Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện đoan hùng tỉnh phú thọ

  • 37 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh
khỏi, mà đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng có phản ứng
dây chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp.
Trên thế giới người ta thống kê được rất nhiều loại rủi ro cố hữu trong hoạt
động Ngân hàng. Song được quan tâm nhất là rủi ro tín dụng bởi vì trên thực tế,
phần lớn thu nhập của các NHTM là từ hoạt động kinh doanh tín dụng, hơn nữa
đây lại là lĩnh vực kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong các hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng.
Trong thời gian thực tập tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Đoan Hùng
em nhận thấy thực trạng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh đạt kết quả tốt, tỷ
lệ nợ quá hạn không cao, song để phát triển hơn nữa thì cần phải nghiên cứu để
tìm ra những biện pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng một cách hiệu quả
nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên em đã chọn đề tài “Một số
giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đoan Hùng - Tỉnh Phú Thọ” để
làm luận văn tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương I: Ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng trong hoạt động
của NHTM.
Chương II. Thực trạng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHNo&PTNT
huyện Đoan Hùng - Tỉnh Phú Thọ.
Chương III. Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi
nhánh NHNo&PTNT huyện Đoan Hùng – Tỉnh Phú Thọ
CHƯƠNG I
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
i. NGÂN HÀNG THUƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG.
1. Ngân hàng thương mại và vai trò của Ngân hàng thương mại .
1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại.
NHTM là một tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền gửi đó để cho vay đầu tư, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm
các phương tiện thanh toán.
Ngày nay, hoạt động của các tổ chức môi giới trên thị trường tài chính
ngày càng phát triển về số lượng, quy mô, hoạt động đa dạng phong phú và đan
xen lẫn nhau. Điểm khác biệt giữa NHTM và các tổ chức tài chính khác là
NHTM là Ngân hàng kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là các loại tiền gửi, kể cả tiền
gửi không kỳ hạn, cung ứng các dịch vụ thanh toán còn các tổ chức tài chính
khác không thực hiện chức năng đó.
1.2 Vai trò của Ngân hàng thương mại.
Cùng với sự nghiệp đổi mới và đi lên của đất nước thì không thể phủ nhận
vai trò đóng góp to lớn của ngành Ngân hàng.
Thứ nhất: NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan
trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất.
Thứ hai: NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông qua
hoạt động tín dụng của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp.
Thứ ba: NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông
qua hoạt động của NHTM, NHTW thực hiện chính sách tiền tệ phục vụ các mục
tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn của chính phủ bằng các công cụ như: ấn định hạn
mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường
mở để tác động tới lượng tiền cung ứng trong lưu thông.
Thứ tư: Là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.
2. Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại .
2.1 Hoạt động huy động vốn.
Đây là một trong những nghiệp vụ cơ bản của NHTM và thông qua nghiệp
vụ này NHTM thực hiện chức năng tạo tiền. NHTM đã “ góp nhặt “ toàn bộ
nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội dưới các hình thức như : nhận tiền gửi tiết
kiệm, tiền gửi thanh toán... trong đó tiền gửi bao gồm: Tiền gửi không kỳ hạn,
tiền gửi có kỳ hạn. Ngoài ra NHTM còn phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi, các
trái khoán Ngân hàng hay đi vay từ các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
2.2 Hoạt động sử dụng vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM thực chất cũng là một doanh nghiệp
vì vậy khi kinh doanh phải coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và cuối cùng. Để
tạo ra lợi nhuận và thu nhập cho Ngân hàng thì các NHTM phải biết sử dụng và
khai thác nguồn vốn một cách triệt để và hiệu quả nhất.
Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản đem lại phần lớn lợi nhuận cho các
NHTM. Các NHTM dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay từ đó thu lợi
nhuận trên cơ sở chênh lệch phí đầu vào và phí đầu ra. Thực hiện nghiệp vụ này
các NHTM không những đã thực hiện được chức năng xã hội của mình thông
qua việc mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩm xã hội, cải thiện đời sống nhân
dân mà còn có ý nghĩa rất lớn đến toàn bộ đời sống kinh tế thông qua các hoạt
động tài trợ cho các ngành, các lĩnh vực phát triển công nghiệp, nông nghiệp và
các ngành sản xuất, dịch vụ khác trong nền kinh tế. Ngoài hoạt động cho vay là
chủ yếu, các NHTM còn thực hiện các hoạt động đầu tư hùn vốn liên doanh liên
kết, kinh doanh chứng khoán trên thị trường tài chính. Hoạt động này vừa mang
lại lợi nhuận cho Ngân hàng vừa góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền
kinh tế.
