Một số giải pháp nhằm tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, nâng cao kết quả kinh doanh tại ngân hàng kỹ thương việt nam

  • 63 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường vấn đề lợi nhuận là một vấn đề vô cùng quan
trọng mà bất cứ một doanh nghiệp nào cũng quan tâm. Lợi nhuận không chỉ
phản ánh kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp mà còn phản ánh khả năng
tồn tại, phát triển và uy tín của doanh nghiệp đó trên thị trường.
Ngân hàng Thương mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng Kỹ Thương
Việt Nam (NHKTVN) nói riêng là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực Tài Chính - Tiền Tệ và dịch vụ Ngân hàng, làm sao để đạt hiệu quả kinh
doanh tạo ra lợi nhuận là một vấn đề lớn được đặt ra hàng đầu. Ngay từ những
ngày đầu thành lập, dưới sự lãnh đạo cuả Đảng, Nhà nước và dưới sự chỉ đạo
kịp thời của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNNVN), Ngân hàng Kỹ
Thương Việt Nam đã phát huy tốt vai trò của mình góp phần thúc đẩy luân
chuyển vốn trong nền kinh tế, đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu vốn cũng như
cung cấp ngày càng nhiều các dịch vụ tiện ích cho người sử dụng và trở thành
Ngân hàng đô thị đa năng hàng đầu Việt Nam
Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường,
việc tạo ra một đồng lợi nhuận là vô cùng khó khăn. Chính vì vậy làm sao để có
thể tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí là vấn đề quan trọng đặt ra cho mỗi Ngân
hàng Thương mại (NHTM) trong đó không loại trừ Ngân hàng Kỹ thương. Tìm
ra các giải pháp là quan trọng nhưng làm sao để các giải pháp đó trở thành hiện
thực lại càng quan trọng hơn. Điều này đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức
của ngành Ngân hàng cũng như của các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô
khác.
Với những lý do nêu trên, sau khi hoàn thành chương trình học tập tại
Học Viện Ngân Hàng cùng hai tháng thực tập tại Ngân hàng Kỹ Thương em
mạnh dạn lựa chọn đề tài:
"Một số giải pháp nhằm tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, nâng cao kết
quả kinh doanh tại Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam"
Chuyên đề của em được trình bày theo kết cấu sau:
1
Chương I :Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại
trong nền Kinh tế thị trường và cơ chế tài chính của Ngân hàng Thương mại
Chương II : Thực trạng thu nhập - chi phí và kết quả kinh doanh của
hội sở chính Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam
Chương III : Một số biện pháp nhằm tăng thu nhập - tiết kiệm chi phí
và nâng cao kết quả kinh doanh tại hội sở chính Ngân hàng Kỹ thương Việt
Nam
2
CHƯƠNG I
CÁC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. CÁC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Khái niệm và đặc trưng của Ngân hàng Thương mại
1.1. Khái niệm NHTM
NHTM là một định chế tài chính quan trọng bậc nhất của mỗi một quốc
gia.
Quan trọng là vậy song không có một định nghĩa nào chung cho khái
niệm NHTM trên thế giới. Tuỳ theo mỗi quốc gia mà NHTM hoạt động trong
thể chế pháp luật khác nhau. Có thể hiểu NHTM với những nét chung: NHTM là
tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng
với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng số tiền đó cho vay thực hiện nghiệp vụ chiết
khấu và làm phương tiện thanh toán. Mức độ phát triển của các dịch vụ Ngân
Hàng là khác nhau phụ thuộc vào nền tảng công nghệ khoa học kỹ thuật của
mỗi nước.
Tại Việt Nam, trong luật các TCTD được Quốc hội thông qua 12/12/1997
quy định:
Theo khoản 1 điều 20: "TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo quy
định của luật này và các quy định khác của pháp luật để huy động kinh doanh
tiền tệ, làm dịch vụ Ngân Hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi
để cấp tín dụng,cung ứng các dịch vụ thanh toán".
1.2. Đặc trưng của NHTM
Mặc dù có những cách hiểu khác nhau song nhìn chung thì Ngân Hàng có
những đặc trưng sau:
-NHTM là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác liên
quan đến tiền tệ.
3
NHTM là các doanh nghiệp vay mượn ,huy động tiền tệ từ các chủ thể
đang nắm giữ tiền tạm thời chưa dùng tới để rồi dùng tiền đó cho vay, đầu tư
vào những lĩnh vực nhà nước cho phép.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt lĩnh vực kinh doanh ngân hàng
với các lĩnh vực kinh doanh khác. Tuy nhiên các Ngân Hàng ngày càng phải
hoạt động trong sự cạnh tranh gay gắt nên sản phẩm và phương thức kinh
doanh của Ngân Hàng cũng có sự thay đổi, theo đó, sản phẩm của Ngân hàng
còn bao gồm các dịch vụ khác như : dịch vụ về tài chính, về thông tin, kế toán
….
Hoạt động kinh doanh Ngân Hàng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.
Thường thì Ngân Hàng đi vay, huy động vốn ngắn hạn với lãi suất thấp để cho
vay với thời hạn dài hơn với lãi suất cao hơn. Từ đó Ngân Hàng sẽ thu được lợi
nhuận. Tuy nhiên chỉ bằng những kinh nghiệm giản đơn cũng có thể thấy được
tính chất tập trung rủi ro của lĩnh vực Ngân hàng. Nếu đến hạn vì một nguyên
nhân nào đó người vay tiền không trả được nợ hoặc trả không dủ sẽ làm cho
Ngân Hàng lâm vào tình trạng rủi ro. Trường hợp khác nữa là Ngân hàng sẽ có
thể gặp rủi ro thanh khoản nếu khách hàng đến rút tiền trước hạn, ngân hàng
phải trả tiền cho khách hàng khi đáo hạn nhưng ngân hàng lại không có đủ tiền
để thanh toán do các khoản cho vay hoặc đầu tư chưa thu hồi được và ngân
hàng cũng không thể vay tiền ở các thị trường tài chính khác…
Chính vì đặc điểm này mà Ngân Hàng phải tạo ra những biện pháp, kỹ
thuật để phòng ngừa rủi ro cho người gửi tiền, người vay tiền và cho chính bản
thân mình.
