCSH” [12]. Trong
các văn bản luật có liên quan, như Luật các tổ chức tín dụng (Số 02/1997/QH10)
Chương I_Điều 20_khoản 13 và bản sửa đổi bổ sung (Số 20/2004/QH11) Điều
1_khoản 3, hay trong một văn bản quan trọng có đề cập trực tiếp những vấn đề
về vốn của NH là Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của
TCTD (Số 457/2005/QĐ-NHNN) Phần II_Mục I_Điều 3, cũng chỉ đưa ra khái
niệm “Vốn tự có”. Tuy nhiên, như đã nói, xét về mặt bản chất, sau khi tổng kết
nội dung các cuốn sách, nghiên cứu khoa học, và báo chí của Việt Nam bàn về
vốn chủ tại NHTM, thì có thể thấy gốc rễ quan điểm của các tác giả đều thống
nhất; tuy cách gọi khác nhau nhưng nội hàm và ngoại diên đều tương tự và đi
theo tinh thần lý luận của Hiệp ước Basel †. Vì vậy, để phù hợp với tính chất của
VCSH trong tương quan với các khoản Nợ, nhằm thấy rõ những nguồn lực thực
sự thuộc về chủ ngân hàng, trong khuôn khổ Khóa luận này, người viết xin sử
dụng thuật ngữ Vốn chủ sở hữu.
* Với các doanh nghiệp phi tài chính, VCSH tiếng Anh được gọi là: Shareholders’ equity, Stockholders’
equity, Ownership’s equity.
† Xem chi tiết ở mục 1.2.2 của phần này.
8
1.2. Các thành phần của VCSH tại các NHTM **
Có thể phân loại VCSH của NHTM theo một số tiêu chí khác nhau:
1.2.1. Phân loại theo sự hình thành nguồn vốn
a) VCSH ban đầu
Đây là nguồn vốn hình thành khi NH được thành lập. Tại Việt Nam, nó còn
được gọi là Vốn điều lệ _ ghi rõ trong điều lệ hoạt động của tổ chức. Vốn này có
thể được tạo ra bằng nhiều cách, tùy thuộc vào tính chất sở hữu của NH: Vốn
của NHTMNN do Nhà nước cấp từ ngân sách bằng tiền hoặc trái phiếu chính
phủ; của NHTM tư nhân do cá nhân tự ứng ra; của NHTM Liên doanh do các
bên tham gia liên doanh đóng góp; của NHTMCP do các cổ đông góp thông qua
việc mua cổ phiếu, và được tính theo mệnh giá cổ phiếu. Vốn điều lệ của
NHTMCP bao gồm các loại:
Vốn cổ phần phổ thông: được tính bằng mệnh giá của tất cả các cổ phiếu phổ
thông (cổ phiếu thường) đã phát hành, nghĩa là tổng số cổ phần chưa thanh toán
nhân với mệnh giá cổ phần.
Vốn cổ phần ưu đãi: được tính bằng mệnh giá của tất cả các cổ phiếu ưu đãi
đã phát hành. Cổ phiếu ưu đãi có thể là vĩnh viễn hoặc chỉ tồn tại trong một thời
gian nhất định, đảm bảo một tỉ lệ thu nhập cố định hoặc số phiếu biểu quyết
nhiều hơn so với cổ phiếu thường. Theo quyết định ngày 4/9/2001 của Thống
đốc NHNN Việt Nam quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệ của
NHTMCP của Nhà nước và Nhân đân (Số 1122/2001/QĐ-NHNN) Chương
II_Mục 1_Điều 7: “NHTMCP có thể có cổ phần ưu đãi biểu quyết; Loại cổ phần
này chỉ có giá trị trong 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kýýý
kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết chuyển đổi thành cổ
phần phổ thông”.
