Một số giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (fdi) vào hưng yên

  • 78 trang
  • file .doc
LỜI NÓI ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển là mục tiêu của của tất cả các quốc gia trên
thế giới, là thước đo về sự tiến bộ trong mỗi quốc gia. Điền này càng có ý
nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển trong quá trình theo đuổi
mục tiêu tiến kịp và hội nhập với các nước phát triển. Mà thực trạng của các
nước đang phát triển là tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng. Trong đó vốn lại là
điều kiện tiên quyết cho sự tăng trưởng và phát triển. Như vậy để khắc phục
tình trạng thiếu vốn các nước đang phát triển cần phải huy động vốn từ bên
ngoài.
Đối với Hưng Yên trong những năm vừa qua, có thể thấy bộ mặt kinh
tế của tỉnh có những bước thay đổi đáng kể, có tính nhảy vọt, đó là sự tăng
trưởng GDP, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự phát triển cơ sở hạ tầng,
nâng cao các phúc lợi cho con người. Tuy nhiên, nhìn nhận lại và đặt sự phát
triển ấy trong sự phát triển chung của thế giới thì sự phát triển ấy chưa phải là
lớn, đặc biệt là tỷ lệ nông nghiệp trong cơ cấu vẫn còn lớn, trình độ kỹ thuật,
trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển hoàn thiện, công tác đào tạo
chưa được chú trọng. Nói tóm lại, mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động đầu tư
cần phải phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Trong khi đó một trong các
yếu tố cũng như lĩnh vực để hoạt động đầu tư phát triển theo cả chiều rộng và
chiều sâu đó là cần phải làm tốt công tác huy động, quả lý và sử dụng có hiệu
quả các nguồn vốn phát triển cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Sau quá trình thực tập tại sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Hưng Yên em
nhận thấy được tầm quan trọng của vốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư nước
ngoài nói riêng, em xin được đưa ra một số hiểu biết của mình thông qua đề
tài: “ Một số giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) vào Hưng Yên ”, gồm 3 chương:
SV: Hoàng Hữu Tiến
Chương I: Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với
tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Chương II: Thực trạng đầu tư nước ngoài tại Hưng Yên từ năm 2005-
2008.
Chương III: Một số giải pháp tăng cường thu hút FDI vào tỉnh Hưng
Yên.
Đề tài này được hoàn thành dưới sự giúp đỡ tận tình của phòng Kinh tế
đối ngoại của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hưng Yên và dưới sự hướng dẫn
nhiệt tình của cô TS. Nguyễn Quỳnh Hoa. Em xin trân thành cảm ơn.
SV: Hoàng Hữu Tiến
Chương I: Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.
I. Vai trò của FDI đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
1. FDI:
1.1. Khái niệm FDI:
VĐT là toàn bộ các khoản chi phí đang trong quá trình chuyển hóa
thành vốn sản xuất. Hoạt động chuyển hóa vốn đầu tư thành vốn sản xuất gọi
là hoạt động đầu tư.
Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham trực tiếp
vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng
như phương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của
cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản
xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm thu lợi nhuận. Cá nhân hay công ty nước
ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
1.2. Đặc điểm FDI.
FDI có thể được thông qua việc xây dựng mới, mua lại toàn bộ hoặc
từng phần doanh nghiệp đang hoạt động, mua cổ phiếu để thôn tính hoạc sát
nhập doanh nghiệp với nhau.
Quyền quản lý điều hạnh hoạt động đầu tư tuỳ thuộc vào mức độ đóng
góp vốn. Nếu nhà đầu tư góp 100% vào vốn pháp định thì đối tượng hoàn
toàn do chủ đầu tư điều hành và quản lý.
Các chủ đầu tư FDI phải đóng góp một số lượng tối thiểu vào vốn pháp
định theo quy định pháp luật mỗi nước
FDI gắn với hoạt động chuyển giao công nghệ
SV: Hoàng Hữu Tiến
FDI cũng chịu sự chi phối của chính phủ nhưng ít bị lệ thuộc vào mối
quan hệ chính trị giữa hai bên.
FDI gắn với quá trình hội nhập kinh tế. Chính sách đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư là một minh chứng cho chính
sách mở cửa và quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế.
Lợi nhuận của chủ đầu tư phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn pháp định và
cam kết giữa các bên trong hoạt động đầu tư
1.3. Phân loại FDI.
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức song được phân thành
một số loại cơ bản sau :
1.3.1. Phân theo bản chất đầu tư.
- Đầu tư phương tiện hoạt động: Là hình thức đầu tư FDI trong đó công
ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước
nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào.
- Mua lại và sáp nhập: Là hình thức đầu tư FDI trong đó hai hay nhiều
doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một (có thể
đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh
nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn
tới tăng khối lương đầu tư vào.
