Một số giải pháp phát triển các dịch vụ ngân hàng tại vpban

  • 67 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
1
VPBank tên đầy đủ là Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp
Ngoài quốc doanh Việt Nam được thành lập theo Giấy phép hoạt động số
0042/NH-GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng
8 năm 1993 với thời gian hoạt động 99 năm. Ngân hàng bắt đầu hoạt động từ
ngày 04 tháng 9 năm 1993. Sau 13 năm hoạt động, trải qua nhiều khó khăn thử
thách, đến nay có thể nói VPBank đã bước đầu thành công trong việc xây dựng
thương hiệu của mình.
Năm 2000 đánh dấu một chuyển biến quan trọng trong quá trình phát triển
của VPBank. Đó là việc Hội đồng quản trị quyết định lựa chọn mục tiêu chiến
lược của VPBank cho tới năm 2010 là xây dựng VPBank trở thành ngân hàng
bán lẻ hàng đầu của Việt Nam và trong khu vực. Khách hàng tiềm năng quan
trọng nhất của VPBank sẽ là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh cá
thể và phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của dân cư. Việc xác định lại mục
tiêu chiến lược nói trên là một quyết định táo bạo và kiên quyết của Hội đồng
quản trị dựa trên những phân tích khoa học xác đáng. Xác định lại chiến lược,
nhằm vào các đối tượng khách hàng chính, VPBank thiết kế lại toàn bộ các sản
phẩm của mình và sắp xếp, chấn chỉnh lại toàn bộ bộ máy tổ chức để phục vụ tốt
nhất nhu cầu của khách hàng, đồng thời VPBank đã không ngừng cải tiến phong
cách phục vụ, tích cực nghiên cứu nhu cầu của khách hàng để đưa ra các sản
phẩm dịch vụ đa dạng và có tính cạnh tranh cao.
Thực tế đã chứng minh rằng định hướng phát triển trở thành ngân hàng
bán lẻ của VPBank là hoàn toàn đúng đắn. Năm 2005 VPBank đã chính thức
thoát khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt. Vượt qua giai đoạn khủng hoảng kéo
dài (1997 – 2004), VPBank đã vươn lên khẳng định được mình với uy tín
thương hiệu ngày càng vững mạnh, tình hình tài chính lành mạnh và chất lượng
hoạt động được kiểm soát tốt. Kết thúc năm tài chính 2005, tỷ lể chia cổ tức của
VPBank đạt 20%. Có thể nói VPBank đang hoàn thiện trên từng bước tiến của
mình.
2
Tuy đã đạt được những thành công đáng khích lệ nhưng để vươn tới vị trí
ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam thì VPBank còn rất nhiều việc phải làm
đặc biệt là trong thời gian sắp tới, khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, mở
cửa hoàn toàn thị trường tài chính cho các ngân hàng nước ngoài…
Sau 15 tuần thực tập tại VPBank, với mục đích tìm hiểu các hoạt động
thực tế và các dịch vụ của một ngân hàng em đã hoàn thành chuyên đề thực tập
tốt nghiệp với đề tài: “Một số giải pháp phát triển các dịch vụ ngân hàng tại
VPBank”.
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG VÀ CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh
tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân
hàng.
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền
kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
- xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò người thủ quỹ cho
toàn xã hội. Thu nhập từ ngân hàng là thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia
đình. Đồng thời ngân hàng cũng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh
nghiệp, cá nhân, hộ gia đình. Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng thường là tổ
chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng
nhà máy, mua sắm trang thiết bị. Đối với người tiêu dùng, ngân hàng là nơi họ
gửi tiền tiết kiệm và cung cấp tín dụng giúp họ đáp ứng những nhu cầu chi tiêu.
Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng
hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản
điện tử… Và khi họ cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tài chính, họ
thường đến các ngân hàng để nhận được lời tư vấn… Tóm lại, khi xã hội ngày
càng phát triển thì vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế cũng trở nên ngày
càng quan trọng.
1.1. Sự hình thành ngân hàng
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển của nền kinh tế là điều kiện
thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của
ngân hàng lại trở thành động lực cho nền kinh tế phát triển.
4
Thợ vàng chính là những người đầu tiên thực hiện nghề ngân hàng thông
qua nghiệp vụ đúc tiền và đổi tiền của họ. Vì vậy, những ngân hàng đầu tiên
được gọi là ngân hàng thợ vàng. Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi
quốc gia kết hợp với sự phát triển của thương mại đã tạo ra yêu cầu đúc, đổi
tiền tại các cửa khẩu hoặc trung tâm thương mại lớn. Những làm nghề đúc, đổi
tiền kinh doanh bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại. Họ thu lợi nhuận
từ phần chênh lệch giữa giá mua và giá bán.