2.3 Hoạt động trung gian thanh toán ( Thanh toán không dùng tiền mặt).
Ngân hàng làm trung gian thanh toán thực hiện thanh toán theo yêu cầu của
khách hàng bằng cách cung cấp các công cụ thanh toán thuận lợi như: séc, uỷ
nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng... Hoạt động này góp phần
làm tăng lợi nhuận thông qua việc thu phí dịch vụ thanh toán và đồng thời làm
tăng nguồn vốn cho vay của Ngân hàng, thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi
của khách hàng. Ngoài các hoạt động trên, NHTM còn cung cấp cho khách hàng
nhiều loại dịch vụ như: Dịch vụ uỷ thác, đại lý tài sản vốn của các tổ chức, cá
nhân theo hợp đồng, dịch vụ mua bán ngoại tệ, dịch vụ tư vấn đầu tư chứng
khoán cho khách hàng, tham gia bảo lãnh phát hành chứng khoán...
3. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài ý muốn không dự tính trước được
gây ra những thiệt hại cho một công việc cụ thể nào đó. Trong hoạt động kinh
doanh Ngân hàng thường xảy ra những loại rủi ro sau:
Rủi ro tín dụng: Là những tổn thất mà Ngân hàng phải gánh chịu khi
khách hàng không trả, trả không đầy đủ hoặc không trả đúng hạn tiền gốc và
tiền lãi.
Rủi ro lãi suất: Là những tổn thất cho Ngân hàng khi lãi xuất thị trường
có sự biến đổi.
Rủi ro hối đoái: Là loại rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị
trường. Rủi ro này xuất hiện khi Ngân hàng không có sự cân bằng về trạng thái
ngoại hối tại thời điểm tỷ giá biến đổi
Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản phát sinh khi người gửi tiền
đồng thời có nhu cầu rút tiền gửi ở Ngân hàng ngay lập tức. Khi gặp phải trường
hợp này các Ngân hàng phải bán các tài sản có tính lỏng thấp với giá rẻ hay vay
từ NHTW.
Rủi ro về nguồn vốn: Thường xảy ra một trong hai trường hợp sau .
- Trường hợp thừa vốn tức là vốn bị ứ đọng không cho vay và đầu tư
được, vì vậy không sinh lãi; trong khi đó Ngân hàng vẫn phải trả lãi hàng ngày
cho người có tiền gửi vào Ngân hàng.
- Trường hợp thiếu vốn: Xảy ra khi Ngân hàng không đáp ứng được nhu
cầu cho vay và đầu tư hoặc không đáp ứng được nhu cầu thanh toán của khách
hàng.
Ngoài ra còn có các loại rủi ro khác như: rủi ro công nghệ, rủi ro quốc gia
gắn liền với các hoạt động đầu tư.
II. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM.
1. Khái niệm rủi ro tín dụng.
Là rủi ro do một khách hàng hay một nhóm khách hàng vay vốn không trả
được nợ cho Ngân hàng. Trong kinh doanh Ngân hàng rủi ro tín dụng là loại rủi
ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề có khi dẫn đến phá sản
Ngân hàng.
Ngày nay, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến trang
thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinh
doanh luôn tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu này, các NHTM cũng phải luôn mở
rộng quy mô hoạt động tín dụng, điêu đó có nghĩa là rủi ro tín dụng cũng phát
sinh nhiều hơn.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó
rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào... Rủi ro tín dụng nếu
không được phát hiện và sử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác.
2. Các hình thức rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng được thể hiện dưới nhiều hình thức:
2.1 Không thu được lãi đúng hạn.
Cấp độ thấp nhất là khi người vay không trả được nợ đúng hạn, khi đó Ngân
hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này
được xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợp khách hàng muốn quỵt nợ,
chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu
nợ và trả nợ cuả khách hàng.
2.2 Không thu được nợ gốc đúng hạn.
Khi không thu được nợ gốc đúng hạn cũng có nghĩa là một lượng vốn cho vay
có thể sẽ bị mất. Khi đó, Ngân hàng sẽ chuyển số nợ gốc đó sang mục nợ quá
hạn phát sinh. Khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tín
dụng. Tuy nhiên, đó chưa phải là khoản mất mát hiện thực của Ngân hàng vì có
thể tiến độ hoạt động kinh doanh của khách hàng bị chậm so với kế hoạch đã đề
ra trình Ngân hàng.
2.3 Không thu được lãi hoặc thu không đầy đủ tiền lãi.
Khi Ngân hàng không thu được lãi hoặc thu không đầy đủ tiền lãi thì tình hình
đã trở nên nghiêm trọng hơn. Điều đó thể hiện kết quả kinh doanh của khách
hàng kém hiệu quả đến mức không thể trả được lãi cho Ngân hàng. Khi đó,
Ngân hàng phải chuyển khoản lãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và
thậm chí có thể phải thực hiện miễn giảm lãi cho khách hàng.