1.3.2. Phân theo tính chất dòng vốn.
- Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc
trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ
lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty
- Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu
được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
SV: Hoàng Hữu Tiến
- Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công
ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay đê đầu tư hay
mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
1.3.3. Phân theo động cơ của nhà đầu tư
- Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằn khai thác nguồn
tài nguyên thiên nhiên rẻ và rồi rào ở các nước tiêp nhận, khai thác nguồn lao
động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ
năng rồi rào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn
có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng
còn nhằm khai thác các tài sản của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn
này còn nhằm các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ
cạnh tranh.
- Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng gía thành
đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân
công rể, gía các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao
thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thứê suấ ưu đãi, v.v.
- Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị
trương hoặc giữ thị trường khỏi đối thử cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình
thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước
tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để
thâm nhập vào các thị trường khu vực vào toàn cầu.
1.4. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo luật đầu tư trực tiếp sửa đổi ngày 29/11/2005 đầu tư trực tiếp
nước ngoài có hình thức sau:
+ Hợp tác liên doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC):
Đây là loại hình đầu tư trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết để
tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư,
SV: Hoàng Hữu Tiến
trên cơ sở quy định rõ đối tượng nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm
và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia.
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:
Đây là loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài,
có thể là một tư nhân hay một tổ chức nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài
thành lập tại nước nhận đầu tư, tự quản lý tự chịu trách nhiệm kết quả sản
xuất kinh doanh. Loại hình này tồn tại chủ yếu dưới hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân.
+ Doanh nghiệp liên doanh:
Đây là hình thức đầu tư vốn do 2 bên cùng góp theo một tỷ lệ nhất định
để thành lập một doanh nghiệp mới có hội đồng quản trị và ban điều hành
cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. Doanh
nghiệp liên doanh tồn tại chủ yếu dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn có
tư cách pháp nhân theo luật đầu tư của nước nhận đầu tư. Cả 2 bên đều phải
có trách nhiệm với nhau và doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp của mình
trong vốn pháp định.
+ Hợp đồng xây dựng - chuyển giao -kinh doanh (BTO):
Đây là hình thức được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
nhà đẩu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây
dựng xong công trình nhà đầu tư tiến hành chuyển giao cho nước nhận đầu tư
toàn bộ công trình. Chính phủ nước nhận đầu tư sẽ chuyển giao quyền kinh
doanh công trình này cho nhà đầu tư trong một thời gian nhất định để họ thu
hồi được vốn đầu tư và có được lợi nhuận hợp lý.
+ Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT):
Đây là hình thức được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
nhà đẩu tư nước ngoài dể xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Đối với loại
hình này nhà đầu tư sẽ chuyển giao toàn bộ công trình cho nước nhận đầu tư
SV: Hoàng Hữu Tiến
sau khi xây dựng xong. Nước nhận đầu tư sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư
nước ngoài thực hiện các dự án khác để thu hồi vốn và có được lợi nhuận hợp
lý hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận của hợp đồng xây dựng
chuyển giao.
+ Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT):
Đây là hình thức ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà
đầu tư với hình thức đầu tư này, các nhà đầu tư chịu trách nhiệm tiến hành
xây dựng công trình, kinh doanh có lợi nhuận trong một thời gian nhất định.
Sau khi kết thúc dự án, nhà đầu tư sẽ chuyển giao cho nước nhận đầu tư toàn
bộ công trình mà không thu một khoản tiền nào.
2. Vai trò của FDI đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.
2.1. Mối quan hệ của FDI với tăng trưởng và phát triển.
Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước
phát triển lẫn các nước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra
rằng động lực của phát triển kinh tế phải dựa trên bốn bánh xe, hay bốn nhân
tố của tăng trưởng kinh tế là nguồn lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công
nghệ. Bốn nhân tố này khac nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa
chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng. Trong đó tư bản được coi
là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Tư bản (vốn) là một trong những
nhân tố sản xuất, tuỳ theo mức độ tư bản mà người lao động được sử dụng
những máy móc, thiết bị … nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗi lao động) và
tạo ra sản lượng cao hay thấp. Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa
là hy sinh tiêu dùng cho tương lai. Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát
triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có
được sự tăng trưởng cao và bền vững. Tuy nhiên, tư bản không chỉ là máy
móc, thiết bị do tư nhân đầu tư cho sản xuất nó còn tư bản cố định xã hội,
những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển. Tư bản xã hội
SV: Hoàng Hữu Tiến
thường là những dự án quy mô lớn, gần như không thể chia nhỏ được và
nhiều khi có lợi suất tăng dần theo quy mô nên phải do chính phủ thực
hiện.Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông, mạng lưới điện quốc gia
… ) sức khoẻ cộng đồng, thuỷ lợi …
Mối quan hệ giữa đầu tư vói tăng trưởng kinh tế được nghiên cứu qua
các mô hình tăng trưởng của Solow (1956), Harrod (1939), Domar (1946) …
Hầu hết các mô hình này nhấn mạnh tích luỹ tài sản là nguồn tăng trưởng
kinh tế quan trọng và cho rằng tỷ lệ tiết kiệm càng cao thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế nhanh, vì tỷ lệ tiết kiệm cao đồng nghĩa tỷ lệ đầu tư cao.