Người làm nghề đổi tiền thường là những người giàu có. Họ thường có
két tốt để cất giữ tiền bạc, của cải của mình. Do nhu cầu cất trữ tiền của các lãnh
chúa, các nhà buôn… rất lớn, nhiều người làm nghề đổi tiền cung cấp luôn cả
dịch vụ cất trữ hộ. Thực hiện cất trữ hộ tài sản làm tăng thu nhập, tăng sự đa
dạng các loại tiền, tăng qui mô tài sản của những người kinh doanh tiền tệ. Việc
cất trữ hộ tài sản này là điều kiện để những người làm nghề đổi tiền có thể làm
trung gian thanh toán. Thanh toán qua trung gian làm nảy sinh nhu cầu thanh
toán không dùng tiền mặt và đến lượt nó những ưu điểm của thanh toán không
dùng tiền mặt đã thu hút các thương gia gửi tiền nhiều hơn. Như vậy trong điều
kiện đồng tiền kim loại được sử dụng trong lưu thông, các chủ cửa hàng vàng
bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền và cho vay nặng lãi. Các chủ cửa
hàng này gọi là những người kinh doanh tiền tệ hay nhà buôn tiền.
Ban đầu, những nhà buôn tiền còn dùng vốn tự có của mình để cho vay
nhưng điều đó không kéo dài. Sau một thời gian hoạt động, họ nhận thấy rằng
thường xuyên có những người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra nhưng tất cả
những người gửi tiền không lấy tiền ra cùng một lúc. Điều này đã tạo ra một số
lượng tiền dư thường xuyên trong két. Lợi dụng tính chất vô danh của tiền, nhà
buôn tiền đã sử dụng tạm thời số dư tiền này để cho vay và thu lãi. Hoạt động
này làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà buôn tiền từ cho vay nặng lãi sang
cho vay dựa trên tiền gửi của khách hàng – Ngân hàng. Hoạt động cho vay dựa
trên số dư tiền gửi của khách đã tạo ra lợi nhuận lớn cho ngân hàng nên các
ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút các nguồn tiền gửi vào ngân hàng mình
bằng cách trả lãi cho người gửi tiền…
5
Ngày nay, ngân hàng đã trở thành một tổ chức quan trọng trong nền kinh
tế. Các dịch vụ ngân hàng không còn bó hẹp trong phạm vi cất giữ hộ của cải,
trung gian thanh toán, nhận tiền gửi và cho vay nữa, hoạt động của các ngân
hàng đã đa dạng hơn rất nhiều và đang dần dần mở rộng sang các lĩnh vực như
cung cấp dịch vụ bất động sản, môi giới chứng khoán, tham gia các hoạt động
đầu tư vào quỹ hỗ tương, bảo hiểm, bảo lãnh… và nhiều nghiệp vụ mới khác.
Có rất nhiều định nghĩa được đưa ra về ngân hàng nhưng cách định nghĩa
toàn diện nhất là dựa trên những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: Ngân
hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng
nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều
chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền
kinh tế.
1.2. Lịch sử phát triển
Hình thức ngân hàng đầu tiên – ngân hàng của các thợ vàng – cho vay chủ
yếu là đối với các cá nhân, chủ yếu là những người giàu có: Quan lại, địa chủ…
nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng. Nhiều ngân hàng lớn còn mở rộng cho vay
tài trợ một phần cho những chi tiêu cần dùng trong chiến tranh của các vua chúa.
Hình thức cho vay chủ yếu thời đó là thấu chi, có nghĩa là: cho phép khách hàng
chi nhiều hơn số tiền gửi tại ngân hàng. Đây là một hình thức cho vay chứa rất
nhiều rủi ro. Do lợi nhuận từ cho vay rất cao nên nhiều chủ ngân hàng đã phát
hành chứng chỉ tiền gửi khống (có giá trị lưu thông như vàng, bạc) để cho vay.
Khi xảy nhiều khách hàng gặp rủi ro, các ngân hàng cho vay theo hình thức này
gặp khó khăn về khả năng thanh toán và rơi vào tình trạng phá sản.
Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán và
tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của các nhà buôn. Trước tình trạng đó,
nhiều nhà buôn đã góp vốn lại thành lập một ngân hàng của riêng mình với chức
năng chủ yếu là cho vay ngắn hạn và thanh toán hộ gắn liền với quá trình luân
chuyển của tư bản thương nghiệp. Ngân hàng này được gọi là ngân hàng thương
mại.
6
Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các nghiệp vụ truyền thống của
ngân hàng như: nhận tiền gửi, cho vay, cất trữ hộ và trung gian thanh toán. Tuy
nhiên, ngân hàng thương mại đã phát triển hơn các ngân hàng thợ vàng ở một
điểm cơ bản đó là: ngân hàng thương mại chủ yếu cho các nhà buôn vay dưới
hình thức chiết khấu thương phiếu. Đây là các khoản cho vay ngắn hạn dựa trên
quá trình luân chuyển của hàng hóa với lãi suất phải thấp hơn lợi nhuận được tạo
ra do sử dụng tiền vay.
