Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh lưu trú tại chi nhánh công ty tnhh một thành viên du lịch công đoàn việt nam tại hải phòng

  • 73 trang
  • file .doc
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
LỜI CẢM ƠN!
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn
Quản trị Kinh doanh của trường Đại học Dân lập Hải Phòng, cùng toàn bộ
ban lãnh đạo và nhân viên trong khách sạn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em
để em có được tài liệu và những thông tin cần thiết phục vụ cho bài viết này.
Em chân thành cảm ơn cô - Thạc sỹ Bùi thị Thanh Nhàn đã tận tình giúp đỡ
em trong suốt quá trình làm luận văn vừa qua.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn nhà trường đã tạo điều kiện cho
những sinh viên như em có điều kiện và thời gian thực tập thực tế để vận
dụng những kiến thức đã học tại nhà trường vào thực tế. Qua đó học hỏi thêm
những kinh nghiệm môi trường thực tập cho bản thân.
Trong quá trình làm khóa luận em không tránh khỏi những sai sót kính
mong các thầy cô giáo cùng các bạn tham gia góp ý để bài viết của em được
hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hải Phòng, ngày tháng năm
Sinh viên
Bùi Thị Nhung
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 1
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, mặc dù ngành du lịch ra đời muộn hơn những ngành kinh tế xã
hội khác nhưng ngay sau khi ra đời ngành du lịch Việt Nam đã gặt hái được nhiều
thành công đáng kể. Đặc biệt là trong những năm gần đây du lịch đã trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn với tốc độ tăng trưởng vượt bậc. Có được kết quả đó là do
nước ta có nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, phong phú đa dạng. Cụ thể ta thấy
được sự phát triển không ngừng của các trung tâm du lịch tại các thành phố lớn
như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh...Với nhiều loại
hình du lịch như thăm quan, giải trí, du lịch văn hoá, du lịch biển... Đặc biệt là sự
xuất hiện của các khách sạn nhà hàng lớn đạt tiêu chuẩn chất lượng có khả năng
đón khách trong nước và nước ngoài với doanh thu cao đồng thời đó là những cơ
hội quảng bá cho ngành du lịch Việt Nam.
Nhưng cùng với sự phát triển đa dạng của các loại hình dịch vụ được cung
cấp là những nhu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của khách du lịch về chất lượng của
các loại hình dịch vụ ấy. Chính chất lượng là yếu tố hấp dẫn khách và đồng thời
cũng là yếu tố quyết định tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy bất
cứ một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nào cũng cần quan tâm và luôn nâng cao
chất lượng sản phẩm dịch vụ. Đó chính là một nhiệm vụ quan trọng không thể
thiếu đối với trong kinh doanh khách sạn nói riêng và kinh doanh du lịch nói
chung.
Chính vì những lý do trên và qua thời gian thực tập tại Chi nhánh Công ty
TNHH một thành viên Du lịch Công Đoàn Việt Nam tại Hải Phòng,qua nghiên cứu
đánh giá hoạt động kinh doanh lưu trú tại khách sạn em thấy khách sạn đã dùng
nhiều biện pháp nhưng hiệu quả kinh doanh vẫn chưa thoả mãn. Mà em đã quyết
định chọn đề tài luận văn cho mình là : "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
kinh doanh lưu trú tại Chi nhánh Công ty TNHH Một thành viên Du lịch Công
Đoàn Việt Nam tại Hải Phòng" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 2
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
* Mục đích nghiên cứu đề tài :
Em chọn đề tài này với mục đích nghiên cứu phân tích đánh giá thực trạng
kết quả kinh doanh lưu trú tại khách sạn. Rút ra những gì đã đạt được, những khó
khăn vướng mắc trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh lưu trú của khách sạn.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh lưu trú tại
khách sạn.
* Đối tượng và phạn vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài của em là hiệu quả kinh doanh lưu trú tại
khách sạn
Phạm vi nghiên cứu trong đề tài của em do hạn chế về thời gian, nguồn tài
liệu tham khảo và trong khuôn khổ khoá luận tốt nghiệp nên đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu về kinh doanh lưu trú tại khách sạn và đề xuất một số giải pháp.
* Phương pháp nghiên cứu của đề tài là điều tra, thống kê, tổng hợp, so sánh, phân
tích đánh giá dùng bảng biểu đồ để biểu đạt.
Kết cấu của khoá luận gồm 3 phần :
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh và kinh doanh lưu trú tại
khách sạn.
Chương 2: Thực trạng kinh doanh tại khách sạn
chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của chi
nhánh công ty TNHH - MTV Du lịch Công Đoàn Việt Nam tại Hải Phòng.