Mô hình Harrod – Domar cổ điển cho rằng đầu tư ra của bất kì đơn vị
kinh tế nào hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng lượng vốn đầu tư
trong quá trình sản xuất và việc bổ xung thêm vốn đầu tư.
Phương trình
g = s/k (1)
s = S/Y = I/Y (2)
Từ (1) và (2)  g = I/k*Y (3)
Trong đó:
g: Tốc đị tăng trưởng. S: Mức tích lũy.
Y: Là đầu ra. s: Tỷ lệ tích lũy
I: Tổng vốn đầu tư k: ICOR (tỷ số gia tăng giữ vốn và sản lượng)
Từ (3) ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng g tỷ lệ thuận với tổng vốn đầu tư
I và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR . Mô hình khẳng định tầm quan trọng của
vốn đầu tư, nền kinh tế muốn tăng trưởng thì nhất thiết phải có vốn đầu tư.
Ngoài ra, mô hình giúp ta xác định được số vốn cần thiết để đạt được mục
tiêu tăng trưởng đã địch. Như vậy hệ số ICOR của một nền kinh tế thấp thì
chỉ cần một lượng vốn đầu tư nhất định sẽ tạo ra một tỷ lệ tăng trưởng cao
SV: Hoàng Hữu Tiến
hơn khi ICOR cao. Do đó ICOR chính là thước đo phản ánh năng lực đầu tư
( hiệu quả đầu tư).
Như vậy vốn là động lực của tăng trưởng ngược lại tăng trưởng tác
động rất lớn tới việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nói chung cụ thể: Khi đặt
trong bối cảnh tổng quát và dài hạn, năng lực tăng trưởng của nền kinh tế là
yếu tố quan trọng xác định triển vọng huy động đầu tư một cách hiệu quả.
Vấn đề tăng trưởng - phát triển ở đây được nhìn nhận như một yếu tố tạo ra
sức hấp dẫn ngày càng lớn đối với lĩnh vực đầu tư cả trong nước và nước
ngoài.
Mặt khác khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày
càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư xã hội. Đồng thời FDI khẳng
định vai trò quan trọng trong nền kinh tế các nước đang phát triển trên thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng cụ thể: FDI góp phần cải thiện cán cân
thanh toán, tăng cường lực lượng sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng
lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu, cải thiện nguồn nhân lực, tăng việc
làm mới, tăng nguồn thu ngân sách,…Như vậy FDI tác động rất lớn tới tăng
trưởng-phát triển kinh tế, qua đây có thể thấy rằng mối quan hệ giữa FDI với
tăng trưởng-phát triển là mối quan hệ ràng buộc nhau hay nói cách khác tăng
trưởng-phát triển là đièu kiện thuận lợi để thu hút FDI và tăng cường thu hút
FDI là động lực của tăng trưởng-phát triển.
2.2. Vai trò của FDI đối với nền kinh tế toàn cầu.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với hầu hết
mọi nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Bởi lẽ nó góp phần làm tăng
nguồn vốn đầu tư còn thiếu hụt trong nước góp phần làm tăng trưởng kinh tế,
chuyển dịch cơ cấu nghành, tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao thu nhập
cho nước nhận FDI
SV: Hoàng Hữu Tiến
Nói như vậy không có nghĩa là chỉ nước nhận FDI mới có lợi mà chính
nước đầu tư cũng nhận được rất nhiều từ đó. Với việc tận dụng về chi phí sản
xuất thấp hạ giá thành sản phẩm nâng cao sức cạnh tranh từ đó nâng cao hiệu
quả của vốn đầu tư, tạo được thị trường cung cấp nguyên vật liệu dồi dào ổn
định với giá rẻ, đầu tư nước ngoài cho phép các công ty có thể kéo dài chu kỳ
sống của sản phẩm đã được sản xuất và tiêu thụ ở thị trường trong nước,
thông qua FDI các công ty của các nước phát triển chuyển được một phần sản
phẩm sang các nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng chúng như những sản
phẩm mới ở các nước này từ đó tạo thêm lợi nhuận cho các nhà đầu tư. Và
nhất là các nhà đầu tư được phép bành trướng sức mạnh về kinh tế tăng cường
khả năng của mình trên trường quốc tế
Thực tế những năm qua đã chứng minh điều đó. Sau chiến trnah thế giới 2
nền kinh tế thế giới bị thiệt hại nghiêm trọng và Mỹ chính là quốc gia đã đầu
tư hầu hết vao các nước Châu Âu nhờ đó các nước tham chiến cũng nhanh
chóng khôi phục nền kinh tế đã bị tàn phá trong chiến tranh. Và ở đây ta có
thể thấy rõ vai trò của FDI đã góp phần giúp các nước khôi phục kinh tế.