Ngân hàng thương mại kinh doanh mang tính hệ thống cao và chịu sự
quản lí nghiêm ngặt của Nhà nước. Có thể nói, tình hình lưu thông và giá trị của
tiền tệ có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế; hơn nữa, rủi ro trong kinh
doanh ngân hàng luôn mang tính lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn nhiều
lĩnh vực kinh doanh khác. Do đó đòi hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước phải có
các biện pháp quản lý nghiêm ngặt sao cho Chính sách tiền tệ quốc gia được
đảm bảo thực hiện,hệ thống tài chính ngân hàng được đảm bảo an toàn, quyền
4
lợi của người gửi tiền và người đầu tư được bảo vệ. Hơn nữa, để tạo ra các dịch
vụ toàn diện cho khách hàng, đồng thời các ngân hàng có thể hỗ trợ nhau khi
đứng trước nguy cơ rủi ro, các ngân hàng luôn phải duy trì ràng buộc theo hệ
thống trong quá trình hoạt động của mình cả về mặt tổ chức và về mặt kỹ thuật.
2. Chức năng và vai trò của Ngân hàng Thương mại
2.1.Chức năng trung gian tín dụng
Do đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong qúa trình tái sản xuất xã hội nên
đã xuất hiện mâu thuẫn giữa những người thừa vốn và những người thiếu vốn.
Quan hệ Tín Dụng trực tiếp gặp nhiều hạn chế vì nhu cầu giữa các chủ thể khó
có thể trùng nhau về mặt khối lượng, thời gian tín dụng và giữa các chủ thể
không có đủ sự tin tưởng để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng vốn cho nhau.
Với tư cách là một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng,
NHTMtrên cơ sở tập hợp các nguồn vốn huy động được thành một quỹ để cho
vay, đáp ứng nhanh chóng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể khác nhau. Từ
đó, đảm bảo quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá được diễn ra liên tục.
Như vậy, ngân hàng đã thực hiện chức năng trung gian tín dụng và góp
phần vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển
2.2. Chức năng trung gian thanh toán
Trên cơ sở nhận tiền gửi của khách hàng, NHTM thực hiện các khoản
thanh toán chi trả cho khách hàng.
Hàng ngày nền kinh tế xuất hiện hàng loạt các giao dịch với khối lượng
các khoản thanh toán vô cùng lớn. Trong quá trình làm trung gian tín dụng,
ngân hàng đã thu hút các nhà kinh doanh buôn bán với nhau mở tài khoản tiền
gửi thanh toán tại ngân hàng và ngân hàng thực hiện chức năng trung giân thanh
toán theo lệnh của chủ tài khoản. Đây chính là phương thức thanh toán qua đó
giảm tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông, đẩy nhanh hình thức thanh toán không dùng
tiền mặt với chi phí thấp hơn rất nhiều. Hoạt động thanh toán khẳng định vai trò
trung giân không thể thiếu của NHTM đồng thời tạo ra nguồn thu cho ngân hàng
từ phí thanh toán.
5
Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng đang ngày một phát triển với tốc độ
nhanh chóng, thời gian cho thanh toán rút ngắn đến tối đa do công nghệ ngân
hàng đang ngày càng hoàn thiện. Điều này hoàn toàn phù hợp với sự phát triển
của các quan hệ kinh tế ngày càng sôi động và đa dạng đang diễn ra.
2.3. Chức năng tạo tiền của NHTM
Sự tạo tiền bắt đầu từ khi "đồng tiền ghi sổ" ra đời .Từ một khoản tiền gửi
ban đầu vào một ngân hàng thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong một hệ
thống ngân hàng thương mại, số tiền gửi ban đầu đã tăng lên gấp bội. Tuy nhiên
chỉ có một hệ thống ngân hàng mới thương mại mới có thể mở rộng tiền gửi lên
nhiều lần, còn nếu chỉ có một ngân hàng thì không thể có chức năng tạo
tiền .Khoản tiền gửi ban đầu có khả năng tăng lên bao nhiêu lần là do hệ số mở
rộng tiền gửi quyết định.Hệ số mở rộng tiền gửi của một ngân hàng thương mại
chịu sự tác động của các yếu tố:tỷ lệ dự trữ bắt buộc ,tỷ lệ rút tiền mặt của khách
hàng, tỷ lệ dự trữ dư thừa .
Giả sử trong điều kiện không xuất hiện khoản thanh toán nào bằng tiền
mặt và các ngân hàng đều cho vay hết quỹ cho vay thì hệ số mở rộng tiền gửi
được tính theo công thức:
H = { eq\ f(1; Tỷ lệ dự trữ bắt buộc)}
(H: Hệ số mở rộng tiền gửi)
Khi đó nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thì hệ số mở rộng tiền gửi là
10.Nghĩa là hệ thống ngân hàng có khả năng mở rộng tiền gửi gấp 10 lần số tiền
gửi ban đầu.