Trong nhiều trường hợp, mức vốn điều lệ của mỗi NH phải tuân thủ theo
định mức của các cơ quan quản lý Nhà nước _ mức vốn tối thiểu cần đáp ứng đó
được gọi là Vốn pháp định. Vốn điều lệ chủ yếu được dùng để mua sắm bất
động sản, động sản, trang thiết bị …phục vụ cho hoạt động của NH, bên cạnh đó
** Tham khảo ví dụ ở Bảng phụ1 và Bảng phụ 2 phần Phụ lục.
9
còn dùng để góp vốn liên doanh, cho vay, mua cổ phần của các công ty khác,
chứ không được dùng để chia lợi tức hay lập quỹ. Có nghĩa là, khi NH đi vào
hoạt động, nguồn vốn này có thể đã nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi,
dự trữ hay kýý quỹ tại NHTW, hoặc đã được đưa vào một vụ cho vay hay đầu tư
nào đó. Ngoài ra, vốn điều lệ có thể được tăng thêm, và ngược lại, cũng có thể bị
buộc phải điều chỉnh giảm. Tại Việt Nam điều này được quy định tại Điều
1_Khoản 1, Quyết định 797/2002/QĐ-NHNN ngày 29/7/2002 về sửa đổi bổ
sung quyết định 1122/2001/QĐ-NHNN, trong đó nêu một số chi tiết như: “Vốn
điều lệ của Ngân hàng thương mại cổ phần có thể được tăng bằng cách phát
hành cổ phiếu mới hoặc được bổ sung từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, đánh
giá lại tài sản cố định và các quỹ khác…nhưng phải được Đại hội đồng cổ đông
thông qua và phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi
thực hiện.”; “buộc phải giảm vốn điều lệ: Lỗ trong 03 năm liên tiếp; Các khoản
vốn đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hoặc quyết định
là tổn thất trong hoạt động sau khi đã xử lý trích lập dự phòng rủi ro;. Số vốn
góp có nguồn gốc không hợp pháp hoặc người góp vốn không đảm bảo tư cách
cổ đông theo kết luận của Thanh tra; Giảm giá tài sản cố định khi đánh giá lại tài
sản theo quy định của pháp luật.”
b)VCSH hình thành trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, NH có thể được cấp bổ sung vốn, phát hành thêm
cổ phần, hưởng thặng dư vốn, để lại những khỏan lợi nhuận tích lũy, các quỹ…:
i. Vốn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước hoặc thông qua phát hành cổ
phần
Để mở rộng quy mô hoạt động hoặc tăng cường khả năng chống đỡ với rủi
ro,
NH có thể xin (hoặc được) cấp thêm vốn ngân sách (còn gọi là tái cấp vốn), hay
phát hành thêm cổ phần. Những nguồn này đều tính vào cho VCSH của NH.
ii. Thặng dư vốn
Nguồn vốn này cũng có thể được hình thành ngay từ khi NH mới thành lập,
hoặc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), và tiếp tục có khả năng
10
tăng lên khi NH phát hành cổ phiếu mới ở những lần tiếp theo, hay trong quá
trình chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường. Đây là phần giá trị thị
trường của các cổ phiếu vượt quá mệnh giá mà các cổ đông sẵn sàng trả cho
NH.
iii. Lợi nhuận không chia
Kết thúc mỗi kỳ kinh doanh của NH, lợi nhuận sau thuế, sau khi đã bù đắp
các khoản chi phí đặc biệt, thường được chia làm hai phần: một phần để chi trả
cổ tức cho các cổ đông nắm giữ cổ phiếu của NH, phần còn lại được bổ sung
vào nguồn VCSH dưới tên gọi “Lợi nhuận giữ lại”. Thực chất, đây vẫn là vốn
của các cổ đông, chủ sở hữu NH, nhưng đã được vốn hóa để mở rộng quy mô
cho VCSH, tái đầu tư, và trích lập các quỹ. Trên thực tế, đối với các NH nước
ngoài, đây lýà nguồn quan trọng nhất để tăng quy mô VCSH nói riêng và vốn
NH nói chung: giai đoạn cuối thập niên 80 - đầu thập niên 90, khoảng 70% số
gia tăng về vốn là xuất phát từ lợi nhuận giữ lại [7].
iv. Các quỹ/ khoản dự trữ
Trong quá trình hoạt động, các NH hoặc do tuân theo quy định của nhà nước,
hoặc do tự nhận thấy cần thiết để đảm bảo hoạt động và đề phòng rủi ro, đều
tiến hành trích lập các quỹ dự trữ. Có nhiều loại quỹ khác nhau:
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: được trích lập hàng năm theo tỷ lệ phần trăm
trên tổng lợi nhuận sau thuế, với một mức tối đa do nhà nước quy định.