Sau một thời gian hoạt động, sự sụp đổ của nhiều ngân hàng thương mại
đã gây tổn thất lớn cho những người gửi tiền. Trong tình hình đó, các ngân hàng
tiền gửi đã xuất hiện. Ngân hàng này không cho vay, chỉ thực hiện giữ hộ, thanh
toán hộ để lấy phí. Đồng thời tại mỗi nước, trong những điều kiện lịch sử cụ thể
đã hình thành nhiều loại ngân hàng khác như ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng
phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng trung ương… tạo nên hệ thống ngân
hàng. Trong hệ thống đó, ngân hàng trung ương làm chức năng xây dựng và
quản lí chính sách tiền tệ quốc gia còn các ngân hàng khác dù có một số nghiệp
vụ khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là thực hiện chức năng của một
trung gian tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ.
Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã có
những bước tiến vượt bậc. Sự phát triển này thể hiện ở việc đa dạng hóa các loại
hình ngân hàng và các hoạt động ngân hàng. Từ các ngân hàng tư nhân, quá
trình tích tụ và tập trung vốn trong các ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân
hàng cổ phần. Quá trình gia tăng vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động
ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước …
Đến nay, các ngân hàng thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ
yếu đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản.
Nhiều ngân hàng mở rộng sang cho vay tiêu dùng, cho thuê tài chính, kinh
doanh chứng khoán… Các hình thức huy động cũng ngày càng phong phú. Các
loai tiền gửi khác được đưa ra nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng.
Công nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt động của ngân hàng
làm cho các hoạt động này càng ngày càng đơn giản, dễ tiếp cận hơn đối với
7
khách hàng. Thanh toán điện tử đang dần dần thay thế thanh toán thủ công, đẩy
nhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán. Các loại thẻ đang thay
thế dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân hàng tại nhà đang tạo ra các
tiện ích ngày càng lớn cho cả khách hàng lẫn ngân hàng..
Trong quá trình phát triển, các ngân hàng không chỉ gia tăng về số lượng
dịch vụ mà còn phát triển cả về quy mô. Quá trình tích tụ và tập trung tư bản đã
tạo ra các tập đoàn ngân hàng cực lớn với số vốn tự có lên tới hàng chục tỷ đô
la Mỹ, tổng tài sản đạt hàng trăm tỷ đô la Mỹ, đủ sức tài trợ cho những ngành
công nghiệp và dịch vụ mũi nhọn trên toàn cầu.
Trên thế giới hiện nay, các ngân hàng đang có xu thế liên kết, hợp tác với
nhau ngày càng chặt chẽ, thúc đẩy hình thành các hiệp hội, các tổ chức liên kết,
các ngân hàng đa quốc gia nhằm tạo ra các chính sách chung, hoặc tương thích
để kiểm soát chung, để kết nối và tạo ra sự thống nhất trong điều hành và vận
hành hệ thống ngân hàng trong mỗi khu vực và trên toàn thế giới.
Cùng với những bước phát triển thăng trầm của nền kinh tế thế giới.
Trong lịch sử phát triển của ngân hàng cũng đã xảy ra không ít những cuộc
khủng hoảng. Những cuộc khủng hoảng này dù lớn hay nhỏ cũng gây ra những
tác động xấu đến nền kinh tế và chính trị cho một quốc gia, một khu vực hay
thậm chí cho cả thế giới. Tuy nhiên cũng từ những cuộc khủng hoảng đó mà các
nhà quản lý đã rút ra được nhiều bài học quý báu giúp cho sự phát triển ổn định
của ngành ngân hàng trong tương lai.
2. Các dịch vụ ngân hàng
Trải qua hàng trăm năm phát triển, đến nay hoạt động của các ngân hàng
ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp hơn. Mặc dù vậy, các nghiệp vụ truyền
thống của ngân hàng vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với ngân hàng
và đang tồn tại phát triển song song với các dịch vụ hiện đại khác.
2.1. Các dịch vụ truyền thống
 Thực hiện mua bán, trao đổi ngoại tệ: Lịch sử cho thấy rằng một
trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại
tệ- một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD
8
lấy một loại tiền khác, chẳng hạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ.
Sự trao đổi đó rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận
tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành
phố mà họ đến. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ
thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như
vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn
cao.
 Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: Ngay ở thời kì
đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối
với các doanh nhân địa phương, những người bán các khoản nợ (khoản
phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bước
chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các
khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng văn phòng
và thiết bị sản xuất.
 Nhận tiền gửi: Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó
các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một
trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của
khách hàng-một quỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời
gian nhiều tuần nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất
tương đối cao. Trong lịch sử đã có mức kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn các
ngân hàng Hy Lạp đã trả mức lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản
tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với
lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kịêm.