2.4 Không thu được nợ gốc hoặc thu không đầy đủ nợ gốc.
Tình huống xấu nhất xảy ra khi Ngân hàng không thu được nợ gốc hoặc thu
không đầy đủ nợ gốc và lúc này Ngân hàng đã bị mất vốn. Tại thời điểm này,
Ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc
phải xoá nợ, coi như khép lại một hợp đồng tín dụng không có hiệu quả.
Trên đây là bốn hình thức giúp cho NHTM nhận biết rủi ro tín dụng và có biện
pháp xử lý. Tuy nhiên, không phải lúc nào gặp rủi ro tín dụng thì Ngân hàng đều
phải trải qua bốn trường hợp trên. Có trường hợp khách hàng trả lãi rất đầy đủ
và đúng hạn nhưng cuối cùng lại không thể trả được nọ gốc cho Ngân hàng. Vì
vậy, khi nhiên cứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào các trường
hợp có nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng như là lãi treo phát sinh và đặc biệt là nợ
quá hạn phát sinh. Còn ở các truờng hợp khác có lãi treo đóng băng hay nợ
không có khả năng thu hồi được coi là rủi ro thực sự nên thường được xem xét
để giải quyết hậu quả và rủt ra những bài học kinh nghiệm.
3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.
3.1 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng.
Thực tế kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian qua cho thấy rủi ro tín
dụng xảy ra là do những nguyên nhân sau:
- Ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng không phù hợp với nền kinh tế và
thể lệ cho vay còn sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của Ngân hàng.
- Do cán bộ Ngân hàng chưa chấp hành đúng quy trình cho vay như:
không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống,
thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn. Đồng thời cán bộ Ngân hàng
không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng.
- Do trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn non kém nên việc đánh
giá các dự án, hồ sơ xin vay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng dự án thiếu tính
khả thi mà vẫn cho vay.
- Cán bộ Ngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức
kinh doanh như: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, xâm tiêu
khi giải ngân hay thu nợ, đôi khi còn nể nang trong quan hệ khách hàng.
- Ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có
lợi nhuân cao hơn những khoản vay lành mạnh.
- Do áp lực cạnh tranh với các Ngân hàng khác.
- Do tình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn ra trong nội bộ Ngân hàng
3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng.
- Người vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích, sử dụng vào các hoạt
động có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho Ngân hàng.
- Do trình độ kinh doanh yếu kếm, khả năng tổ chức điều hành sản xuất
kinh doanh của lãnh đạo còn hạn chế.
- Doanh nghiệp vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản cố định và xây dựng
cơ bản.
- Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, không cải tiến quy
trình công nghệ, không trang bị máy móc hiện đại, không thay đổi mẫu mã hoặc
nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm...dẫn tới sản phẩm sản xuất ra thiếu
sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trường khiến cho doanh nghiệp không có khả
năng thu hồi vốn trả nợ cho Ngân hàng.
- Do bản thân doanh nghiệp có chủ ý lừa gạt, chiếm dụng vốn của Ngân
hàng, dùng một loại tài sản thế chấp đi vay nhiều Ngân hàng, không đủ năng lực
pháp nhân.
3.3 Nguyên nhân khác.
- Do sự thay đổi bất thường của các chính sách, do thiên tai bão lũ, do
nền kinh tế không ổn định.... khiến cho cả Ngân hàng và khách hàng không thể
ứng phó kịp.
- Do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới
không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách
hàng.
- Do sự biến động về chính trị - xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn
cho doanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho Ngân hàng.
- Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập về
trình độ chuyên môn cũng như công nghệ Ngân hàng.
- Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm
phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như Ngân hàng.
- Sự bất bình đẳng trong đối sử của một số cơ quan quản lý Nhà nước
dành cho các NHTM khác nhau.
- Chính sách Nhà nước chậm thay đổi hoặc chưa phù hợp với tình hình
phát triển đất nước.
III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN
DỤNG.
1. Đối với bản thân Ngân hàng.
Các nhà kinh tế thường gọi Ngân hàng là “ngành kinh doanh rủi ro”. Thực
tế đã chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như
trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ- tín dụng. Ngân hàng phải gánh chịu những rủi
ro không những do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu
những rủi ro khách hàng gây ra. Vì vậy “rủi ro tín dụng của Ngân hàng không
những là cấp số cộng mà có thể là cấp số nhân vì phải gánh chịu rủi ro của nền
kinh tế”.