- Quỹ bảo toàn vốn: tính theo tỉ lệ lạm phát, nhằm bảo toàn giá trị của VCSH
trong môi trường lạm phát của nền kinh tế.
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Kinh doanh NH luôn gắn liền với rủi ro. Vì vậy,
để dự phòng nguy cơ các tài sản bị tổn thất, vốn bị ăn mòn, các NH đều trích
lập các khoản dự trữ nhằm bù đắp những thiệt hại khi xảy ra tình huống bất
thường. Do quỹ này được trích từ lợi nhuận trước thuế _ tính chất như một
khoản chi phí, nên một số NH không hạch toán nó vào VCSH mà vào các
khỏan nợ. Nếu được liệt kê vào VCSH, khi tổn thất thực của NH nhỏ hơn số
trích lập, vốn chủ của NH sẽ gia tăng, và ngược lại. Như vậy, quy mô của quỹ
này phụ thuộc vào tổn thất ròng, thu nhập của NH, và tỉ lệ trích lập quỹ.
11
Ngoài ra, NH còn có các quỹ khác như Quỹ đánh giá lại tài sản (Do giá trị
các tài sản và nợ của NH thường xuyên thay đổi theo giá thị trường, đặc biệt là
các chứng khoán, bất động sản, nên mặc dù vẫn đang nắm giữ các tài sản này,
NH thường xuyên đánh giá lại chúng theo giá thị trường. Quỹ này biến động gắn
liền với sự thay đổi của thị giá, do đó cho phép các nhà quản lýý đánh giá được
giá trị thị trường của VCSH), Quỹ chênh lệch tỷ giá do chuyển đổi báo cáo tài
chính, và NH cũng trích lập các quỹ khác từ lợi nhuận sau thuế như: quỹ phát
triển kỹ thuật nghiệp vụ NH, quỹ phúc lợi khen thưởng, quỹ đào tạo…Các quỹ
này thường được sử dụng ngay trong kỳ.
v. Cổ phần ưu đãi có thời hạn và Giấy nợ có khả năng chuyển đổi
Một số công cụ nợ mang tính chất lưỡng tính như cổ phần ưu đãi có thời hạn,
giấy nợ thứ cấp có khả năng chuyển đổi, tín phiếu vốn (khoản chứng khoán nợ
chỉ có thể được thanh toán khi phát hành được cổ phiếu mới). Những công cụ nợ
bổ sung này có chung một số đặc điểm với của các công cụ nợ thuộc loại tiết
kiệm với kỳ hạn dài, đồng thời lại mang một số đặc điểm của cổ phiếu thường,
như: những người nắm giữ các chứng khoán nợ này chỉ có quyền hưởng thu nhập
từ NH sau người gửi tiền (có nghĩa là xếp hạng ưu tiên “thứ yếu”); nhưng, các
chứng khoán đó lại có tính chất dài hạn (ở Việt Nam là 5 năm theo II_Mục
I_Điều 3_Khỏan 1.2 quyết định 457/2005/QĐ-NHNN), và thực tế là đến khi
chúng đáo hạn, đợt phát hành khác có thể được thực hiện để thay thế, hoặc bản
thân chúng có thể được chuyển đổi thành cổ phiếu thường. Việc gia tăng loại vốn
này có nhiều ưu điểm đối với quản lýý NH như không làm thay đổi quyền kiểm
soát, hạn chế giảm cổ tức, v.v… Chính vì vậy, những công cụ này cũng đem lại
một nguồn vốn ổn định trong một khoản thời gian dài cho các NH, và do đó,
được một số NH liệt kê vào thành phần của VCSH.
1.2.2. Phân loại theo Hiệp ước Basel
í muốn xây dựng những tiêu chuẩn dùng để kiểm tra mức độ hợp lýýýý của
vốn tại một NH riêng lẻ hay cả một hệ thống NH đã được nung nấu từ rất lâu và
là nguyện vọng của nhiều đối tượng khác nhau trong thị trường tài chính. Điều
12
này đã được hiện thực hóa kể từ sự ra đời của Hiệp ước Basel I vào năm 1988 do
Uỷ ban giám sát ngân
hàng Basel đề xuất.
Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (Basel Committee on Banking Supervision
_BCBS) được thành lập bởi thống đốc các NHTW thuộc nhóm nước G10 vào
năm 1975, bao gồm đại diện cấp cao từ các cơ quan chức năng về giám sát ngân
hàng và từ NHTW của nhóm G-10 (Hiện nay gồm 13 quốc gia: Bỉ, Canađa,
Pháp, Đức, ýýÝ, Nhật Bản, Lúcxembua, Hà Lan, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Tây
Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, và Vương quốc Anh), với mục tiêu là đảm bảo sự
giám sát hiệu quả các NH trên toàn cầu thông qua việc xây dựng và phát triển các
tiêu chuẩn quốc tế. Các cuộc họp của ủy ban thường diễn ra tại Ngân hàng thanh
toán quốc tế Basel (Bank for international settlements), thuộc Thụy Sỹ _ nơi ban
thư kýýýý thường trực đặt trụ sở. Uỷ ban không có thẩm quyền cưỡng chế thực
hiện những đề xuất của mình, dù các nước thành viên (và cả nhiều nước khác) có
khuynh hướng chủ động thi hành những chính sách của ủy ban thông qua luật
quốc gia (chính vì thế, thường mất một khoảng thời gian kể từ khi các đề xuất,
khuyến nghị ra đời đến khi nó được đưa vào cấp độ luật và điều lệ quốc gia).
Năm 1987, BCBS đã soạn thảo những đề xuất cho tiêu chuẩn mới về vốn, áp
dụng cho các NH, tổ chức tài chính nhằm khuyến khích các NH lớn củng cố
trạng thái vốn, hạn chế sự không bình đẳng trong quy định giữa các quốc gia
khác nhau và xem xét những rủi ro đối với hoạt động ngoài bảng cân đối kế toán
mà các NH thực hiện trong thời gian gần đó. Năm 1988, đề xuất này chính thức
được thông qua dưới cái tên Hiệp ước Basel 1988 _ hiện nay được biết đến như
là Basel I, nhằm phân biệt với bản sửa đổi bổ sung Basel II năm 1999. Hiệp ước
này được cưỡng chế thi hành theo luật quốc gia của các nước G-10 từ năm 1992
và đến nay, hơn 100 nước trên thế giới cũng đã áp dụng những nguyên tắc cơ bản
của các đề xuất này [41iii].
Cũng với những thành phần tương tự như trên, nhưng Hiệp ước Basel I phân
loại VCSH của NHTM thành hai lớp phù hợp cho việc đánh giá được tính ổn
định và an toàn của nguòn vốn này tại NHTM. Theo đó, VCSH của NHTM gồm:
13
- Vốn cơ sở _ hay Vốn cơ bản, Vốn loại 1 _ (Core Capital, hay Tier 1
Capital): là chỉ tiêu cơ bản để đo lường sức mạnh tài chính của NH nhìn nhận
dưới góc độ của các nhà quản lýý. Nó bao gồm những loại vốn tài chính được
xem là đáng tin cậy nhất và có tính lỏng cao nhất, thực sự tồn tại, và tương đối
ổn định trong suốt quá trình hoạt động của NH, đảm bảo cho NH vận hành bình
thường. Trọng tâm của phần vốn
này bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và lợi nhuận giữ
lại.
- Vốn bổ sung _ hay Vốn loại 2 _ (Supplemental Capital, hay Tier 2 Capital):
là bộ phận VCSH tăng thêm trong quá trình hoạt động nhằm mở rộng hay đảm
bảo an toàn cho các hoạt động của NH trong quá trình kinh doanh, nhưng chúng
ít ổn định hơn Vốn cơ sở. Lớp vốn này gồm các khoản có thể được sử dụng như
Vốn cơ sở trong thời gian tương đối dài và có thể bị loại khỏi VCSH khi đáo hạn
hay bị đem ra sử dụng hết (trường hợp các quỹ dự phòng). Theo Basel I, Vốn bổ
sung được phân loại thành [41vi]:
 Các quỹ đánh giá lại tài sản (Revaluation Reserves)
 Các quỹ dự phòng (General Provisions)
 Các công cụ nợ lưỡng tính (Hybrid instruments)
 Các khoản nợ dài hạn không được hoàn trả trong một
khoảng thời gian nhất định (thường là dài) và có thứ tự ưu tiên thanh toán
sau những người gửi tiền (Subordinated term debt)
 Các khoản dự trữ không được tiết lộ (Undisclosed
Reserves): những khoản này tuy không phổ biến, nhưng vẫn được chấp
nhận bởi một số nhà quản lýý khi một ngân hàng kinh doanh có lãi nhưng
điều này không được thể hiện rõ trong các khoản lợi nhuận giữ lại hoặc các
quỹ dự trữ thông thường.