 Bảo quản, cất giữ hộ vật có giá: Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân
hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho
khách hàng trong những kho bảo quản chắc chắn của mình. Những giấy
chứng nhận do ngân hàng ký phát - ghi nhận về các tài sản của khách hàng
đang được ngân hàng lưu giữ - có thể có giá trị lưu hành như tiền. Đó là
hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản
9
vật có giá vẫn được các ngân hàng cung cấp cho khách hàng và thưòng do
phòng “Bảo quản” của ngân hàng thực hiện.
 Cung cấp các tài khoản giao dịch và thanh toán: Cuộc cách mạng
công nghiệp ở Châu Âu và châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt
động và dịch vụ ngân hàng mới. Một trong những dịch vụ mới quan trọng
nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài khoản tiền gửi giao dịch - một
tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiết kiệm có thể viết séc thanh toán
cho việc mua hàng hóa, dịch vụ. Đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này
đánh dấu một bước đi quan trọng nhất trong ngành ngân hàng vì nó đã cải
thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh
doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn. Ngày nay,
với sự phát triển không ngừng của hệ thống ngân hàng, các phương thức
thanh toán của ngân hàng không còn giới hạn trong một quốc gia nữa mà
đã mở rộng ra phạm vi quốc tế với các dịch vụ đa dạng như: nhờ thu, phát
hành L/C, chuyển tiền quốc tế…
 Cung cấp dịch vụ ủy thác: Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã
thực hiện quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và
doanh nghiệp thương mại và thu phí trên cơ sở giá trị tài sản hay quy mô
vốn họ quản lý. Dịch vụ này được gọi là dịch vụ ủy thác. Hiện nay ngân
hàng đang cung cấp hai loại dịch vụ ủy thác là: ủy thác thông thường cho
cá nhân, hộ gia đình và dịch vụ ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.
Dịch vụ ủy thác cá nhân giúp khách hàng thực hiện việc tiết kiệm
các khoản tiền cho các mục đích riêng trong tương lai. Khách hàng gửi tại
ngân hàng một số tiền nhất định, ngân hàng sẽ thay khách hàng quản lý và
đầu tư khoản tiền đó cho đến khi khách hàng cần. Trong ủy thác thương
mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền
lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng còn đóng vai trò đại lý cho
các công ty này trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Ở các nước
phát triển, dịch vụ ủy thác là một dịch vụ đem lại nhiều lợi nhuận cho các
ngân hàng thương mại.
10
 Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ: Khả năng huy động và
cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã gây chú ý cho các Chính phủ.
Do nhu cầu chi tiêu lớn (chi cho chiến tranh, cứu trợ thiên tai…) và thường
là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận
với các khoản cho vay của ngân hàng. Ngày nay, Chính phủ giành quyền
cấp phép và kiểm soát các hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng được
cấp phép hoạt động với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện các chính
sách của Chính phủ ở một mức độ nào đó và phải tài trợ cho Chính phủ.
(Thường là các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ
nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà các ngân hàng huy động được)
2.2. Các dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
Dưới sự tác động của môi trường kinh tế - xã hội, của khoa học kĩ thuật…
Các dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Ngày nay, các ngân
hàng không chỉ cung cấp các dịch vụ truyền thống của mình mà đã phát triển
thêm nhiều dịch vụ mới…
Một số yếu tố có tác động mạnh mẽ đế các hoạt động ngân hàng ngày
nay:
 Sự gia tăng cạnh tranh giữa các ngân hàng: để tăng lợi nhuận của
mình, các ngân hàng đã không ngừng nghiên cứu, đưa vào các dịch vụ mới
để thu hút khách hàng. Quá trình mở rộng các dịch vụ đã thực sự gia tăng
từ những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng và các tổ
chức tài chính khác và đặc biệt là từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của
khách hàng. Việc đưa vào triển khai các dịch vụ mới đã làm gia tăng chi
phí hoạt động của ngân hàng, dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Tuy nhiên
các dịch vụ mới này cũng có những ảnh hưởng tốt đến ngành ngân hàng
thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới: các khoản lệ phí khi thực hiện
dịch vụ - đây là một bộ phận có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với
các nguồn thu truyền thống từ lãi.