Khi rủi ro xảy ra, trước tiên lợi nhuận kinh doanh của Ngân hàng sẽ bị
ảnh hưởng. Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì Ngân hàng có thể bù đắp bằng
khoản dự phòng rủi ro ( ghi vào chi phí ) và bằng vốn tự có, tuy nhiên nó sẽ ảnh
hưởng trực tiếp tới khả năng mở rộng kinh doanh của Ngân hàng. Nghiêm trọng
hơn, nếu rủi ro xảy ra ở mức độ lớn, nguồn vốn của Ngân hàng không đủ bù
đắp, vốn khả dụng bị thiếu, lòng tin của khách hàng giảm, tất nhiên sẽ dẫn tới
phá sản Ngân hàng. Vì vậy việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là một
việc làm cần thiết và cấp bách đối với các NHTM.
2. Đối với nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng liên
quan đến rất nhiều các thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức
kinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy, kết quả kinh doanh của Ngân
hàng phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế và đương nhiên nó
phụ thuộc rất lớn vào tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp và khách hàng. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng không thể có kết
quả tốt khi hoạt động kinh doanh của nền kinh tế chưa tốt hay nói cách khác
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng sẽ có nhiều rủi ro khi hoạt động kinh tế có
nhiều rủi ro. Rủi ro xảy ra dẫn tới tình trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ,
gây khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, làm ảnh hưởng tiêu
cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Do đó, phòng ngừa và hạn chế rủi ro
tín dụng không những là vấn đề sống còn với Ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp
thiết của nền kinh tế, góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN ĐOAN HÙNG
- TỈNH PHÚ THỌ
I. KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH NHNo&PTNT HUYỆN ĐOAN HÙNG.
1.Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đoan Hùng được
thành lập từ tháng 2 năm 1981 với tên gọi ban đầu là Chi nhánh Ngân hàng nông
nghiệp huyện Đoan Hùng. Từ khi thành lập đến năm 1988 Ngân hàng nông
nghiệp huyện Đoan Hùng là một Ngân hàng cơ sở đảm nhận nhiệm vụ huy động
vốn chủ yếu bằng hình thức tiết kiệm và thực hiện chức năng cung ứng vốn tiền
mặt cho toàn bộ cơ quan hành chính sự nghiệp và đơn vị sản xuất trên địa bàn
huyện. Thời kỳ này hoạt động Ngân hàng mang tính bao cấp. Từ khi có nghị
quyết Ban chấp hành TW Đảng khoá 6 quyết định chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh tế từ cơ chế tập chung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, điều này đòi hỏi có sự đổi mới căn bản cơ cấu tổ chức bộ máy
và hoạt động của hệ thống Ngân hàng. Thực hiện nghị quyết Ban chấp hành TW
Đảng, ngày 26-3-1988 Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định chuyển hoạt động
Ngân hàng sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa và từ ngày 26-3-1988 hệ thống
NHNo&PTNT Việt Nam ra đời với nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các
dịch vụ khác. Trong đó NHNo&PTNT huyện Đoan Hùng là một đơn vị cơ sở
trực thuộc NHNo&PTNT tỉnh Phú Thọ có trụ sở chính đóng tại trung tâm thị
trấn Đoan Hùng - Tỉnh Phú Thọ.
Ngân hàng No&PTNT huyện Đoan Hùng là một đơn vị hoạt động trên địa
bàn huyện miền núi. Mặc dù những năm gần đây cơ sở hạ tầng nông thôn huyện
đã có sự thay đổi, nhưng nhìn chung nền sản xuất hàng hoá và thị truờng chưa
phát triển mạnh, đời sống của người dân còn khó khăn, dân trí chưa cao đã ít
nhiều ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng.
Là một Ngân hàng thương mại duy nhất trên địa bàn vừa thực hiện kinh
doanh tiền tệ tín dụng vừa thực hiện chính sách tín dụng theo chương trình xoá
đói giảm nghèo phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. Hiện tại
NHNo&PTNT huyện Đoan Hùng có mạng lưới hoạt động rộng khắp tới các xã
thuộc địa bàn toàn huyện. Với mạng lưới hoạt động đó đã rút ngắn khoảng cách
từ Ngân hàng tới khách hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư,
phương án phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phục vụ đời sống của khách
hàng.
NHNo&PTNT huyện Đoan Hùng đang từng bước phấn đấu để góp phần
hoàn thành nhiệm vụ của địa phương đồng thời không ngừng đổi mới để kinh
doanh phát triển ổn định, vững chắc, hiệu quả.
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ các phòng ban.
Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Đoan Hùng có tổng số cán bộ công nhân
viên là 43 người với 2 phòng nghiệp vụ, 1 phòng hành chính nhân sự và 2 chi
nhánh Ngân hàng cấp 3 trực thuộc. Dưới sự điều hành của ban giám đốc hoạt
động trên địa bàn 26 xã và một thị trấn. Có trụ sở chính tại trung tâm thị trấn
Đoan Hùng.