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 3
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ
KINH DOANH LƯU TRÚ TẠI KHÁCH SẠN
1.1 Khái niệm và đặc điểm kinh doanh khách sạn
1.1.1 Khái niệm khách sạn
- Trước đây khi ngành kinh doanh du lịch chưa thực sự phát triển thì khách
sạn mới chỉ được hiểu là những nhà trọ, nhà nghỉ tạm thời chỉ bao gồm việc kinh
doanh các phòng nghỉ để đáp ứng nhu cầu nghỉ qua đêm của khách. Nhưng khi đời
sống của còn người được nâng cao nhu cầu của con người ngày càng phong phú thì
khách sạn không chỉ là nơi kinh doanh lưu trú với những tiện nghi sang trọng mà
nó còn đáp cùng một lúc rất nhiều nhu cầu của khách như: nghỉ ngơi ăn uống, vui
chơi, giải trí, làm đẹp ...với rất nhiều các dịch vụ bổ xung.
- Theo đánh giá của các chuyên gia thì kinh doanh khách sạn chiếm một tỉ
trọng lớn trong tổng thể kinh doanh toàn ngành du lịch. Cụ thể mỗi năm kinh
doanh khách sạn đã đóng góp 70% tổng doanh thu của ngành. Vói xu thế phát triển
của nền kinh tế hội nhập, khách du lịch đến Việt Nam ngày càng tăng thì kinh
doanh khách sạn ngày càng được mở rộng,với quy mô lớn hơn, mang tính chất
chuyên môn cao hơn và nó sẽ ngày càng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống kinh
doanh du lịch.
- Khách sạn là cơ sở phục vụ lưu trú phổ biến nhất đối với mọi loại khách du
lịch. Đây là nơi sản xuất, bán và phục vụ khách du lịch những sản phẩm dịch vụ
nhằm đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ vui chơi giải trí...phù hợp với mục đích và đông cơ
của chuyến đi đồng thời thu được lợi nhuận.
- Kinh doanh khách sạn là một bộ phận không thể thiếu trong toàn bộ tiến
trình phát triển ngành du lịch. Nó giải quyết nhu cầu ăn nghỉ của khách trong toàn
bộ hành trình của chuyến đi. Trong khi đó hai nhu cầu trên là những nhu cầu thiết
yếu không thể thiếu trong quá trình đi du lịch.
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 4
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
1.1.2 Đặc điểm kinh doanh khách sạn
Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sơ cung cấp các dịch
vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ xung cho khách nhằm đáp ứng nhu cầu ăn
nghỉ và giải trí của họ tại điểm du lịch nhằm mục đích có lãi.
Các đặc điểm của kinh doanh khách sạn bao gồm :
* Đặc điểm về sản phẩm dịch vụ :
- Sản phẩm mang tính dịch vụ do nó là sự kết hợp của yếu tố vật chất và sự
tham gia phục vụ của nhân viên, không thể mang sản phẩm dịch vụ đi nơi khác mà
khách hàng phải trực tiếp đến nơi để tiêu thụ.Nó mang tính chất vô hình tức là
khách hàng không nhận được sản phẩm thực từ kết quả kinh doanh dịch vụ mà kết
quả thực là sự trải qua, thưởng thức và ấn tượng về sản phẩm dịch vụ sau khi đã
thưởng thức và tiêu dùng. Nó được khách hàng đánh giá một cách khách quan, trừu
tượng.
- Sản phẩm của khách sạn rất phong phú và đa dạng, có dạng vật chất và có
loại phi vật chất, có loại do khách sạn tạo ra như: lưu trú ăn uống, giặt là... cũng có
loại do ngành khác tạo ra như : đồ lưu niệm...
- Có sự tham gia của khách hàng vào quá trình tạo ra sản phẩm. Chính khách
hàng quyết định việc tạo ra sản phẩm dịch vụ. Đó là những yêu cầu của khách
hàng đối với nhân viên về mỗi loại hàng hoá dịch vụ nào đó, từ đó sản phẩm dịch
vụ mới được sản xuất ra.
- Sản phẩm dịch vụ của khách sạn mang tính không đồng nhất. Nghĩa là
cùng một sản phẩm dịch vụ do khách sạn tạo ra nhưng đối với mỗi khách hàng nó
sẽ được đánh giá với một kết quả khác nhau, có khách hàng cho đó là tốt, ngon,
hoàn hảo nhưng lại có khách hàng lại cảm thấy chưa hài lòng về nó.
- Tính dễ hư hỏng không thể cất giữ và rất khó kiểm tra trước khi cung cấp
cho khách hàng.
Đó là sản phẩm mang tính rất đặc trưng của sản phẩm dịch vụ ngành kinh
doanh du lịch nói chung và ngành kinh doanh khách sạn nói riêng.
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 5
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
* Đặc điểm tổ chức quá trình kinh doanh khách sạn
Khi kinh doanh khách sạn bao gồm nhiều bộ phận có chức năng độc lập
nhưng lại có mối quan hệ mật thiết lẫn nhau trong quá trình liên tục nhằm thoả
mãn nhu cầu tổng hợp, trọn vẹn của khách du lịch. Tổ chức kinh doanh khách sạn
phải đảm bảo tính độc lập và mối liên hệ giữa các bộ phận.