Nhưng cũng từ đó mà Mỹ trở thành cường quốc mạnh nhất trên thế giới trong
suốt thập kỉ 20 mà đến nay vẫn chưa hề bị mất vị trí số 1 đó
Sau khi khôi phục nền kinh tế các nước Tư Bản bắt đầu phát triển và
lấy lại sự giàu có vốn có của mình. Điển hình hiện nay và có tầm ảnh hưởng
sâu rộng đến nền kinh tế thế giới là khối các nước phát triển G7 nay là G8.
Đây là một khối có nền kinh tế rất mạnh, phát triển và giàu có. Một phần lí do
để các nước trong khối G8 ngày càng mạnh và thể hiện vị thế của mình trên
trường quốc tế cũng không thể không kể đển sự đóng góp của FDI vào các
nền kinh tế này. Các quốc gia này có sự giao thương về kinh tế chính trị văn
hoá xã hội và quan trọng là họ là những nước Tư Bản phát triển liên kết với
nhau để khối TBCN luôn vững mạnh thế nên họ luôn giúp đỡ nhau về kinh tế
SV: Hoàng Hữu Tiến
là điều tất yếu. Đầu tư qua lại giữa các thành viên trong khối G8 đã góp phần
duy trì được sự phồn thịnh của đất nước cũng như sự phát triển ổn định và các
quốc gia này ngày càng mạnh và phát triển hơn nữa. Như vậy ta thấy được
rằng FDI có vai trò khá quan trọng đối với các nước phát triển để họ ngày
càng trở lên giàu có hơn. Mỹ luôn đứng đầu và Vương Quốc Anh đứng thứ 2
về thu hút đầu tư FDI trên Thế Giới.
Năm 2007 FDI toàn cầu đã đạt 1538 tỷ USD trong đó Mỹ thu hút được
193 tỷ, Anh là 171 tỷ và Pháp là 123 tỷ. Đặc biệt là Liên Minh Châu Âu EU
thu hút được 40% FDI toàn thế giới
Đối với các nước Công Nghiệp mới NIC thì FDI giống như những điều
kì diệu đưa họ lên những tầm cao mới. Vào khoảng thập niên 70 của thế kỉ 20
các nước này đều có những bước phát triển vượt bậc trải qua cuộc cách mạng
công nghiệp mới và trở thành những nước công nghiệp mới. Đặc điểm nổi bật
của khối này là họ có khả năng hấp thụ nguồn vốn đầu tư Tư Bản dồi dào từ
nước ngoài. Chính vì vậy mà các nước này nhanh chóng vươn lên và ngày
nay thậm chí có thể sánh ngang các nước phát triển, có chế độ chính trị cởi
mở có thu nhập bình quân đầu người cao. Điển hình là Hongkong có thu nhập
trên 30000USD. Các quốc gia trong khối NIC có nền kinh tế ngày càng phát
triển và hiện cũng là các quốc gia thu hút được FDI rất lớn. Chính những điều
đó góp phần làm cho tự do xã hội quyền dân chủ của các quốc gia này dần
được cải thiện. Chuyển dich cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp đặc biệt
là công nghiệp chế tạo. Các nước NIC Châu Á nhờ nhận được lượng lớn FDI
cùng với chính sách kinh tế năng động mà đã trở thành những con Rồng Châu
Á như hiện nay
Các nước đang phát triển hiện nay thì FDI đóng một vai trò rất quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Bởi lẽ trong giai đoạn
đầu phát triển các quốc gia này đều lâm phải tình trạng tiêu dùng nhiều hơn
SV: Hoàng Hữu Tiến
đầu tư tiết kiệm thế nên nguồn vốn trong nước không nhiều. FDI đã giải quýêt
tình trạng thiếu vốn góp phần quan trọng vào việc đưa nền kinh tế của các
nước đang phát triển đi lên tăng trưởng kinh tế cao cùng với quá trình hội
nhập để từng bước thay đổi bộ mặt của quốc gia làm tăng phúc lợi xã hội cải
thiện đời sống dân cư.
2.3. Vai trò của FDI đối với kinh tế Việt Nam.
Thực tế cho thấy, sự hiện diện của các nhà ĐTNN đã tạo ra bước
chuyển biến mới, tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của
nước ta. Điều này được thể hiện qua việc bổ sung nguồn vốn quan trọng cho
vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, đồng thời tạo ra tổng giá trị doanh thu đáng kể, trong đó có giá trị xuất
khẩu. Nếu giai đoạn 1991-1995 tổng giá trị doanh thu mới đạt 4,1 tỷ USD, thì
trong thời kỳ 1996-2000 con số này đã tăng lên 27,09 tỷ USD (trong đó giá trị
xuất khẩu không tính dầu thô đạt 10,59 tỷ USD, chiếm 39% tổng doanh thu),
tăng gấp 6,5 lần so với 5 năm trước.