Trên thực tế nếu một khách hàng nào đó rút một phần tiền mặt để thanh
toán hoặc ngân hàng không cho vay hết quỹ cho vay thì khả năng mở rộng tiền
gửi cũng gỉam đi. Vì thế hệ số mở rộng tiền gửi trong thực tế được tính theo
công thức:
H = {eq\f(1;{eq\a(Tỷ lệ dự trữ;bắt buộc)} + {eq\a(tỷ lệ thanh toán
bằng;tiền mặt của khách hàng)} + { eq\a(tỷ lệ dự trữ; dư thừa)})}
6
Như vậy ngân hàng cần phải đẩy mạnh nghiệp vụ thanh toán không dùng
tiền mặt và nghiệp vụ cho vay sao cho các khoản thanh toán bằng tiền mặt của
khách hàng và dự trữ dư thừa là thấp nhất.
Tuy nhiên, khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại có thể mang lại
ruỉ ro khi khách hàng có nhu cầu rút tiên mặt một cách ồ ạt mà ngân hàng lại
đang thiếu phương tiện thanh toán bằng tiền mặt .Để giảm thiểu rủi ro các ngân
hàng thương mại phải gửi tiền vào tài khoản tại ngân hàng nhà nước và tham gia
thang toán ra ngoài hệ thống ngân hàng mình.
Chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại có ý nghĩa to lớn trong việc
quyết định quy mô nguồn vốn của ngân hàng ,đồng thời tạo điều kiện thanh toán
không dùng tiền mặt . Với chức năng tạo tiền, ngân hàng trung ương coi ngân
hàng thương mại như một kênh quan trọn ,qua đó ngân hàng trung ương có thể
cung ứng tiền vào lưu thông hay thu hẹp khối lượng tiền tệ ngoài lưu thông
nhằm đảm bảo sự cân đối giữa cung và cầu tiền tệ , thực hiện chính sách giá cả,
tăng trưởng kinh tế lành mạnh và tạo công ăn việc làm cho người lao động.
3. Một số nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nghiệp vụ của ngân hàng thương
mại càng trở nên đa dạng hơn. Bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay để
cho vay .Hoạt động "đi vay” tạo nên nguồn vốn của ngân hàng và hoạt động
"cho vay" hình thành nên nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng . Hơn nữa các
ngân hàng hiện đại ngày nay không chỉ thực hiện đi vay dể cho vay mà còn đa
dạng hóa thên nhiều dịch vụ để vừa phòng tránh rủi ro vừa tối đa hoá lợi nhuận
cho ngân hàng . Do vậy toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại được khái
quát thành hai nghiệp vụ chính sau:
-Nghiệp vụ tài sản nợ
-Nghiệp vụ tài sản có
3.1. Nghiệp vụ tài sản Nợ
Như trên đã trình bày thì nghiệp vụ tài sản nợ chính là nghiệp vụ tạo vốn
của ngân hàng thương mại .Cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải cần có một số lượng vốn nhất định
7
Đặc biệt các ngân hàng thương mại có đối tượng kinh doanh là vốn tiền tệ ,bởi
vậy , trong quá trình hoạt động các ngân hàmg thương mại luôn chú trọng công
tác bảo toàn và phát triển vốn. Các nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng thương mại
bao gồm có:
3.1.1. Vốn tự có
Vốn tự có là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu
của ngân hàng .Vốn tự có trước hết dùng để đầu tư vào trụ sở máy móc , văn
phòng làm việc… sau đó mới sử dụng để kinh doanh và chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng lại đóng vai trò vô cùng quan trọng
bởi nó là căn cứ pháp lý bắt buộc khi thành lập ngân hàng đông thời là cơ sở để
xác định quy mô hoạt động của ngân hàng .Vốn tự có khẳng định thế mạnh cũng
như khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại đối với người gửi tiền trong
trường hợp nếu xảy ra rủi ro. Vốn tự có của ngân hàng thương mại còn mang
tính ổn dịnh rất cao và là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác.
Vốn tự có của ngân hàng được hình thành từ nhiêù nguồn khác nhau. Nếu
là ngân hàng thương mại quốc doanh thì vốn tự có do ngân sách nhà nước
cấp ;ngân hàng thương mại cổ phần thì vốn tự có do các cổ đông đóng góp ;ngân
hàng liên doanh có vốn tự có do các đối tác góp và ngân hàng nước ngoài có vốn
tự có do ngân hàng mẹ ở chính quốc quyết định.
Vốn tự có bao gồm:
-Vốn pháp dịnh và vốn điều lệ:trong đó ,vốn pháp định là số vốn tối thiểu
mà ngân hàng phải có khi thành lập do pháp luật quy định . Vốn điều lệ là vốn
do các cổ đông đóng góp và ghi vào điều lệ hoạt động của ngân hàng.Vốn điều
lệ mức tối thiểu phải bằng vốn pháp định.
-Vốn tự có bổ sung:bao gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ
đặc biệt để bì dắp rủi ro. Việc hình thành các quỹ này phụ thuộc vào kết quả
hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Ngoài ra , vốn tự có của ngân hàng thương mại còn bao gồm lợi nhuận
chưa chia và các quỹ như: quỹ khen thưởng phúc lợi , quỹ trợ cấp mất việc
làm…
8
3.1.2. Vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các
tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thuực hiện nghiệp vụ
tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn kinh
doanh.Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn hoạt
dộng và không thuộc sở hữu của ngân hàng.Vốn huy động không mang tính ổn
định ,luôn biến động.
Nguồn vốn huy động bao gồm :
-Tiền gửi không kỳ hạn , tiền gửi thanh toán.
-Tiền gửi có kỳ hạn.
-Tiền gửi tiết kiệm.