 Sự phi quản lý hóa của chính phủ: sự giảm bớt sức mạnh kiểm soát
của chính phủ cũng là một yếu tố thúc đẩy sự cạnh tranh và quá trình mở
11
rộng dịch vụ vủa ngân hàng. Điều này bắt đầu từ những năm 80 ở Mỹ và
đã lan rộng ra trên phạm vi toàn cầu. Khởi đầu, chính phủ nâng lãi suất
trần đối với tiết kiệm nhằm giúp công chúng có thu nhập khá hơn từ khoản
tiết kiệm của mình. Việc làm này của chính phủ đã tạo ra sự cạnh tranh
mới giứa ngân hàng và các đối thủ chính của nó như hiệp hội tín dụng và
cho vay, các công ty dịch vụ tài chính… Cả hai bên đều đưa ra nhiều sản
phẩm dịch vụ mới có thể đem lại cho khách hàng nhiều lợi nhuận hơn. Sự
nới lỏng luật lệ kết hợp với gia tăng cạnh tranh đã làm tăng chi phí trung
bình thực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng. Các
ngân hàng phải trả lãi nhiều hơn để có thể chiến thắng đối thủ cạnh tranh
trong việc huy động vốn. Thêm vào đó, chính phủ còn yêu cầu các ngân
hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn để tài trợ cho tài sản của mình.
Trước tình hình đó, các ngân hàng buộc phải tìm cách cắt giảm các chị phí
hoạt động khác như cắt giảm nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng
hệ thống xử lý điện tử hiện đại… Đồng thời tìm ra cách huy động các
nguồn vốn mới bằng cách cung cấp thêm các tiện ích cho người gửi tiền.
 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật: Sự phát triển không ngừng của
khoa học kỹ thuật đã thực sự làm thay đổi bộ mặt của ngân hàng. Từ nhiều
năm nay, các ngân hàng đã đẩy mạnh việc ứng dụng các công nghệ mới,
hiện đại vào hoạt động của mình. Nhờ đó mà hoạt động của ngân hàng
càng ngày càng trở nên nhanh chóng, an toàn và đáng tin cậy hơn. Một ứng
dụng nổi bật của việc ứng dụng khoa học công nghệ vào ngân hàng là: các
máy rút tiền tự động ATM. Các máy rút tiền này cho phép khách hàng tiếp
cận với tài khoản của mình vào bất cứ lúc nào trong ngày mà không phải
đến ngân hàng… Ngoài ra, với hệ thống máy vi tính hiện đại các ngân
hàng có thể xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế
giới và cung cấp cho khách hàng các tiện ích như: ngân hàng điện tử, ngân
hàng tại nhà…
 Quá trình toàn cầu hóa ngân hàng: Để sử dụng hiệu quả quá trình
tự động hóa và những đổi mới công nghệ đòi hỏi các hoạt động ngân hàng
12
phải có quy mô lớn. Vì vậy, các ngân hàng đã không ngừng mở rộng phạm
vi hoạt động của mình để thu hút ngày càng nhiều khách hàng hơn. Kết
quả của những nỗ lực mở rộng đó là sự bành trướng về địa lý và hợp nhất
các ngân hàng đã vượt ra khỏi ranh giới lãnh thổ một quốc gia đơn lẻ và
lan rộng ra với quy mô toàn cầu. Ngày nay, các ngân hàng lớn trên thế giới
đang cạnh tranh với nhau trên tất cả các lục địa. Vào những năm 80, các
ngân hàng Nhật, dẫn đầu là Dai-I Kangyo Bank và Fuji Bank đã phát triển
nhanh hơn hầu hết các đối thủ cạnh tranh trên khắp thế giới. Các ngân hàng
lớn đặt trụ sở tại Pháp, tại Đức và tại Anh cũng trở thành những đối thủ
nặng ký trên thị trường cho vay Chính phủ và cho vay công ty. Quá trình
phi quản lý hóa đã giúp tất cả các tổ chức này cạnh tranh hiệu quả hơn so
với các ngân hàng Mỹ và nắm được thị phần ngày càng tăng trên thị trường
toàn cầu về dịch vụ ngân hàng.
Một số dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây:
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, các dịch vụ của ngân
hàng cũng ngày càng được đa dạng hóa. Bên cạnh các dịch vụ truyền thống,
ngày nay các ngân hàng đang cung cấp thêm một số dịch vụ mới như:
 Cho vay tiêu dùng: Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không chú
ý đến việc cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình vì họ tin rằng các khoản
cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao
và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Bắt đầu từ những
năm đầu thế kỉ 20, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của
khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn. Dưới áp lực
cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng với nhau, việc thu hút những
khách hàng lớn trở nên khó khăn hơn. Các ngân hàng buộc phải hướng đến
người tiêu dùng như là một đối tượng khách hàng tiềm năng. Cho tới
những năm 1920 và 1930, nhiều ngân hàng lớn do Citicorp và Bank of
America dẫn đầu đã thành lập những phòng tín dụng tiêu dùng lớn mạnh.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong
những loại hình tín dụng đạt mức tăng trưởng nhanh nhất. Thời gian gần
13
đây, tốc độ tăng trưởng của tín dụng tiêu dùng đã chậm lại do ngày càng có
nhiều ngân hàng cung cấp dịch vụ này. Tuy nhiên, người tiêu dùng vẫn tiếp
tục là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng và tạo ra một trong số những
nguồn thu quan trọng nhất của ngân hàng.