Trong giai đoạn 2001-2005 tổng giá trị doanh thu đạt 77,4 tỷ USD
(trong đó giá trị xuất khẩu không tính dầu thô đạt 34,6 tỷ USD, chiếm 44,7%
tổng doanh thu), tăng gấp 2,8 lần so với 5 năm 1996-2000. Riêng 2 năm 2006
và 2007 tổng giá trị doanh thu đạt mức kỷ lục 69 tỷ USD (trong đó giá trị xuất
khẩu không tính dầu thô đạt 28,6 tỷ USD, chiếm 41% tổng doanh thu). Với
những đóng góp đáng kể này, có thể nói, khu vực ĐTNN là khu vực có tốc độ
phát triển kinh tế năng động nhất, là "đòn bẩy" hữu hiệu, kích thích mạnh mẽ
các thành phần kinh tế khác phát triển theo.
Cùng với sự phát triển trên, mức đóng góp của khu vực ĐTNN vào
ngân sách nhà nước ngày càng tăng. Thời kỳ 1996-2000 (không kể thu từ dầu
thô) các doanh nghiệp ĐTNN đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần
5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005, khu vực này đóng góp hơn 3,6 tỷ USD,
SV: Hoàng Hữu Tiến
tăng bình quân 24%/năm. Riêng 2 năm 2006 và 2007 khu vực này đã nộp
ngân sách trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ
2001-2005.
Ngoài ra, khu vực này còn tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ
phận dân cư, tính từ năm 1988 đến cuối năm 2007 đã có trên 1,26 triệu lao
động trực tiếp (chưa kể số lao động gián tiếp khác) làm việc trong khu vực
dịch vụ mà theo kết quả điều tra của Ngân hàng Thế giới, cứ 1 lao động trực
tiếp sẽ tạo việc làm cho khoảng từ 2-3 lao động gián tiếp khác. Số lao động
làm việc trong các doanh nghiệp ĐTNN cũng tăng lên qua từng giai đoạn, từ
21 vạn người vào cuối năm 1995 đã tăng lên 37,9 vạn người vào cuối năm
2000, tăng 80% so với 5 năm trước. Đến cuối năm 2005 đã tăng gấp 2,5 lần
so với năm 2000 và đặc biệt, đến hết năm 2007 đã tăng tới mức 12% so với
cuối năm 2005.
Khu vực FDI hiện đang góp 100% sản lượng một số sản phẩm công
nghiệp như dầu khí, ôtô, máy giặt, máy điều hòa, tủ lạnh, điện tử; 60% cán
thép; 28% ximăng; 33% máy móc thiết bị điện, điện tử; 25% thực phẩm đồ
uống.
Từ những mặt tích cực nêu trên có thể khẳng định, vai trò và những
đóng góp tích cực của ĐTNN là rất quan trọng, là một trong những kênh quan
trọng thu hút vốn cho đầu tư phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao tỷ trọng xuất khẩu, góp
phần giải quyết việc làm và đóng góp quan trọng cho ngân sách nhà nước.
Những thành tựu này là cơ sở vững chắc, giảm bớt những tác động tiêu cực và
thách thức khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế
giới.
Hơn nữa, trong xu thế hiện nay, các tập đoàn kinh tế lớn đã và đang có
những điều chỉnh về chiến lược đầu tư dài hạn, chuyển dịch nguồn vốn đầu tư
SV: Hoàng Hữu Tiến
tập trung ở một địa bàn sang các nước khác nhằm giảm bớt rủi ro. Do đó, đây
cũng sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam tăng cường thu hút ĐTNN trong thời gian
tới.
Tuy vậy, FDI cũng có mặt trái, đó là:
- Nhà đầu tư nước ngoài có thể kiểm soát thị trường địa phương, làm
mất tính độc lập, tự chủ về kinh tế, phụ thuộc ngày càng nhiều vào nước
ngoài;
- FDI chính là công cụ phá vỡ hàng rào thuế quan, làm mất tác dụng
của công cụ này trong bảo hộ thị trường trong nước;
- Tạo ra sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp
trong nước, có thể dẫn đến suy giảm sản xuất của các doanh nghiệp trong
nước;
- Gây ra tình trạng chảy máu chất xám, phân hoá đội ngũ cán bộ, tham
nhũng...
II. Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI vào các địa phương.
1. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình thu hút vốn.