* Tiền gửi không kỳ hạn là những khoản tiền được khách hàng gửi vào
ngân hàng với mục đích thanh toán hay phục vụ cho quá trình sản xuất kinh
doanh một cách thường xuyên, an toàn , thuận lợi chứ không phải vì mục đích
hưởng lãi suất .Chính vì vậy só dư của tài khoản này luôn biến động và ngân
hàng sẽ trả lãi rất ít cho các khách hàng. Khách hàng thường quan tâm đến việc
chi trả dễ dàng từ việc trích tài khoản chứ ít khi quan tâm đến các khoản lãi ít ỏi
nhận được từ phía ngân hàng.Mặt khác khách hàng có thể đựoc hưởng các dịch
vụ tiện ích như:các dịch vụ thanh toấn , chuyển tiền ,rút tiền khi cần thiết.Về
phía ngân hàng ,đây là nguồn vốn rẻ nhất trong số các loại hình huy động
khác,ngân hàng chỉ phải chi ra một chi phí nhỏ trong việc trả lãi,đồng thời ngân
hàng có điều kiện mở rộng thêm các dịch vụ thanh toán mới nhằm xây dựng
hình ảnh của ngân hàng trong công chúng.
*Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng và ngân hàng thoả
thuận với nhau về thời hạn rút tiền. Như vậy về nguyên tắc là khi khách hàng
xác định một kỳ hạn cụ thể thì họ chỉ được rút tiền khi thời hạn kết thúc. Tuy
nhiên trong thực tế, họ có thể yêu cầu được rút trước thời hạn mà đã thoả thuận
với ngân hàngvà chấp nhận hưởng một khoản lãi nhỏ hoặc không được hưởng
lãi theo quy định của ngân hàng.Khách hàng có thể gửi tiền vào ngân hàng với
kỳ hạn dài hoặc ngắn. Các mức kỳ hạn ngắn là :3 tháng , 6 tháng,9 tháng,12
9
tháng.Các mức kỳ hạn dài là:24 tháng,36 tháng… .Mức lãi mà ngân hàng trả cho
khách hàng là tuỳ thuộc vào kỳ hạn khách hàng gửi tiền vào ngân hàng và các
yếu tố khác trên thị trường.
*Tiền gửi tiết kiệm:là một bộ phận thu nhập của nguươì lao động chưa sử
dụng đến và gưỉ vào ngân hàng với mục đích an toàn tài sản và hưởng lãi từ số
tiền đó .Gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn.Tiền gửi tiết kiệm đã trở thành công cụ huy động vốn truyền thống của các
ngân hàng thương mại .Vốn huy động từ tài khoản tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ
trọng khá cao trong tiền gưỉ ngân hàng và có tính chất ổn định nên ngân hàng có
thể lên kế hoạch sao cho sử dụng có hiệu quả.
*Ngoài các hình thức tạo vốn thông qua việc huy động tiền gửi thì khi cần
thiết các ngân hàng thương mại có thể phát hành các loại giấy tờ có giá như:
+Kỳ phiếu:thường có thời hạn từ 3 tháng đến 12 tháng
+Trái phiếu: thường có thời hạn trên 12 tháng
+Chứng chỉ tiền gửi :có thời hạn dưới 12 tháng
Ngân hàng thương mại sẽ phát hành giấy tờ có giá theo từng đợt với quy
mô, thời hạn cũng như cách trả lãi và mức lãi suất khác nhau tuỳ thuộc vào nhu
cầu vốn của ngân hàng lúc bấy giờ. Lãi suất trả cho nghiệp vụ này thường cao
hơn so với lãi suất tiền gửi dựa trên cơ sở quan hệ cung- cầu về vốn trên thị
trường cũng như lãi suất chung của nền kinh tế. Ngược lại ngân hàng có thể chủ
động trong việc huy động vốn của mình.
Có thể nói qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng thương mại nắm trong
tay một lượng lớn của cải xã hội về mặt giá trị lợi tức là vốn tiền tệ. Để có được
một khoản vốn lớn như vậy , ngân hàng phải bỏ ra một khoản chi phí để trả lãi
cho khách hàn , mà khoản chi phí này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí
cuả ngân hàng.
3.1.3. Vốn đi vay
Khi nguồn vốn huy động từ dân cư , từ tổ chức kinh tế không đủ yêu cầu
cho sử dụng vốn thì NHTM phải đi vay từ Ngân Hàng Trung Ương hoặc vay từ
TCTD khác .
10
-NHTM vay của NHTU thông qua các hình thức vay ngắn hạn để bổ sung
hoặc vay tái cấp vốn. Vay ngắn hạn để bổ sung là hình thức các NHTM xin vay
vốn để bổ sung vốn ngắn hạn của mình trong hạn mức tín dụng cho phép.NHTM
xin vay tái cấp vốn của NHTU dưới các hình thức tái chiết khấu giấy tờ có giá
hay vay đảm bảo bằng các giấy tờ có giá như thương phiếu và các phiếu nợ
khác.
-NHTM có thể vay của các NHTM hoặc TCTD khác dưới hình thức vay
ngắn hạn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, chịu lãi suất biên độ trần và sàn
để tránh những biến động đột ngột của cung cầu trên thị trường.
Thêm vào đó , ngân hàng còn có các vốn khác bao gồm các loại vốn được
tạo lập trong quá trình làm trung gian thanh toán hoặc làm đại lí thu hộ ,chi hộ
cho khách hàng, cho các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
Nói tóm lại , các nghiệp vụ tài sản nợ tạo nên chi phí chủ yếu và thường
xuyên của ngân hàng đó là chi trả lãi . Do vậy , để nâng cao hiệu quả kinh doanh
của một ngân hàng thì việc quản lý Tài sản nợ , kiểm soát các khoản chi trả lãi
chính xác là vô cùng cần thiết.Từ đó đảm bảo được an toàn trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng ,đồng thời đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cho
ngân hàng.