Mô hình tổ chức của NHNo& PTNT Huyện Đoan Hùng
Ban giám đốc
Phòng Phòng Phòng NHC3 NHC3
Nghiệp vụ Kế toán Hành chính Chân Mộng Tây Cốc
Kinh doanh Ngân quỹ Tổ chức
Trong đó:
 Ban lãnh đạo (Gồm 1 Giám đốc và 2 Phó giám đốc): Chức năng lãnh đạo
và điều hành mọi hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
 Phòng nghiệp vụ kinh doanh : Với nhiệm vụ là cho vay các doanh nghiệp
quốc doanh, doanh nghiệp tư nhân và cho vay kinh tế hộ gia đình. Huy động
vốn, thực hiện các dịch vụ cầm cố bảo lãnh cho các đơn vị kinh tế.
 Phòng kế toán- Ngân quỹ:
- Phòng kế toán: Thực hiện các nghiệp vụ kế toán Ngân hàng, hạch toán tiền
gửi, tiền vay, thanh toán chuyển tiền cho các đơn vị, làm nhiện vụ hạch toán nội
bộ và làm công tác huy động vốn.
- Kho quỹ: Có chức năng chủ yếu là thu, chi tiền mặt, đáp ứng yêu cầu tiền mặt
cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân, đảm bảo an toàn kho quỹ.
 Phòng hành chính- Tổ chức: Có nhiệm vụ theo dõi nhân sự, tiếp nhận và tổ
chức đào tạo cán bộ, làm công tác văn phòng, hành chính văn thư lưu trữ và
phục vụ hậu cần.
 Hai chi nhánh NHC3: Với các chức năng tổng hợp của phòng kinh doanh và
phòng kế toán.
3. Tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh.
3.1 Hoạt động huy động vốn.
Huy động vốn là một yếu tố quan trọng của hoạt động Ngân hàng. Trong
những năm gần đây Ngân hàng đã luôn chủ động tích cực quan tâm phát triển
công tác huy động vốn. Các hình thức huy động cũng được phong phú hơn,
thích hợp với nhu cầu đa dạng của người gửi tiền như kỳ phiếu, tiết kiệm kỳ hạn
từ 1 đến 24 tháng, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng.
Quan hệ rộng với các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế trong và ngoài huyện,
phát huy được nội lực và tranh thủ dược ngoại lực. Do đó đã góp phần tăng
trưởng nguồn vốn, tạo được cơ cấu hợp lý.
Bảng1: Tình hình huy động vốn.
( Đơn vị: Triệu đồng VN)
Năm 2003 Năm 2004 So sánh 2003/2004
Số tiền %
Chỉ tiêu T.T T.T
Số tiền Số tiền Tăng giảm tăng giảm
(%) (%)
() ()
Tổng vốn huy động 85.357 100 101.652 100 16.295 19,1
1. Phân theo khách hàng
TG các tổ chức kinh tế 43.686 51,2 53.362 52,5 9.676 22,1
TG dân cư 41.671 48,8 48.290 47,5 6.619 15,9
2. Phân theo tính chất
TG không kỳ hạn 28.256 33,1 30.427 29,9 2.171 7,7
TG có kỳ hạn 57.101 66,9 71.225 70,1 14.124 24,7
3. Phân theo loại tiền
TG nội tệ 78.138 91,5 91.287 89,8 13.149 16,8
TG ngoại tệ 7.219 8,5 10.365 10,2 3.146 43,6
( Nguồn tài liệu: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2003-2004 )
Qua bảng số liệu ta thấy vốn huy động của Chi nhánh NHNo&PTNT
huyện Đoan Hùng trong những năm qua có mức tăng trưởng cao đã đưa vốn huy
động của Ngân hàng từ 85.357 triệu đồng năm 2003 lên 101.652 triệu đồng năm
2004. Vốn huy động năm 2004 tăng 16.295 triệu đồng, đạt mức tăng 19.1 % so
với năm 2003.
Trong cơ cấu phân theo khách hàng thì tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt
53.362 triệu đồng, chiếm 52,5% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 9.676
triệu đồng ( tăng 22,1% ) so với năm 2003. Trong đó tiền gửi dân cư đạt
48.290triệu đồng, tăng 15,9% so với năm 2003.
Nếu phân theo tính chất của huy động vốn thì tiền gửi không kỳ hạn năm
2004 đạt 30.427 triệu đồng, chiếm 29,9 % trong tổng nguồn vốn, tăng 2.171
triệu đồng tương đương với 7,7 % so với năm 2003. Tiền gửi có kỳ hạn đạt mức
71.225 triệu, chiếm 70,1% trong tổng nguồn vốn, tăng 14.124 triệu đồng tương
đương với 24,7% so với năm 2003.