Những khoản này ở các nước không thống nhất với nhau phụ thuộc vào quy
định của mỗi quốc gia. Khi tính toán, phải loại từ vốn cơ sở và bổ sung một số
khoản như: lợi thế thương mại (chênh lệch giá mua lớn hơn so với giá trị ghi sổ
14
của tài sản khi NH mua tài sản tài chính), vốn góp vào các công ty con, tổ chức
tín dụng khác, một phần của quỹ đánh giá lại tài sản, v.v…
1.3. Vai trò của VCSH đối với NHTM
So với các loại hình kinh tế khác, NHTM sử dụng một khối lượng tài chính
cao gấp nhiều lần. Một hãng sản xuất tiêu biểu thường chỉ có khoảng 1/3 tích sản
(tài sản có) là được tài trợ bằng vốn vay; trong khi đó, nếu tổng kết bảng cân đối
kế toán của các NHTM sẽ thấy thông thường, khoảng 90 - 92% nguồn tài chính
cho các NH hoạt động là các khoản nợ (vốn của người kýý thác và các chủ nợ
khác) _ có nghĩa là số vốn của các chủ NH chỉ chiếm khoảng 8 - 10 % tổng tài
sản mà thôi. Tuy nhiên, VCSH của NH lại là ýyếu tố chịu sự giám sát hết sức
chặt chẽ của cả các nhà quản trị NHTM cũng như các nhà quản lýý Trung ương ,
bởi lẽ nó có những chức năng và vai trò vô cùng quan trọng như sau:
1.3.1. Tấm đệm chống đỡ rủi ro, bảo vệ người gửi tiền/kýý thác và các quỹ
bảo hiểm tiền gửi
Đây là chức năng quan trọng hàng đầu của VCSH tại các NHTM. Như đã
trình bày ở phần đầu, kinh doanh ngân hàng thường xuyên phải đối mặt với rất
nhiều rủi ro khiến các NH đứng trước nguy cơ đổ vỡ. Thực tế, NH có nhiều biện
pháp để phòng chống rủi ro, bảo vệ tình trạng tài chính của mình như: nâng cao
chất lượng quản lý, đa dạng hóa danh mục đầu tư và địa bàn hoạt động, bảo hiểm
tiền gửi,v.v…Song, khi tất cả những phương pháp ngăn chặn này đều không còn
hiệu quả, thì VCSH sẽ là cứu cánh cuối cùng. ýNhờ VCSH _trước tiên là quỹ dự
phòng rủi ro, kế đến là lợi nhuận tích lũy, và cuối cùng là vốn cổ phần_ các
khỏan tổn thất của NH sẽ được bù đắp, cho phép NH tiếp tục tồn tại. Chỉ khi các
khoản thua lỗ của NH lớn tới mức tất cả các biện pháp nói trên, kể cả VCSH, đều
không thể khắc phục nổi thì nó sẽ buộc phải đóng cửa. Trường hợp NH phá sản
hoặc ngừng hoạt động, các khoản tiền gửi đã huy động sẽ được ưu tiên hoàn trả
trước, sau đó đến nghĩa vụ với chính phủ và người lao động, các khoản vay, cuối
cùng mới đến chủ giấy nợ có khả năng chuyển đổi, cổ phần ưu đãi, cổ phần
thường. Vì vậy, trong môi trường kinh tế tài chính nói chung vốn tiềm ẩn nhiều
rủi ro như hiện nay, các NH càng phải nắm giữ nhiều VCSH hơn, đặc biệt là
15
những NH chọn kinh doanh trên một số mảng có mức độ rủi ro cao nhằm tăng
sức cạnh tranh so với đối thủ.