 Tư vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu
thực hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư.
Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ
chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư vấn về các
cơ hội thị trường trong nước và ngoài nước cho các khách hàng của họ.
 Quản lý tiền mặt: Qua nhiều năm, các ngân hàng phát hiện ra rằng
một số dịch vụ mà họ làm cho bản thân mình cũng rất cần thiết cho các
khách hàng và họ đã đem những dịch vụ đó ra kinh doanh. Một ví dụ điển
hình về các dịch vụ kiểu này là dịch vụ Quản lý tiền mặt, trong đó, ngân
hàng quản lý việc thu và chi tiền mặt cho các doanh nghiệp đồng thời nó sử
dụng số tiền thặng dư để đầu tư tạm thời vào các chứng khoán sinh lời, các
khoản tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần.
Hiện nay dịch vụ quản lý tiền mặt không chỉ dành riêng cho các
doanh nghiệp, các tổ chức nữa mà đang dân dần hướng đến người tiêu
dùng. Khuyên hướng này đang lan rộng ra vì các công ty môi giới chứng
khoán, các tập đoàn tài chính khác cũng cung cấp cho khách hàng dịch vụ
tài khoản với hàng loạt dịch vụ tài chính có liên quan ví dụ như: mua bán
chứng khoán, viết séc, sử dụng thẻ tín dụng…
 Dịch vụ thuê mua thiết bị: hoạt động chủ yếu của ngân hàng là cho
vay để khách hàng mua tài sản. Tuy nhiên trong một số trường hợp, khách
hàng không đủ điều kiện để vay (hoặc không muốn vay). Để mở rộng tín
dụng, các ngân hàng thương mại đã mua hoặc thuê các tài sản để cho
khách hàng thuê. Khi hết hạn thuê, khách hàng quyền chọn mua lại tài sản
hoặc không. Tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu của ngân hàng nên ngân
hàng có thể thu hồi để bán hoặc cho người khác thuê khi người thuê không
trả nợ được. Điều này đã làm giảm bớt rủi ro cho ngân hàng.
14
Có hai hình thức cho thuê là: cho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính. Cho
thuê nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian ngắn, người đi thuê
không có dự định mua tài sản đó để sử dụng lâu dài sau khi thuê. Còn cho
thuê tài chính đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian dài và người đi thuê có
quyền mua lại tài sản khi hết hợp đồng thuê. Hoạt động cho thuê của các
ngân hàng thương mại hiện nay chủ yếu là cho thuê tài chính.
 Bán các dịch vụ bảo hiểm: Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán
bảo hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó đảm bảo cho việc chi trả trong
trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế. Hiện nay, hình thức
bán bảo hiểm chủ yếu của các ngân hàng là liên kết với các hãng bảo
hiểm . Ngân hàng sẽ đóng vai trò là một người môi giới, với mỗi hợp đồng
bảo hiểm bán được (thường là những hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản
như ô tô, nhà cửa…) , ngân hàng sẽ được hưởng một khoản hoa hồng.
Ngoài ra, ngân hàng còn có thể thành lập ra các công ty con có chức năng
kinh doanh bảo hiểm. Ngân hàng cũng cung cấp các dịch vụ tiết kiệm gắn
liền với bảo hiểm như: tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí…
 Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: ngày nay, các
ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tài chính” thực sự,
cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi
nhu cầu tại một địa điểm. Để thực hiện mục tiêu này, các ngân hàng bắt
đầu cung cấp cho khách hàng của mình các dịch vụ môi giới chứng khoán,
các cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không
phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Các ngân hàng thường làm
điều này bằng cách thành lập các công ty chứng khoán con hoặc liên kết
với các công ty chứng khoán đang hoạt động.
 Bảo lãnh: Các ngân hàng ngày nay thường dựa vào uy tín và khả
năng tài chính của mình để cung cấp dịch vụ bảo lãnh cho khách hàng. Bảo
lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ
tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực
hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lãnh thường có 3 bên: bên hưởng bảo
15
lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh. Bảo lãnh của ngân hàng có nghĩa
ngân hàng là bên bảo lãnh; khách hàng là người được bảo lãnh; và người
hưởng bảo lãnh là bên thứ ba.
 Cung cấp các dịch vụ đại lý: Các ngân hàng trong quá trình hoạt
động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi nhưng
lại rất muốn mở rộng phạm vi hoạt động của mình ra khắp thế giới. Để giải
quyết nhu cầu này, nhiều ngân hàng (thường là các ngân hàng lớn) đã cung
cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác. Các ngân hàng đại
lý sẽ thực hiện các nghiệp vụ như: thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng
chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ… cho các ngân
hàng thuê đại lý và thu phí làm dịch vụ đại lý của mình.