3.2. Nghiệp vụ tài sản có
Việc tạo được nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh là điều quan
trọng ,nhưng làm sao tìm ra cách thức sử dụng vốn một cách hiệu quả với mức
sinh lợi cao nhất còn là điều quan trọng hơn .
Đối ứng với nghiệp vụ Tài sản nợ là nghiệp vụ tài sản có hay nghiệp vụ
sử dụng vốn của ngân hàng thương mại. Nghiệp vụ này được phân chia thành
tiền mặt và các tài sản có sinh lời như cho vay, đầu tư và các Tài sản có khác. Tỷ
lệ hợp lý giữa tiền mặt và các Tài sản có sinh lời khác như cho vay, đầu tư sẽ
quyết định đến lợi nhuận và sự an toàn của hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tài sản có của ngân hàng được phân chia thành các khoản mục sau:
-Nghiệp vụ ngân qũy
-Nghiệp vụ tín dụng
11
-Nghiệp vụ tài chính
3.2.1. Nghiệp vụ ngân quỹ
Nghiệp vụ ngân quỹ trước hết bao gồm Tiền mặt tại quỹ của ngân hàng
như tiền giấy, tiền kim loại và những khoản được coi là tiền mặt hiện có tại kho
của ngân hàng, được giữ chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng
gửi tiền và dự trữ theo luật định. Nhu cầu dự trữ tiền mặt cao hay thấp là tùy
thuộc vào qui mô hoạt động của ngân hàng, nhu cầu rút tiền mặt của khách
hàng. Đây là nghiệp vụ không sinh lời của một ngân hàng nhưng đóng vai trò
rất quan trọng nó bảo đảm uy tín trong thanh toán cho khách hàng với ngân
hàng khác và đặc biệt sự tuân thủ trong quy định về dự trữ bắt buộc và dự trữ
đảm bảo khả năng thanh toán của NHTU áp dụng đối với các NHTM. Tùy thuộc
vào mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳmà NHTU xác định một
tỷ lệ dự trữ nhất định cho các NHTM.
3.2.2. Nghiệp vụ tín dụng
Đây là nghiệp vụ chủ yếu và quan trọng của các NHTM, nó thường chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng tài sản Có của ngân hàng và là thành phần tài sản sinh lời
nhiều nhất cho NHTM .
Nghiệp vụ tín dụng giúp ngân hàng cung ứng vốn cho nền kinh tế thúc
đẩy mở rộng sản xuất kinh doanh. Các NHTMluôn phấn đấu để đạt mức dư nợ
cao nhất bởi thu lãi cho vay là nguồn thu chính, tuy nhiên bên cạnh đó nghiệp vụ
này cũng chứa đựng nhiều rủi ro.
Các NHTM thường thực hiện nghiệp vụ này thông qua các hình thức phổ
biến sau:
*Nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn ,trong đó bao gồm :
- Cho vay chiết khấu: là nghiệp vụ mà trong đố khách hàng phải chuyển
giao cho ngân hàng những giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toánvà số tiền được
vay sẽ bằng mệnh giá trừ đi lãi suất chiết khấu và hoa hồng phí.
-Cho vay ứng trước: là nghiệp vụ mà ngân hàng cho khách hàng vay bằng
cách mở cho khách hàng một tài khoản và chuyển số tiền vay vào tài khoản tiền
12
gửi của họ. Khách hàng có thể phát hành séc,ủy nhiệm chi để mua hàng hóa dịch
vụ .
-Cho vay thấu chi: là nghiệp vụ ngân hàng cho phép khách hàng chi tiêu
vượt quá số dư trên tài khoản vãng lai .
-Ngoài ra, nghiệp vụ tín dụng còn có các loại hình khác như tín dụng
ngân quỹ ,tín dụng bằng chữ ký …rất phong phú và đa dạng. Qua đó ngân hàng
có thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu vốn của các đối tượng khách hàng .
*Nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn, bao gồm có:
- Cho vay theo dự án: là một trong những phương pháp tài trợ cho dự án
đã được xây dựng trước. Trong đó, việc cho vay được tiến hành trên một văn
bản hoàn chỉnh về việc vay và trả nợ đã được nghiên cứu, soạn thảo, được ký
kết giữa các chủ dự án và ngân hàng, đồng thời cũng dựa trên các căn cứ khoa
học kỹ thuật phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của nhà nuớc .
-Cho vay thuê mua (leasing):là hình thức tín dụng trung-dài hạn trên cơ sở
hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là TCTD với khách hàng thuê. Khi
kết thúc thời hạn thuê, khách hàng được quyền mua lại hoặc tiếp tục thuê các tài
sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê . Trong thời hạn
thuê, các bên không được đơn phương từ bỏ hợp đồng .
-Cho vay hợp vốn : là nghiệp vụ mà một nhóm ngân hàng sẽ cùng cho vay
đối với một dự án vay vốn, trong đó sẽ có một tổ chức đứng ra làm đầu mối để
dàn xếp theo quy định.
Việc phân bổ nguồn vốn huy động vào nghiệp vụ cho vay ngắn hạn và
cho vay trung dài hạn sao cho có hiệu quả nhất luôn chiếm được sự quan tâm
lớn của ngân hàng. Nói như vậy bởi tín dụng là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng chủ
yếu trong tổng tài sản có sinh lời của NHTM nên nó mang vai trò quyết định đến
một bộ phận thu nhập của ngân hàng.