Nhờ khả năng hấp thụ những khoản thua lỗ lớn phát sinh không dự tính trước
được, VCSH góp phần bảo vệ những người kýý thác tài sản tại NH. Cơ chế này
có thể lýý giải một cách hết sức đơn giản và ngắn gọn như sau: Trong trường hợp
rủi ro tín dụng (các rủi ro khác cũng tương tự), giả sử ban đầu NH có Bảng cân
đối tài sản giản lược theo thị giá là:
Tài sản có Tài sản nợ
Chứng khoán dài hạn: $80 Vốn huy động : $90
Tín dụng dài hạn : $20 (*) Thị giá VCSH : $10
Tổng 1 : $100 Tổng 2 : $100
Khi nền kinh tế suy thoái, một số khách hàng vay nợ gặp khó khăn và không
thể hoàn trả nợ vay đúng hạn. Khi đó, luồng tiền hoàn trả tín dụng hiện hành và
dự tính trong tương lai đều giảm. Giả sử (*) giảm còn $12, có Bảng cân đối theo
thị giá khi giá trị của tín dụng giảm như sau:
Tài sản có Tài sản nợ
Chứng khoán dài hạn: $80 Vốn huy động : $90
Tín dụng dài hạn : $12 Thị giá VCSH : $2
Tổng 1 : $92 Tổng 2 : $92
Sự giảm giá trị của Tài sản có sẽ được cân đối bằng sự giảm giá trị của
VCSH, do đó những người gửi tiền được bảo vệ một cách toần vẹn vì giá trị của
khỏan tiền gửi không thay đổi . Đó là vì những người gửi tiền bao giờ cũng được
ưu tiên thanh toán trước cổ đông, hay nói cách khác: Cổ đông là những người
phải chịu thua lỗ đầu tiên từ sự giảm giá của Tài sản có. Chỉ đến khi (*) giảm
xuống dưới mức thị giá của VCSH _ ví dụ còn $8, khi đó thị giá VCSH là -$2_
những người gửi tiền mới bắt đầu phải gánh chịu tổn thất; Nếu giả sử VCSH là
$15, thì lại có thể tránh cho người gửi tiền sự mất mát tài sản. Từ đó có thể thấy
nếu tỷ lệ “VCSH/Tổng tài sản” càng lớn thì NH càng an toàn. Đây cũng là căn cứ
xác định khả năng thanh toán cuối cùng, tức là khả năng đáp ứng toàn bộ các cam
kết của NH. Chính vì vậy, các nhà quản lýý coi đây là thước đo mức độ bộc lộ
16
rủi ro của NH, và Hệ số an toàn vốn (CAR)* đã được xây dựng trên cơ sở tỷ lệ
này nhằm giúp các NHTM xác định mức VCSH cần thiết để đảm bảo tính an
toàn trong hoạt động của họ.
Bên cạnh đó, vì hầu hết các NHTM hiện nay đều tham gia Bảo hiểm tiền gửi,
nên khi có thể tự chi trả cho những chủ nợ của mình tức là các NH đã bảo vệ cho
nhà bảo hiểm thông qua việc tránh cho họ phải chi những khoản bồi thường.
1.3.2. Tạo điều kiện cho sự thành lập và hoạt động ban đầu của NHTM
Điều kiện bắt buộc để NH có giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi tính
đến việc huy động những khoản tiền gửi đầu tiên là phải đáp ứng yêu cầu về vốn
pháp định. Mỗi NH mới đều cần vốn ban đầu để xây dựng, mua sắm hoặc thuê
mướn cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuê nhân viên…,phần còn lại tham gia vào
quá trình kinh doanh của NH như cho vay hoặc mua chứng khoán.