Nếu phân theo loại tiền thì tiền gửi nội tệ năm 2004 là 91.287 triệu đồng,
tăng 13.149 triệu đồng tương đương 16,8% so với năm 2003. Tiền gửi ngoại tệ
đã quy đổi năm 2004 là 10.365 triệu đồng, tăng 43,6% so với năm 2003.
3.2 Hoạt động cho vay.
Năm 2004 nhờ có nhiều chính sách áp dụng thúc đẩy hoạt động cho vay
nên tổng doanh số cho vay tăng nhiều so với năm 2003 và được thể hiện qua
bảng số liệu sau.
Bảng 2: Kết quả cho vay của Chi nhánh.
( Đơn vị: Triệu
đồng VN )
Năm 2003 Năm 2004 So sánh 2004/2003
Số tiền %
Chỉ tiêu T.T T.T
Số tiền Số tiền tăng giảm tăng giảm
(%) (%)
() ()
1. Tổng doanh số cho vay 87.304 100 106.294 100 18.990 21,8
- Cho vay ngắn hạn 51.263 58,7 63.776 60 12.513 24,4
- Cho vay trung, dài hạn 36.041 41,3 42.518 40 6.477 18
2. Doanh số thu nợ 72.143 100 99.836 100 27.693 38,4
- Dsố thu nợ ngắn hạn 51.547 71,5 62.204 62,3 10.657 20,7
- Dsố thu nợ trung, dài hạn 20.596 28,5 37.632 37,7 17.036 82,7
3. Tổng dư nợ 102.451 100 108.909 100 6.458 6,3
- Dư nợ ngắn hạn 57.283 55,9 58.855 54,0 1.572 2,7
- Dư nợ trung, dài hạn 45.168 44,1 50.054 46,0 4.886 10,8
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2003-2004 )
Tổng doanh số cho vay đến ngày 31/12/2004 là 106.294 triệu đồng, tăng
18.990 triệu đồng so với năm 2003, tỷ lệ chiếm 21,8%.
Trong đó:
- Cho vay ngắn hạn năm 2004 tăng 24,4% so với năm 2003.
- Cho vay trung, dài hạn năm 2004 tăng 18,0% so với năm 2003.
Doanh số thu nợ năm 2004 tăng so với năm 2003 là 27.693 triệu đồng, tỷ
lệ tăng 38.4%.
- Doanh số thu nợ ngắn hạn năm 2004 so với năm 2003 tăng 20,7% .
- Doanh số thu nợ trung, dài hạn tăng 17.036 triệu đồng, tỷ lệ tăng
82,7%.
Tổng dư nợ đến ngày 31/12/2004 là 108.909 triệu đồng, tăng so với năm
2003 là 6.458 triệu đồng, tỷ lệ tăng 6,3%.
- Dư nợ ngắn hạn năm 2004 là 58.855 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 54,0%
trong tổng dư nợ và tăng so với năm 2003 là 2,7%.
- Dư nợ trung, dài hạn cũng tăng so với năm 2003 khoảng 10,8%.
Về cơ cấu dư nợ tương đối phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của địa
phương. Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn lớn hơn nhưng không nhiều, đó là một kết cấu
hợp lý và thuận lợi.
4. Các hoạt động khác.
 Công tác kế toán.
Cho đến nay trong hệ thống NHNo&PTNT huyện Đoan Hùng đã có gần
700 tài khoản bao gồm cả tài khoản cá nhân và tài khoản các tổ chức kinh tế,
DN quốc doanh và DN ngoài quốc doanh.
Một yêu cầu cơ bản trong công tác kế toán đó là năng lực, trình độ vận
hành máy, phần mềm ứng dụng để tăng cường công tác quản lý kinh doanh.
Ngân hàng đã ứng dụng một số phần mềm vào công tác kế toán . Quản lý
chặt chẽ và bảo đảm cập nhật thông tin nên mọi nghiệp vụ kế toán phát sinh
được hạch toán kịp thời và chính xác. Doanh số dịch vụ chuyển tiền điện tử năm
sau lớn hơn năm trước cả về số món và số tiền tạo thêm cho Ngân hàng có một
nguồn thu nhập tương đối chắc chắn và ổn định.
 Thanh toán qua Ngân hàng.
Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những nghiệp vụ
cơ bản của Ngân hàng, cho đến nay nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt
đă chứng tỏ được nhiều ưu điểm. Do đó thể thức thanh toán này càng được mở
rộng và chiếm một vị trí quan trọng không thể thiếu trong nghiệp vụ Ngân hàng.