Bất kể dù là quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển theo con đường
tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa đều cần đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tất cả đều coi đó là nguồn lực quốc tế quan trọng cần được khai
thác. Vậy làm thế nào để khai thác, quá trình khai thác hay thu hút đó chịu
ảnh hưởng của một số nhân tô chính sau:
1.1. Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Quy định về thuế của Chính phủ cũng ảnh hưởng tới nhu cầu đầu tư,
đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp.nếu Chính phủ đánh thuế thu nhập cao
sẽ làm giảm lợi ích của các nhà đầu tư và làm thu nhập của các doanh nghiệp
giảm, điều này làm nản lòng các nhà đầu tư.
SV: Hoàng Hữu Tiến
Mặt khác Chính phủ có thể kích thích đầu tư bằng các hình thức miễn
giảm thuế đối với các khoản lợi nhuận để dùng để tái đầu tư.
Tóm lại khi Chính phủ giảm mức thuế làm cho đường cầu đầu tư dịch
sang bên phải, do đó khoản đầu tư mong muốn tăng và ngược lại khi chính
phủ tăng thuế. Cụ thể qua ( hình 1) dưới đây có thể mô tả tác động của thuế
thu nhập đến cầu đầu tư.
i
io DI’
DI
I I’
Hình 1.
i: Lãi xuất.
I: Vốn đầu tư D: Đường cầu đầu tư.
1.2. Môi trường đầu tư
1.2.1. Các nguồn lực và tiềm năng phát triển.
Nguồn lực ở đây bao gồm: Nguồn lực về con người, thể hiện qua chất
lượng và số lượng lao động, tiềm lực về khoa học và công nghệ tiên tiến vào
quản lý và sản xuất. Tiềm năng phát triển bao gồm: Điều kiện tự nhiên (vị trí,
địa hình, khí hậu), tiềm năng về tài nguyên (khoáng sản, tài nguyên đất, nước,
rừng) và tiềm năng phát triển kinh tế chưa được khai thác hết của các ngành.
Xét về ảnh hưởng của nguồn lực cho phát triển đến việc thu hút các
nguồn vốn đầu tư. Mọi hoạt hoạt động sản xuất kinh doanh muốn thực hiện
được phải cần nhân tố con người. Khi các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu
SV: Hoàng Hữu Tiến
tư nước ngoài đem vốn đến một quốc gia, họ không thể di chuyển toàn bộ
các nguồn lực và phương tiện đến quốc gia đó, vì vậy họ sử dụng nguồn lực
tại chỗ là chủ yếu. Khi một nền kinh tế có nguồn lao động dồi dào và đáp ứng
được nhu cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nhanh chóng đưa
dự án vào hoạt động, ở đây xem xét cả về số lượng và chất lượng lao động. Số
lượng lao động phụ thuộc vào quy mô dân số và tỉ lệ dân số ở trong độ tuổi
lao động, một nguồn lao động có số lượng lớn sẽ đáp ứng được nhu cầu mở
rộng quy mô sản xuất và vận hành dự án có quy mô lớn. Tuy nhiên, như vạy
chưa đủ, trong khi đòi hỏi yêu cầu chất lượng cao thì chất lượng lao động là
vấn đề quan trọng hơn hết, nếu như hàng triệu lao động mà trình độ kĩ năng
của họ chỉ muốn sản xuất thủ công, là các lao động cơ bắp thì chẳng có ý
nghĩa gì. Chất lượng lao động thể hiện ở: truyền thống của quốc gia, địa
phương và công tác giáo dục đào tạo. Khi lao động có chất lượng cao, thứ
nhất họ sẽ tham gia vào sản xuất tốt hơn vì những kiến thức họ có không phải
là nhỏ, bao gồm cả những kiến thức cơ bản và kinh nghiệm qua thời gian.
Hơn nữa, họ sẽ tiếp thu nhanh hơn khoa học kỹ thuật, giảm bớt chi phí đào
tạo cho nhà đầu tư. Vấn đề về cơ cấu lao động cũng có ảnh hưởng không nhỏ
đến các nguồn vốn đầu tư. Cơ cấu ở đây bao gồm cơ cấu về lao động đã qua
đào tạo, cơ cấu về các bậc, chuyên ngành và các lao động đã qua đào tạo. Xu
thế hiện nay có các nhu cầu cao về công nhân kỹ thuật lành nghề hơn là các
cán bộ quản lý. Vì vậy, việc điều chỉnh cơ cấu cũng như là vấn đề không nhỏ
đối với các quốc gia.
Tiềm năng phát triển của một nền kinh tế ảnh hưởng đến việc thu hút
các nguồn đầu tư thông qua việc đầu tư nhìn nhận được những điểm có khá
năng phát triển nhưng vì lí do nào đó chưa được khai thác hết từ đó, họ bỏ
vốn vào những lơi còn chống đó. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên có
ảnh hưởng rất lớn ở đây, thể hiện ở chỗ, một điều kiện tự nhiên thuận về địa
SV: Hoàng Hữu Tiến
hình khí hậu và vị trí trong giao lưu giữa các nền kinh tế sẽ thu hút được các
nhà đầu tư vì ở đó sẽ đảm bảo cho sự ổn định sản xuất và thuận lợi cho xuất
khẩu hang hóa.