1.3.3. Tạo niềm tin cho người gửi tiền và thu hút tiền gửi
Bên cạnh nguồn vốn điều lệ ban đầu, các NHTM đều phải dựa chủ yếu vào
các khỏan tiền huy động được từ các chủ thể khác trong xã hội để tiến hành các
hoạt động. Những người kýý thác tài sản của mình vào các NHTM _ hoặc do ít
có điều kiện và thời gian, hoặc cảm thấy không cần thiết phải phân tích chi tiết
thêm các yếu tố khác_ có xu hướng đánh giá độ đảm bảo và năng lực của NH
thông qua quy mô vốn của các tổ chức này. Trong trường hợp những điều kiện
khác tương tự nhau, những NH có vốn lớn thường hấp dẫn người gửi tiền hơn
NH có vốn nhỏ hơn. Tiềm lực tài chính của NH mạnh sẽ tạo được sự tin tưởng ở
công chúng, và quy mô vốn chính là một yếu tố thiết thực nói lên điều đó. Trong
điều kiện thông tin mở và các phương tiện thông tin phát triển như hiện nay,
khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận các Bảng cân đối kế toán, các thông số tài
chính để so sánh các NH trước khi đưa ra quyết định kýý thác vốn của mình cho
họ; vì thế, quy mô VCSH của các NHTM càng cần được chú ýý hơn.
1.3.4. Cung cấp nguồn lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển
* Xem chi tiết ở mục 2.2 của phần II này.
17
Để cạnh tranh tốt, các NHTM luôn phải không ngừng đưa ra những dịch vụ
mới, những chương trình mới, đổi mới công nghệ NH, nâng cao năng suất lao
động; và khi phát triển, NH cũng cần bổ sung vốn để thúc đẩy tăng trưởng, mở
thêm chi nhánh hoặc quầy giao dịch, văn phòng đại diện,v.v…VCSH được bổ
sung và tăng về quy mô sẽ tài trợ cho các hoạt động này để theo kịp với sự phát
triển của thị trường và tăng khả năng phục vụ khách hàng.
1.3.5. Phương tiện điều chỉnh hoạt động và điều tiết sự tăng trưởng
Vốn cho vay của NH sẽ tham gia vào quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh
của các chủ thể kinh tế, và khi doanh nghiệp gặp rủi ro thì NH khó thu hồi vốn.
Nhằm đảm bảo NHTM kinh doanh an toàn, có rất nhiều quy định cho hoạt động
của các trung gian tài chính này liên quan chặt chẽ và trực tiếp đến VCSH. Đó là
những giới hạn về: quy mô nguồn tiền gửi được phép huy động (vì nếu vay nhiều
sẽ có nguy cơ mất khả năng thanh toán), quy mô cho vay tối đa đối với một hoặc
một nhóm khách hàng, nắm giữ cổ phiếu của công ty khác, thành lập công ty con,
hay mở chi nhánh, v.v…(để hạn chế việc dồn vốn vào một số ít khách hàng và
lĩnh vực kinh doanh, giúp NH đa dạng hóa các đối tượng này). Do đó, nếu quy
mô VCSH quá nhỏ, NH sẽ thực sự rơi vào trạng thái ngột ngạt và khó có khả
năng xoay sở khi bị trói buộc trong những định mức, giới hạn ấy. Đồng thời, để
sự tăng trưởng của một NH có thể được duy trì ổn định và lâu dài, các cơ quan
quản lýýý NH và thị trường tài chính thường yêu cầu VCSH của NH cần phải
được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và các tài
sản rủi ro khác, sao cho tương xứng với quy mô rủi ro của NH. Khi NH mở rộng
quá nhanh hoạt động huy động vốn hoặc cho vay, họ sẽ sớm nhận được những
dấu hiệu của thị trường và các cơ quan quản lýýý yêu cầu kìm hãm tốc độ tăng
trưởng, hoặc buộc phải bổ sung thêm VCSH để duy trì mức độ an toàn.
2. Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio_CAR)
ýNhững vụ phá sản NH đem lại ảnh hưởng bất lợi đối với nền kinh tế có lẽ là
hơn bất cứ loại hình doanh nghiệp nào khác. Với vai trò là một trung gian tài
18
chính, các NH khi bị thiệt hại nghiêm trọng có thể làm các cổ đông mất đi nguồn
tài sản mà trong nhiều trường hợp, người ta phải dành dụm cả đời hoặc doanh
nghiệp phải tích lũy vốn qua nhiều thế hệ mới có được. Rộng hơn, những thua lỗ
này ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của công chúng và có thể lan sang các thành
phần kinh tế khác một cách dây chuyền. Vì thế, sự an toàn của các NHTM vẫn
luôn luôn là mối quan tâm đối với các cổ đông, những người kýýý thác, cũng như
giới chức điều hành.