Bảng 3: Kết quả hoạt động thanh toán năm 2003-2004.
( Đơn vị:Triệu
đồng VN)
Năm 2003 Năm 2004 So sánh 2003/2004
Số tiền %
Chỉ tiêu T.T T.T
Số tiền Số tiền Tăng giảm tăng giảm
(%) (%)
() ()
Tổng doanh số thanh 9.135.626 100 9.702.780 100 567.154 6,0
toán chung
1. T. toán bằng tiền mặt 1.872.803 20,5 1.901.745 19,6 28.942 2,0
2.T. toán không dùng TM 7.262.823 79,5 7.801.035 80,4 538.212 7,0
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2004 )
Tổng doanh số thanh toán bằng tiền mặt năm 2004 tăng 28.942 triệu
đồng, tỷ trọng tăng khoảng 2% so với năm 2003, chiếm 19,6% trong tổng doanh
số thanh toán.
Thanh toán không dùng tiền mặt năm 2004 là 7.801.035 triệu đồng, tăng
so với năm 2003 là 538.212 triệu đồng, tỷ lệ tăng khoảng 7% so với năm 2003,
chiếm 80,4 % trong tổng doanh số thanh toán.
II. THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT
HUYỆN ĐOAN HÙNG
1. Nhận dạng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHNo&PTNT Đoan Hùng
Rủi ro tín dụng luôn là một vấn đề được quan tâm đặc biệt đối với mọi
Ngân hàng. Trên thực tế, hầu hết các Ngân hàng đều áp dụng các biện pháp
phòng ngừa và hạn chế rủi ro nhưng do rấy nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân
chủ quan và khách quan, rủi ro tín dụng vẫn phát sinh gây ra những thiệt hại đối
với Ngân hàng.
Rủi ro tín dụng tại Chi nhành NHNo&PTNT huyện Đoan Hùng được thể hiện
dưới các dạng: Nợ quá hạn, nợ giãn và nợ khoanh.
1.1 Nợ quá hạn
Là khoản vay đã đến hạn trả nợ mà khách hàng chưa trả được đúng như
trong hợp đồng tín dụng, cũng không có lý do chính đáng để xin gia hạn nợ, do
đó phải chuyển sang nợ quá hạn. Đó là một trong ba loại rủi ro tín dụng nhưng ở
mức độ thấp, có nhiều khả năng thu hồi.
Về mặt thời gian người ta chia nợ quá hạn ra thành 3 loại:
- Nợ quá hạn dưới 6 tháng, được xếp vào loại nợ quá hạn bình thường, có
nhiều khả năng thu hồi . Đây là loại nợ quá hạn thường gặp.
- Nợ quá hạn từ 6 tháng đến 12 tháng, được gọi là nợ quá hạn có vấn đề.
Khả năng thu hồi nợ khó khăn hơn, Ngân hàng phải mất nhiều công sức để phân
tích nguyên nhân, tìm giải pháp, tăng cường đôn đốc, kiểm tra để thu hồi nợ
- Nợ quá hạn trên 12 tháng, được gọi là nợ quá hạn khó đòi. Khả năng thu
hồi rất khó khăn, có nhiều phức tạp và phải bằng nhiều biện pháp kể cả phải
phát mại tài sản thế chấp, các biện pháp hành chính, pháp luật mới có hy vọng
thu được nợ.
1.2 Nợ được giãn ( gọi tắt là nợ giãn )
Là khoản vay đã đến hạn trả nợ nhưng khách hàng chưa trả được. Ngân
hàng Đoan Hùng đã gia hạn nợ nhưng khách hàng vẫn không trả được vì những
lý do khách quan, Ngân hàng Đoan Hùng đã báo cáo lên Ngân hàng cấp trên và
cấp trên dùng quyền hạn của mình xem xét và cho phép giãn nợ.
1.3 Nợ được khoanh ( gọi tắt là nợ khoanh )
Là một dạng của rủi ro tín dụng, có những lý do khách quan nên được
phép của Chính phủ (trên cơ sở của liên Bộ: Kế hoạch đầu tư, Tài chính và
NHTW) cho khoanh lại, tách ra, theo rõi riêng, tạo điều kiện cho khách hàng
được tiếp tục vay vốn Ngân hàng để duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh.
Phần lớn các khoản nợ khoanh ở Chi nhánh Ngân hàng Đoan Hùng là nợ của
một số doanh nghiệp nhà nước.
Bức tranh phản ánh các loại rủi ro tín dụng ở NHNo&PTNT Đoan Hùng
được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây.