3.2.3. Nghiệp vụ đầu tư tài chính
Bên cạnh nghiệp vụ Tín dụng – công cụ sinh lời chủ yếu của NHTM thì
nghiệp vụ đầu tư Tài chính cũng là nghiệp vụ sinh lời và phân tán rủi ro cho
NHTM.
13
Đầu tư Tài chính là nghiệp vụ sử dụng vốn của Ngân hàng, đầu tư vào các
Tài sản Tài chính như: giấy tờ có giá của Nhà nước, chứng khoán của công ty,
các công cụ phái sinh.
Thực hiện nghiệp vụ này, các NHTM chủ yếu nhằm mục đích sinh lời, kế
đến là để đa dạng hoá các khoản mục bên Tài sản có nhằm hạn chế rủi ro, nâng
cao khả năng thanh khoản và đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng.
Tuy nhiên, khi tham gia vào lĩnh vực này, các NHTM phải tuân theo các
quy định rất chặt chẽ, chỉ được dùng Vốn tự có để đầu tư Tài chính và chịu giới
hạn mức đầu tư tối đa. Thu nhập từ khoản vốn đầu tư có thể do chứng khoán
mang lại do chênh lệch giá trên thị trường chứng khoán. Điều hiển nhiên là
Ngân hàng phải chịu thua lỗ nếu các chứng khoán, các khoản đầu tư mất giá.
3.2.4. Các nghiệp vụ kinh doanh khác
Mặc dù mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của Ngân hàng là lợi nhuận
nhưng NHTM vẫn cần có sự an toàn, tránh được các rủi ro trong hoạt động kinh
doanh của mình. Do vậy, ngoài các nghiệp vụ chính là Tín dụng, Ngân quỹ, Đầu
tư Tài chính, các NHTM hiện đại ngày nay ngày càng quan tâm đến việc phát
triển các dịch vụ mới, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng qua đó Ngân hàng
tìm kiếm lợi nhuận với mức rủi ro thấp nhất. Các dịch vụ khác mà ngân hàng
cung cấp vô cùng phong phú, gồm có:
*Dịch vụ thanh toán
Đây là nghiệp vụ mang tính dịch vụ đơn thuần mà không cần sử dụng đến
nguồn vốn của ngân hàng, thêm vào đó nó còn tạo ra một nguồn vốn tương đối
lớn cho ngân hàng thông qua quá trình thanh tóan.
NHTM có thể thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước thông qua các
phương tiện thanh toán như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ …hoặc thanh
toán quốc tế dưới các hình thức như: chuyển tiền, nhờ thu, L/C…Thông qua các
dịch vụ thanh toán, NHTM không những thu được các khoản phí mà còn tăng
sức cạnh tranh của mình đối với các đối thủ.
*Dịch vụ Bảo Hiểm
14
Bao gồm trong đây có các loại hình như :Bảo hiểm kinh doanh, Bảo hiểm
nhà ở và đồ dùng…Khi xác định cung cấp loại hình dịch vụ này, NHTM cũng
xác định sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ chuyên doanh về Bảo hiểm.
Tuy nhiên các NHTM vẫn cung cấp dịch vụ này vì mục đích đa dạng hoá danh
mục sản phẩm cũng như tăng thêm thu nhập cho bản thân mình.
*Dịch vụ Bảo lãnh
Cũng như Bảo hiểm, bảo lãnh là một nghiệp vụ ngoại bảng của NHTM.
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của Ngân hàng (bên bảo lãnh) với
bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ Tài chính thay cho
khách hàng ( bên được bảo lãnh ) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải
nhận nợ và hoàn trả cho Ngân hàng số tiền đã được trẩ nợ thay. Qua dịch vụ này
Ngân hàng có thể khẳng định uy tín của mình với các khách hàng và đồng thời
ngân hàng cũng thu được phí bảo lãnh, góp một phần vào thu nhập cho Ngân
hàng
*Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và kinh doanh vàng trên thị trường
trong nước và thị trường Quốc tế khi NHNN cho phép.
NHTM có thể kinh doanh giao ngay (spots), giao dịch ngoại hối kỳ hạn
(forwards), hoặc giao dịch hoán đổi ( swaps), giao dịch quyền chọn (options).
Trong xu thế mở cửa giao lưu với quốc tế, để trở thành các NHTM phát
triển đa năng thì nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối ngày càng trở nên quan trọng
đối với các NHTM. Bởi nó không chỉ đem lại lợi nhuận trực tiếp do tỷ giá thay
đổi theo chiều hướng có lợi cho NHTM mà còn hỗ trợ để mở rộng các nghiệp vụ
khác
*Dịch vụ uỷ thác
Nghiệp vụ này đã được các NHTM trên thế giới quan tâm từ rất sớm, bao
gồm: uỷ thác cho cá nhân và uỷ thác cho doanh nghiệp.
Uỷ thác cho cá nhân gồm : quản lý thanh lý tài sản theo di chúc, giám hộ
và bảo quản tài sản, quản lý điều hành tài sản theo hợp đồng với nội dung là
15
chuyển nhượng tài sản từ người uỷ thác sang cho người chịu thác để ngưòi này
nắm giữ và điều hành tài sản vì lợi ích của người uỷ thác.
Uỷ thác cho doanh nghiệp gồm: quản lý quỹ hưu trí, uỷ thác làm đại lý
cho các tổ chức…
Nhìn chung nghiệp vụ uỷ thác mang lại cho ngân hàng những khoản thu
nhập đáng kể và quan hệ tốt đẹp với những khách hàng có doanh số hoat động
lớn.