Hiệp ước Basel đặt ra những yêu cầu về vốn tối thiểu cho các NH. Văn bản
này đã đưa ra một chỉ số đo lường sự an toàn vốn của các NHTM, gọi là Hệ số
an toàn vốn, hay: Hệ số CAR (Capital Adequacy Ratio). Để đánh giá mức an
toàn về vốn, người ta còn dùng Tỷ số đòn bẩy tài chính (Leverage Ratio) tính
bằng tỷ lệ “Vốn cơ bản/ Tổng tài sản”. Song, cách tính này chưa nhìn nhận
được ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro tiềm ẩn trong kinh doanh NH, và khe hở
này đã được hệ số CAR bổ sung.
2.1. Hệ số CAR
2.1.1. Hệ số CAR theo Hiệp ước Basel 1
Hệ số được xác định như sau:
∑ VCSH
CARBasel 1 = ———————————————— x 100%
∑ Giá trị quy đổi của tài sản có rủi ro
Trong đó:
(i). VCSH : bao gồm các thành phần như đã trình bày trong phần 1.2.2 trên.
(ii). Tài sản được điều chỉnh theo tỷ lệ rủi ro (Risk-
weighted assets):
Trong danh mục Tài Sản Có của NHTM, ngoại trừ một số được xem như
không có rủi ro như: tiền mặt, tiền gửi NHTW, v.v…thì hầu hết các thành phần
khác đều đi kèm với những rủi ro nhất định: cho vay không thu hồi được, chứng
khoán đầu tư bị giảm giá, vốn góp liên doanh bị thua lỗ, v.v…Do vậy, theo tinh
thần Hiệp ước Basel, nhằm đánh giá một cách công bằng và thực tế ảnh hưởng
của từng tài sản đến sự an toàn của NH, khi tính toán tổng tích sản của NH,
không thể đồng nhất các tài sản mà cần quy đổi chúng theo những tỷ lệ rủi ro
19
nhất định xét theo tính chất và mức độ rủi ro tiềm ẩn trong chúng. Đồng thời,
mỗi loại tài sản có những nguy cơ gặp rủi ro khác nhau, nên các tỷ lệ gán cho
chúng cũng không thể giống nhau _ Basel chia ra các mức: 0%, 20%, 50%,
100%. Không chỉ phân loại các tài sản nội bảng, Basel 1 còn áp dụng cách tính
toán này với các khoản mục ngoại bảng. Sở dĩ cần tính toán cả các cam kết
ngoại bảng vì càng ngày, những hoạt động này càng phong phú đa dạng hơn,
đem lại nhiều lợi nhuận hơn nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn, khiến NH có
thể phải chịu nguy cơ thua lỗ nặng nề. Song, đối với danh mục ngoại bảng, cần
qua một bước chuyển đổi nữa nhằm quy đổi chúng về cho tương đương với một
cam kết nội bảng, sau đó mới tính tiếp đến những rủi ro đi liền với chúng. Luật
Việt Nam cũng có cách phân loại tương tự như Basel trong Quy định về các tỷ
lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, ban hành kèm theo
Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc
NHNN Việt Nam) tại Phần 2: Mục I _ Điều 3 về phân loại vốn, và Mục II _ Điều
5,6 về cách phân loại tài sản nội bảng và hoạt động ngoại bảng (Tham khảo
Phụ lục 2).
Khi đã có các hệ số rủi ro và chuyển đổi cụ thể, việc tính toán rất đơn giản:
Tổng TS theo = TS theo tỷ lệ rủi ro + Các khoản mục nằm
ngoài
tỷ lệ rủi ro trong Bảng CĐKT Bảng CĐKT theo tỷ lệ rủi ro
(1) (2) (3)
Trong đó:
(2) = Giá trị sổ sách của TS x Hệ số rủi ro
(3) = Giá trị sổ sách khoản mục ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro.
Theo yêu cầu của Basel 1, để đảm bảo an toàn, các NH cần duy trì:
- Tỷ lệ :
20