Bảng 4: Các dạng rủi ro tín dụng
( Đơn vị: Triệu
đồng VN )
Năm 2003 Năm 2004 So sánh 2003/2004
Chỉ tiêu T.T T.T Số tiền %
Số tiền (%) Số tiền (%) Tăng giảm tăng giảm
() ()
Tổng dư nợ 102.451 100 108.909 100 6.458 6,3
1. Nợ chưa đến hạn 100.428 98,0 107.360 98,6 6.932 6,9
2. Nợ quá hạn 1.404 1,4 1.058 1,0 -346 -24,6
3. Nợ được giãn 429 0,4 339 0,3 -90 -21,0
4. Nợ được khoanh 190 0,2 152 0,1 -38 -20,0
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh )
Qua bảng số liệu ta thấy:
Tổng dư nợ năm 2004 tăng so với năm 2003 là 6.458 triệu đồng, tương
đương khoảng 6,3%. Trong đó:
Nợ chưa đến hạn năm 2004 là 107.360 triệu đồng, tăng 6.932 triệu đông
so với năm 2003 và chiếm 98,6% trong tổng dư nợ.
Chỉ tiêu về nợ quá hạn của Chi nhánh năm 2004 giảm nhiều so với năm
2003. Cụ thể, nợ quá hạn năm 2004 là 1.058 triệu đồng, giảm 346 triệu tương
đương 24,6% so với năm 2003.
Nợ được giãn cũng giảm dần chỉ còn 339 triệu đồng, giảm 21% so với
năm 2003.
Nợ được khoanh từ 190 triệu đồng năm 2003 giảm xuống còn 152 triệu
đồng năm 2004, giảm 20% so với năm 2003.
Như vậy, tình hình các khoản rủi ro tín dụng của Chi nhánh giảm đều
qua từng năm, đó là dấu hiệu tốt đẹp trong tín dụng của Chi nhánh. Chi nhánh
đã cố gắng và bằng nhiều biện pháp để cải thiện tình hình theo chiều hướng hiệu
quả và tích cực hơn.
2. Tình hình chung về nợ quá hạn.
Nợ quá hạn của Chi nhánh được thể hiện rõ qua bảng số liệu sau:
Bảng 5. Tình hình nợ quá hạn tại Chi nhánh.
( Đơn vị: Triệu
đồng VN )
So sánh 2003/2004
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Số tiền %
Tăng giảm Tăng giảm
() ()
Tổng dư nợ 102.451 108.909 6.458 6,3
Nợ quá hạn 1.404 1.058 -346 -24,6
Tỷ lệ nợ quá hạn 1,37% 0,97% -0,4% -29,2
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh )
Qua bảng 5 ta thấy, trong năm 2004 tỷ lệ nợ quá hạn là 0,97% giảm so với
năm 2003 là 29,2%. Tỷ lệ nợ quá hạn giảm cho thấy chất lượng tín dụng đã
được chú ý và đang chuyển biến theo hướng tích cực. Tuy nhiên Chi nhánh cần
phải có nhiều biện pháp để hạn chế và giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống mức thấp
nhất.
3. Phân tích nợ quá hạn.
3.1 Theo loại tín dụng và theo thành phần kinh tế.
Bảng 6: Tình hình nợ quá hạn theo loại tín dụng và theo thành phần kinh tế
( Đơn vị: Triệu
đồng VN )
Năm 2003 Năm 2004 So sánh 2003/2004
Chỉ tiêu T.T T.T Số tiền %
Số tiền (%) Số tiền (%) tăng giảm tăng giảm
() ()
Tổng số nợ quá hạn 1.404 100 1.058 100 -346 -24,6
1. Theo loại tín dụng
- Nợ QH ngắn hạn 677 48,2 387 36,6 -290 -42,8
- Nợ QH trung, dài hạn 727 51.8 671 63,4 - 56 -7,7
2. Theo thành phần kinh tế
- Kinh tế quốc doanh 220 15,7 213 20,1 -7 -3,0
- Kinh tế ngoài QD 1.184 84,3 845 79,9 -339 -28,6
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh )
Qua bảng số liệu trên ta thấy nợ quá hạn chủ yếu tập trung vào nợ quá
hạn trung, dài hạn và nợ quá hạn đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh.
Thứ nhất: Nếu xét theo loại tín dụng thì nợ quá hạn trung, dài hạn tại
Chi nhánh ngày càng tăng, còn nợ quá hạn ngắn hạn có xu hướng giảm dần.
Nợ quá hạn ngắn hạn năm 2004 là 387 triệu đồng, chiếm 36.6% trong
tổng nợ quá hạn, giảm so với năm 2003 là 290 triệu đồng
Nợ quá hạn trung, dài hạn năm 2004 là 671 triệu, so với năm 2003 giảm
56 triệu đồng, tương đương 7,7%.