*Dịch vụ tư vấn:
Là loại dịch vụ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ký kết và cung cấp
cho bên được tư vấn những trợ giúp của những nhân viên được đào tạo về
chuyên môn một cách khách quan độc lập.
Hơn bất cứ một doanh nghiệp nào, NHTM là một doanh nghiệp mà hoạt
động kinh doanh luôn chứa đựng rủi ro tiềm ẩn cao bởi đối tượng kinh doanh
của NHTM là tiền tệ và nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là do đi vay dưới
nhiều hình thức. Chính vì vậy trong haot động của mình Ngân hàng là một
doanh nghiệp có quan hệ với rất nhiều khách hàng, lưu giữ nhiều thông tin của
các tổ chức kinh tế, hơn nữa ngân hàng còn có các nhân viên đầy kinh nghiệm
trong lĩnh vực Tài chính tiền tệ. Điều này giúp cho các chuyên gia của ngân
hàng có thể đưa ra các lời khuyên tối ưu cho các khách hàng, giúp cho họ giải
quyết các vấn dề trong kinh doanh của mình một cách có hiêu quả nhất .
Dịch vụ tư vấn không chỉ giúp cho ngân hàng thu được các khoản phí mà
còn nâng cao hình ảnh của ngân hnàg trong mắt khách hàng.
Ngoài các dịch vụ trên, NHTM còn cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác
như: quản lý ngân quỹ, cho thuê két…
Nói tóm lại, các NHTM hiện nay, ngoài việc thực hiện các nghiệp vụ
truyền thống còn thực hiện đa dạng hoá các nghiệp vụ khác bằng cách đầu tư
vào các thiết bị kỹ thuật, ứng dụng CNTT vào việc cung ứng các sản phẩm dịch
vụ cho khách hàng sao cho có thể trở thành ngân hàng đa năng hiện đại, đáp ứng
tối đa nhu cầu của khách hàng để từ đó thu về các khoản lợi nhuận.
16
II. CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Cơ chế tài chính của Ngân hàng Thương mại
Căn cứ vào các tài liệu:
- Nghị định số 166/1999/ NĐ-CP của chính phủ về chế độ tài chính của các
TCTD .
- Thông tư số 92/2000/TT- Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định
số 166 của chính phủ.
- Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN về ban hành
quy định phương pháp tính và hạch toán thu, chi trả lãi của NHNN và TCTD.
Cơ chế tài chính của NHTM được khái quát lại như sau:
NHTM là doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ
về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ và
cam kết của mình theo quy định của pháp luật .
Xuất phát từ cơ chế điều hoà vốn, cấc NHTM thực hiện hạch toán toàn hệ
thống, trong đó cấp chủ quản chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính, kết quả
kinh doanh của toàn hệ thống; các đơn vị thành viên là đơn vị hạch toán nội bộ,
chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính và kết quả kinh doanh của đơn vị mình.
Hoạt động tài chính của NHTM theo nguyên tắc lấy thu bù chi. Nếu kinh
doanh có lãi thì sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, số còn lại được trích
lập các quỹ theo quy định; ngược lại bị lỗ thì NHTM chịu trách nhiệm về khoản
lỗ trên cơ sở điều hoà kết quả kinh doanh của toàn hệ thống .
Doanh thu của NHTM được hình thành từ thu lãi cho vay, đầu tư, từ kinh
doanh ngoại tệ, vàng bạc và từ các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, trong đó chủ
yếu là thu lãi từ hoạt động cho vay, đầu tư. Để tăng doanh thu cho ngân hàng ,
một mặt phải nâng cao chất lượng cho vay, đầu tư; mặt khác phải mở rộng hoạt
động dịch vụ cho ngân hàng theo xu hướng chung của các ngân hàng hiện đại
trên thế giới.
Chi phí của NHTM bao gồm các khoản chi trả lãi tiền gửi cảu khách
hàng; hci trả lãi tièn vay; chi kinh doanh ngoại tệ vàng bạc đá quý, chi quản lý.
Trong đó chi trả lãi tiền gửi của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Để hạ thấp
17
chi phí nhằm đảm boả kinh doanh có lãi phải có biện pháp sát hợp với từng loại
chi phí.
NHTM áp dụng nguyên tắc dồn tích để hạch toán dự thu và dự trả lãi.
Thực hiện phương pháp dồn tích để đảm bảo các báo cáo tài chính sẽ phản ánh
các khoản thu nhập đúng đắn của NHTM trong một thời kỳ kế toán xác định ằng
việc thích ứng các chi phí với thu nhập được tạo ra.
Niên độ tài chính của NHTM được bắt đầu từ ngày 01/01 đến hết ngày
31/12. Mọi khoản doanh thu, chi phí phải được hạch toán trong hết năm tài
chính. Cuối năm (31/12), NHTM xác định kết quả kinh doanh một lần. Tuy
nhiên để có căn cứ tạm trích và trả lương cho cán bộ, công nhân viên, tạm trích
các quỹ thì hàng tháng NHTM tạm tính kết quả hoạt động kinh doanh theo kế
hoạch lợi nhuận quý. Cuối năm sau khi xác định kết quả kinh doanh chính thức
sẽ thanh toán phần tạm chi lương và tạm trích các quỹ.
NHTM phải thưc hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật, ghi
chép đầy đủ chứng từ ban đầu, cập nhật sổ sách kế toán và phản náh đầy đủ kịp
thời, trung thực chính xác cá hoạt động kinh tế, tài chính. Thực hiện chế độ quản
lý tài chính của nhà nước và của ngân hàng. Xây dựng kế hoạch tài chính, lập dự
toán và quyết toán các khoản chi phí theo quy định.