1.2.2. Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô.
Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô ở đây được nhìn nhận thong qua:
sự ổn định về kinh tế xã hội, ổn định về chính trị, môi trường kinh doanh và
ổn dịnh trong các chính sách tiền tệ. Một quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư
cho phát triển kinh tề xã hội, trước hết, đó phải là nơi không xẩy ra các cuộc
chiến tranh, các cuộc chiến và khủng bố. Đó phải là một quốc gia có các
chính sách ổn định, không có sự thay đổi liên tục về chính sách pháp luật, vì
khi đó có ảnh hưởng rất lớn và theo xu hướng tiêu cực đối với các nhà đầu tư.
Các chính sách tiền tệ phải làm sao hạn chế được lạm phát và chống giảm
phát, song vấn đề là ở chỗ làm sao để kiểm soát được lạm phát ấy, giữ nó ở
một tỷ lệ có lợi cho phát triển, tránh mất giá đồng tiền quá lớn. Các nhà đầu tư
không thể yên tâm và ổn định sản xuất tại một nước mà giá trị của đồng tiền
của nước đó liên tục thay đổi, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất khẩu của
doanh nghiệp. Hơn nữa sẽ có ảnh hưởng lớn đến dòng chảy của vốn vào trong
nước và ra nước ngoài, ở đây cần có một sự tương xứng giữa lãi xuất trong
nước và trên thị trường thế giới. Vì vậy, lãi xuất phải có xu hướng cao hơn
thế giới để các nhà đầu tư dồn nhiều vốn vào trong nước hơn. Mặt khác, một
mức lãi xuất cao còn là điều kiện để bảo toàn nguồn vốn trong nước, tránh
thất thoát ra ngoài.
1.2.3. Các chính sách khuyến khích vốn đầu tư.
Một môi trường đầu tư thông thoáng và thuận tiện luôn là nơi mà các
nhà đầu tư tìm đến. Vì vậy các quốc gia nói chung, các tỉnh nói riêng đều đã
và đang thực hiện biện pháp nhằm cải tạo môi trường của mình, trong đó vai
trò của các chính sách khuyến khích đầu tư, thủ tục đầu tư, các biện pháp ưu
SV: Hoàng Hữu Tiến
đãi đối với từng ngành, lĩnh vực và từng vùng cụ thể. Các nhà đầu tư mong
muốn các thủ tục nhanh chóng và đơn giản, đồng thời có những ưu đãi thuế,
giá thuế đất, và tạo điều kiện cho cơ sở hạ tầng…
Trên đây là các yếu tố có ảnh hưởng lớn đến thu hút các nguồn vốn
đầu tư vào một nền kinh tế, những ảnh hưởng này được xem xét dưới nhiều
góc độ khác nhau song nhìn chung nó sẽ có những tác động tích cực tới việc
thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội khi các nhân
tố này được cân bằng và giữ ở mức độ thích hợp còn như thế nào là thích hợp
thì lại phụ thuộc vào điều kiện và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi
quốc gia cũng như tình hình chung của nền kinh tế thế giới.
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình thu hút vốn vào Hưng Yên.
2.1. Điều kiện tự nhiên.
Hưng yên được tái lập từ ngày 01-01-1997, sau 29 năm hợp nhất với
tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng, Hưng yên là một tỉnh thuộc đồng bằng
Sông hồng, không có biển, tiếp dáp với 6 tỉnh là Hải Dương, Hà Nội, Hà Tây,
Hà Nam, Thái Bình, Bắc Ninh. Đơn vị hành chính của tỉnh gồm thị xã Hưng
Yên và 9 huyện (Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm, Khoái Châu, Văn Giang, Kim
Động, Ân thi, Tiên Lữ, Phù Cừ), với tổng diện tích tự nhiên là 923,45 km 2 và
dân số đến năm 2008 khoảng 1.167 triệu người.