 Các dịch vụ thẻ
- Thẻ tín dụng (Credit Card) là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất
trên thế giới hiện nay. Theo đó người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức
tín dụng không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng
kỳ hạn) để mua sắm hàng hóa dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ
này. Thẻ tín dụng là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cho
phép người sử dụng có khả năng chi tiêu trước, trả tiền sau. Khoảng thời
gian từ khi thẻ được dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tới lúc chủ thẻ
phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng
của các tổ chức khác nhau. Thời gian này chủ thẻ được hoàn toàn miễn phí
lãi đối với số tiền phát sinh. Nếu hết thời gian miễn phí lãi này mà toàn bộ
số tiền phát sinh chưa được thanh toán cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ phải
chịu những khoản phí và lãi chậm trả. Khi toàn bộ số tiền phát sinh được
hoàn trả cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục như
ban đầu. Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng dựa trên uy tín
và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng. Khả năng đảm bảo chi
trả được xác định dựa trên tổng hợp nhiều thông tin khác nhau như: thu
nhập, tình hình chi tiêu, mối quan hệ sẵn có đối với ngân hàng, địa vị xã
16
hội của khách hàng… Do đó, mỗi khách hàng có những hạn mức tín dụng
khác nhau.
- Thẻ ghi nợ (Debit Card) là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn với
tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ. Để sử dụng loại thẻ này, chủ thẻ
phải có tài khoản hoạt động thường xuyên tại ngân hàng. Loại thẻ này khi
rút tiền tại các máy rút tiền tự động ATM hay mua hàng hóa dịch vụ tái các
đơn vị chấp nhận thẻ, giá trị những giao dịch sẽ được trừ ngay lập tức vào
tài khoản của chủ thẻ. Như vậy, người sử dụng thẻ này không phải lưu ký
tiền vào tài khoản đảm bảo thanh toán thẻ, căn cứ để thanh toán là số dư tài
khoản tiền gửi của chủ sở hữu thẻ tại ngân hàng và hạn mức thanh toán tối
đa của thẻ do ngân hàng quy định.
Trong số các loại thẻ ghi nợ, thẻ ATM là hình thức phát triển đầu
tiên, nó cho phép chủ thẻ tiếp cận trực tiếp với tài khoản của mình tại ngân
hàng từ máy rút tiền tự động. Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch
khác nhau tại máy rút tiền tự động ATM, bao gồm: xem số dư tài khoản,
chuyển khoản, rút tiền, in sao kê…Sự tiện lợi là đặc điểm quan trọng nhất
của chủ thẻ ATM. Bằng cách nhập mã số cá nhân PIN, chủ thẻ có thể tiếp
cận tài khoản cá nhân của mình tại các máy rút tiền tự động 24/24h một
ngày và 7 ngày trong tuần. Điều này có nghĩa là nhiều giao dịch được thực
hiện ngoài giờ làm việc của ngân hàng và các ngày nghỉ. Tuy nhiên, sử
dụng thẻ ATM, chủ thẻ chỉ có thể tiếp cận với tài khoản của mình từ những
máy rút tiền tự động. Đây là một hạn chế bởt tài khoản cá nhân chưa được
tận dụng triệt để trong thanh toán hàng hóa, dịch vụ.
- Thẻ trả trước(Prepaid Card) là loại thẻ mới được phát triển trên
thế giới, khách hàng không cần phải thực hiện các thủ tục phát hành thẻ
theo yêu cầu của ngân hàng như điền vào yêu cầu phát hành thẻ, chứng
minh tài chính… họ chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền và sẽ được ngân
hàng bán cho một tấm thẻ với mệnh giá tương đương. Đặc tính của loại thẻ
này giống như mọi thẻ bình thường khác, chỉ có điều thẻ này chỉ được giới
17
hạn trong số tiền có trong thẻ và chi tiêu trong một khoảng thời gian nhất
định tùy vào quy định của mỗi ngân hàng, tức là hạn mức của thẻ không có
tính chất tuần hoàn.
 Dịch vụ ngân hàng điện tử E-Banking: E-banking đang ngày càng
phát triển mạnh mẽ, tạo ra môi trường tài chính năng động, đã có hàng
ngàn cá nhân và các doanh nghiệp trên thế giới sử dụng các dịch vụ ngân
hàng điện tử mà không gặp bất kỳ một vấn đề nào. Ngân hàng điện tử bao
gồm hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ như chuyển tiền, thanh toán hoá
đơn, rút tiền ATM ... đã giúp các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn
thông qua các hoạt động tự động của ngân hàng và các giao dịch điện tử
với ngân hàng.
Dịch vụ này giúp các doanh nghiệp có thể kiểm soát tài chính của
mình tại nhà, văn phòng hoặc khi đi công tác chặt chẽ hơn. Kết quả là,
ngân hàng điện tử có thể giúp cá nhân và doanh nghiệp giảm được các chi
phí hành chính, nâng cao năng suất và quản lý tiền mặt tốt hơn- trong một
môi trường hoàn toàn an toàn.