Hàng năm, hoạt động tài chính của NHTM phải được kiểm toán nội bộ và
kiểm toán độc lập. Báo cáo tài chính sau khi được kiểm toán độc lập NHTM
phải công khai cho ba đối tượng: Nhà nước (gồm các cơ quan quản lý tài chính,
thống kê, thuế và NHNN), trong nội bộ NHTM (gồm tổ chức Đảng, đoàn thể
nguời lao động và các cổ đông), bên ngoài NHTM (gồm các nhà đầu tư, khách
hàng). Nội dung công khai cho từng đối tượng theo quy định của chế độ tài
chính đối với NHTM.
2. Các khoản thu nhập - chi phí và kết quả kinh doanh của Ngân
hàng Thương mại
2.1. Các khoản thu nhập của Ngân hàng Thương mại
18
Các khoản thu nhập của NHTM được tạo ra từ nghiệp vụ sử dụng vốn
của ngân hàng. Các NHTM hiện đại ngày nay kinh doanh đa năng nên nội dung
các khoản thu cũng rất phong phú.
-Thu từ hoạt động nghiệp vụ bao gồm: thu lãi cho vay, hùn vốn liên doanh
liên kết, thu lãi tiền gửi, thu từ nghiệp vụ cho thuê tài chính, htu từ dịch vụ thanh
toán và ngân quỹ, thu từ nghiệp vụ chứng khoán và bảo lãnh, thu khác liên quan
đến hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng.
-Thu từ hoạt động khác của NHTM: htu góp vốn , mau cổ phần, htu từ
việc tham gia thị trường tiền tệ, thu từ hoạt động kinh doanh vàng bạc và ngoại
tệ, thu từ nghiệp vụ uỷ thác, đại lý, thu từ dịch vụ bảo hiểm và tư vấn, htu từ
nghiệp vụ mua bán nợ giữa các TCTD, thu từ nghiệp vụ cho thuê tài sản và
nghiệp vụ khác.
-Thu hoàn nhập các khoản dự phòng đã trích trong chi phí, htu từ các
khoản vốn bằng dự phòng rủi ro, thu từ nhượng bán và thanh lý TSCĐ và thu về
chênh lệch tỷ giá theo quy định của pháp luật.
Trong đó khoản thu lãi từ việc cho vay, hùn vốn, liên kết là khoản thu cơ
bản của NHTM. Nguồn thu này chiếm tỷ lớn trong tổng thu nhập của NHTM và
nó phụ thuộc vào khung lãi suất do NHNN quy định cũng như phụ thuộc vào kết
quả sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, các ngân hàng tham gia hùn
vốn, góp vốn. Các ngân hàng Việt Nam thu từ nghiệp vụ này thường chiếm hơn
70% tổng thu từ nghiệp vụ ngân hàng, các NHTM khác nhau tuỳ thuộc vào khả
năng của mỗi ngân hàng.
Khoản thu từ lãi tiền gửi của NHTM gửi tại NHNN và các TCTD khác
trên cơ sở số dư tài khoản tiền gửi thanh toán và các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn
thường là nhỏ. Bởi vì mục đích của các tài khoản này là để tham gia vào các
hoạt động thanh toán, dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN và bảo toàn vốn
nên NHTM được hưởng lãi suất rất thấp.
Thu từ nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ như lãi từ hoạt động kinh doanh
ngoại tệ, phí nghiệp vụ thanh toán quốc tế… Về nguyên tắc các khoản thu về
kinh doanh ngoại tệ thu bằng ngoại tệ. Các ngân hàng phát triển nghiệp vụ này
19
là hết sức cần thiết do không những tăng thu nhập mà còn tạo điều kiện cho
nghệp vụ thanh toán quốc tế được thuận lợi nhanh chóng, góp phần mở rộng
quan hệ thương mại quốc tế.
Thu từ các hoạt động dịch vụ ( thanh toán, chuyển tiền, tư vấn, chứng
khoán,…) hiện nay ở nước ta còn rất nhỏ song với ngân hàng hiện đai trên thế
giới thì khoản thu này tương đối lớn, chiếm 40 - 45 %. Vì vậy, các ngân hàng
Việt Nam cần ra sức phấn đấu tăng nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ.
*Tài khoản phản ánh doanh thu của NHTM :
Tài khoản phản ánh doanh thu của NHTM được phản ánh và bố trí ở loại
7 trong hệ thống tài khoản của TCTD
- Thu về hoạt động tín dụng : phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 70
- Thu về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: phản náh ở tài khoản cấp 1 số
71
- Thu từ các hoạt động khác : phản ánh ở tìa khoản cấp 1 số 72
- Các khoản thu nhập bất thường: phản ánh ở tài khoản cấp 1 số 79
Kết cấu của tài khoản thu nhập :
Bên có ghi:-Các khoản thu về hoạt động kinh doanh trong năm
Bên nợ ghi:-Số tiền thoái thu các khoản thu trong năm.
- chuyển số dư có cuối năm vào tài khoản lợi nhuận trong
năm nay khi quyết toán
Số dư có: - Phản ánh số thực thu trong năm
2.2. Các khoản chi phí của NHTM
Đối ứng với các khoản thu nhập, NHTM cũng như các doanh nghiệp khác
cần phải bỏ ra các chi phí để duy trì các hoạt động của mình. Các khoản chi phí
của NHTM gồm có :
Chi phí về huy động vốn như : chi trả lãi tiền gửi, chi trả lãi tiền vay, chi
trả lãi việc phát hành giấy tờ có giá và các chi phí khác liên quan đến huy động
vốn.
Trong đó việc trả lãi tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí
của ngân hàng thương mại, nhưng đây là khoản chi không thể hạn chế hay tiết
20