Hưng Yên có vị trí địa lý rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội,
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ngõ phía Đông của Thủ đô
Hà Nội. Trên địa phận phía Bắc của tỉnh có 23km quốc lộ 5A và trên 20km
đường sắt tuyến Hà Nội-Hải Phòng, rất thuận tiện để ra cảng biển quốc tế Hải
Phòng, sân bay quốc tế Nội Bài, đi Hà Nội, Quảng Ninh. Trên địa bàn còn có
trục đường 39 nối giữa quốc lộ 5A qua Thị xã Hưng Yên đến quốc lộ 1A,
cuối năm 2004 cầu Yên Lệnh qua song Hồng xây dựng song và đã trở thành
một trục giao thông quan trọng nối các tỉnh Đông Bắc-Bắc Bắc Bộ (Bắc Ninh,
SV: Hoàng Hữu Tiến
Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh) với các tỉnh Tây-Nam Bắc Bộ (Hà
Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa,…). Các tuyến giao thông đường
tỉnh, huyện, liên xã, liên thôn được phân bố tương đối đồng đều và hợp lý trên
địa bàn tỉnh, đến nay đã nhựa hóa gần 80%. Bao bọc phía Tay và Nam của
tỉnh có 2 tuyến giao thông đường thủy quan trọng qua song Hồng và song
Luộc. Hệ thống lưới điện trên địa bàn tỉnh tương đối phát triển, đảm bảo đáp
ứng yêu cầu phát triển công nghiệp. Trong quy hoạch phát triển khu vục kinh
tế trọng điểm đồng bằng Bắc Bộ đã được chính phủ phê duyệt, dọc trục
đường quốc lộ 5A từ Hà Nội đi Hải Phòng là Khu vục ưu tiên bố trí các khu
công nghiệp, tạp chung phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, điện tử, chế
biến…
Cũng như các tỉnh khác thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, Hưng yên
chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm. Hàng năm có 2 mùa
nóng và lạnh rõ rệt. số giờ nắng trung bình 1.518 giờ/năm, trung bình số giờ
nắng trong tháng là 24 ngày, nhiệt độ trung bình mùa hè 23,2 oC, mùa đông
16 oC. Tổng nhiệt độ trung bình cả năm từ 8.500-8.600 oC. Lượng mưa trung
bình từ 1.450-1.650 mm, thángb5 đến tháng 10 chiếm tới 70% lượng mưa cả
năm. Độ ẩm không khí trung bình trong năm là 86%, thánh cao nhất 92%,
thấp nhất là 79%.
2.2. Tài nguyên.
Hưng Yên là tỉnh đồng bằng, không có rừng, núi, biển. Tài nguyên
khoáng sản bao gồm: nguồn than nâu với trữ lượng lớn khoảng 30 tỷ tấn đang
lằm ở độ sâu 700-1000m nên chưa có điều kiện khai thác, ngoài ra còn tài
nguyên là nước ngầm và nguồn cát đen. Với diện tích tự nhiên 923,45 km 2 thì
tài nguyên quan trọng nhất của tỉnh là khoảng 64.177 ha đất nông nghiệp
trong đó đất trồng cây hàng năm là 57.074 ha cây lâu năm khoảng 716 ha,
diện tích mặt nước luôi trồng thủy sản khoảng 4.000 ha. Đất nông nghiệp của
SV: Hoàng Hữu Tiến
Hưng Yên còn rất nhiều tiềm năng để khai thác. Ngoài các sản phẩm chính về
nông nghiệp thì Hưng Yên còn có nhãn, vải, táo, cây dược liệu…cung cấp
cho thị trường trong nước đang có xu thế tăng nhanh (đặc biệt thị trường Hà
Nội) và xuất khẩu.
2.3. Cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng của Hưng Yên trong những năm qua không ngừng được
nâng cấp, tu bổ, đó cũng là một trong những nhân tố đống góp cho nhịp độ
tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư
trong và ngoài nước đầu tư sản xuất kinh doanh vào địa bàn tỉnh. Tỉnh đã
quan tâm đầu tư cho CSHT cho tất cả các ngành như: Nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ, giao thông, văn hóa, y tế, giáo dục… và được thể hiện cụ thể
như sau:
Đối với ngành nông-lâm nghiệp, hệ thống cơ sở vật chất, cây trồng, vật
nuôi đã được nâng cấp. Hệ thống thủy lợi được đầu tư, cải tạo, nâng cấp.
Công tác phòng chống lũ lụt được thực hiện tốt. Một số công trình thủy lợi
của trung ương trên địa nà như: Trạm bơm La Tiến, Trạm bơm Mai Xá, nâng
cấp trạm bơm Triều Dương A… Bên cạnh đó, vùng đã xây dựng các vùng
chuyên canh như trồng rau, cây ăn quả… ở các khu vực như Quảng Châu thị
xã Hưng yên (nay là thành phố Hưng Yên), từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho
các dự án đầu tư vào chế biến nông sản, thực phẩm…
Hệ thống giao thông luôn được tỉnh thường xuyên quan tâm và đó là
nhiệm vụ quan trọng trong cơ sở hạ tầng. Hiện nay trên địa phận phía bắc của
tỉnh có 23 km quốc lộ 5A và trên 20km đường sắt Hà Nội-Hải Phòng rất
thuận tiện để ra cảng biển quốc tế Hải Phòng, sân bay quốc tế Nội Bài, đi Hà
Nội, Quảng Ninh. Trên địa bàn còn có trục đường 39 nối giữa quốc lộ 5A qua
Thị xã Hưng Yên đến quốc lộ 1A, cuối năm 2004 cầu Yên Lệnh qua song
Hồng xây dựng song và đã trở thành một trục giao thông quan trọng nối các
SV: Hoàng Hữu Tiến