- Các mô hình Ngân hàng điện tử:
 PC banking – là hình thức theo đó ngân hàng có thể cung cấp
phần mềm được cài đặt tại các văn phòng của người sử dụng. Sau đó người
sử dụng có thể truy cập tài khoản của mình thông qua modem và đường
nối điện thoại với ngân hàng. Đồng thời họ có thể chuyển tiền từ tài khoản
vãng lai sang tài khoản tiết kiệm của cùng một chủ tài khoản. Cách truy
cập này không cần thiết phải thông qua Internet.
 Internet Banking – Internet banking đóng một vai trò tích cực
hơn. Mỗi trang chủ của ngân hàng được coi là một cửa sổ giao dịch. Thông
qua trang chủ của ngân hàng, người sử dụng có thể truy cập tài khoản của
mình và các dịch vụ trực tuyến khác như mua hợp đồng bảo hiểm, đầu tư
vào chứng khoán.... Mỗi lần nhấp chuột sẽ là một cơ hội để kinh doanh và
đầu tư, theo đó ngân hàng thay mặt khách hàng thanh toán và trừ các chi
phí dịch vụ thông qua tài khoản của họ tại ngân hàng.
18
Ngày nay, các dịch vụ ngân hàng đã trở nên ngày càng đa dạng, phong
phú và hướng tới mục tiêu tạo ra sự thuận lợi nhất cho khách hàng. Khách hàng
có thể hoàn toàn thỏa mãn tất cả các nhu cầu về dịch vụ tài chính của mình
thông qua một ngân hàng và tại một địa điểm. Các ngân hàng hiện đại đang giữ
một vai trò ngày càng quan trọng trong mỗi nền kinh tế.
3. Vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại
Với các dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú, ngày nay các ngân hàng
đang giữ những vai trò hết sức quan trọng và không thể thay thế trong mỗi nền
kinh tế. Những vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại là:
 Vai trò trung gian tài chính: Thực hiện vai trò này, ngân hàng
chuyển các khoản tiết kiệm từ các hộ gia đình thành các khoản tín dụng cho
các đơn vị, tổ chức có nhu cầu về vốn để đầu tư. Trong nền kinh tế luôn có
các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu
dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung
vốn. Bên cạnh đó lại có những cá nhân và tổ chức có thặng dư trong chi
tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng
hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Nếu việc cho vay tiền đem lại
lợi ích cho cả 2 bên thì tất yếu những người có tiền tiết kiệm sẽ đem tiền của
mình cho những người cần vốn vay. Tuy nhiên trong nền kinh tế để những
người có tiền tiết kiệm và những người có nhu cầu về vốn tự tìm đến được
với nhau là rất khó khăn và tốn kém. Để giải quyết điều này, các ngân hàng
đã đứng ra làm trung gian môi giới. Ngân hàng nhận tiền gửi của những
người có tiền tiết kiệm với lãi suất là a% và sẽ cho những người cần bổ sung
vốn vay với lãi suất là b% (b nhập của ngân hàng. Như vậy cả người cho vay và người đi vay đều đạt
được mục đích của mình mà chỉ phải tốn ít chi phí cho trung gian (chi phí
này nhỏ hơn chi phí mà 2 bên phải bỏ ra để tự đi tìm đối tác cho mình) Sự
xuất hiện của ngân hàng với vai trò trung gian tài chính đã giúp cho việc
phân phối các nguồn vốn trong nền kinh tế trở nên hiệu quả hơn.
19
 Vai trò trung gian thanh toán: Ngày nay, ngân hàng trở thành trung
gian thanh toán lớn nhất ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân
hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để việc thanh toán
được nhanh chóng và thuận lợi, tiết kiệm chi phí, ngân hàng đã cung cấp
cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng séc, thanh
toán bằng ủy nhiệm chi, các loại thẻ… Các ngân hàng còn thanh toán bù trừ
với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc qua các trung tâm thanh
toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô
sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán
hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý áp dụng rộng rãi.
Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất
trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn
giữa các ngân hàng trên toàn thế giới.
 Vai trò tạo phương tiện thanh toán: Theo quan điểm hiện đại, đại
lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông
(M0), thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của khách hàng tại
các ngân hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền
gửi có kì hạn… Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng số tiền đó để mua
hàng hóa dịch vụ. Do đó, thông qua việc cho vay, các ngân hàng đã tạo ra
phương tiện thanh toán (M1). Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương
tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này sang
ngân hàng khác trên cơ sỏ cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử
dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu của một khách hàng
tại một ngân hàng khác. Từ đó sẽ tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi
không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa,
toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi gấp bội thông
qua hoạt động cho vay.
20