* Đặc điểm việc sử dụng các yếu tố cơ bản trong kinh doanh khách sạn:
- Vốn đầu tư xây dựng ban đầu rất lớn, vốn kinh doanh và bảo dưỡng sửa
chữa cho khách sạn lớn hơn vốn lưu động và thời gian thu hồi vốn rất lâu.
- Về lao động: ngành thu hút lượng lao động lớn cũng một phần vì nhiều
công việc không thể cơ giới hoá, tự động hoá mà phải sử dụng trực tiếp sức lao
động của con người. Yếu tố lao động sống được sử dụng với nhiều nét đặc trưng.
- Về tài nguyên du lịch là yếu tố đặc trưng trong kinh doanh khách sạn. Tài
nguyên du lịch tạo ra môi trường kinh doanh và quyết định đến tính chất, thể loại,
qui mô, thị trường khách thông qua đó quyết định đến hiệu quả kinh doanh của
khách sạn.
Ví dụ : Khách sạn nằm tại khu I - phường Vạn Sơn - Đồ Sơn - Hải Phòng rất tiện
cho khách du lịch có thể tắm biển đồng nghĩa với việc khách sạn sẽ kinh doanh
loại hình du lịch biển( vào mùa hè), ngoài ra còn các dịch vụ ăn uống và các dịch
vụ khác.
- Vật tư hàng hoá được sử dụng phong phú đa dạng, chất lượng cao, kỹ thuật
sử dụng và bảo quản phức tạp đòi hỏi công tác cung ứng và lựa chọn vật tư phải
đảm bảo cả yêu cầu kinh tế lẫn kỹ thuật.
- Vị trí xây dựng khách sạn phải đảm bảo thuận tiện cho khách du lịch cũng
như hoạt động kinh doanh
- Đối tượng khách cần phục vụ trong ngành khách sạn rất đa dạng và phức
tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 6
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
1.2. Chức năng, vai trò của kinh doanh khách sạn
1.2.1 Chức năng :
- Chức năng sản xuất. Ngay trong khái niệm khách sạn đã nêu rõ khách sạn
là nơi sản xuất các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách. Việc đảm bảo sản xuất
được nhiều sản phẩm hàng hoa dịch vụ với hình thức đẹp, chất lượng dịch vụ cao,
hoàn hảo đã tạo lên thành công lớn góp phần tăng hiệu quả kinh doanh của khách
sạn. Bên cạnh quá trình sản xuất khách sạn phải luôn tìm cách đổi mới để có thể
tạo ra những sản phẩm mới lạ mang nét độc đáo để ngày càng thu hút khách du
lịch.
- Chức năng lưu thông: Điều này được thể hiện đó là các doanh nghiệp
khách sạn phải tự tổ chức quá trình lưu thông các sản phẩm của mình. Đó là quá
trình thay đổi giá trị hàng hoá sang tiền và lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Chức năng tiêu dùng : Do đặc điểm tiêu dùng sản phẩm du lịch là tiêu dùng
tại chỗ, thời gian tiêu dùng ngắn để tiết kiệm thời gian tiêu dùng các sản phẩm ăn
uống và các dịch vụ khác thì việc phục vụ tiêu dùng các hàng hoá dịch vụ trong
khách sạn phải do chính khách sạn đó đảm nhiệm.
1.2.2. Vai trò của kinh doanh khách sạn
* Vai trò kinh tế:
- Kinh doanh khách sạn có chức năng sản xuất vì thế nó đóng góp vào thu
nhập quốc dân đặc biệt là thu nhập ngoại tệ.
- Ngành kinh doanh khách sạn sử dụng một khối lượng vật tư hàng hoá lớn
trong nước để sản xuất kinh doanh. Do vậy ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển
các ngành có liên quan như : nông nghiệp, công nghiệp, giao thông ... Bên cạnh đó
khi khách đi đến địa phương nghỉ ngơi sẽ tiêu dùng một khoản tiền nhất định tại
đây điều đó cũng thúc đẩy tiêu dùng và sản xuất của địa phương phát triển.
- Kinh doanh khách sạn là một cơ sở kinh doanh hoạt động theo nguyên tắc
kinh tế nó đã góp phần tăng thu nhập quốc dân.
- Kinh doanh khách sạn tạo điều kiện xuất khẩu hàng hoá tại chỗ, có lợi hơn
nhiều so với ngoại thương vì chủ yếu là giá bán lẻ, tốn ít chi phí vận chuyển, đóng
gói và các khoản thuế.
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 7
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
- Ngoài ra, kinh doanh khách sạn góp phần huy động tiền nhàn rỗi trong dân
với vòng vốn quay nhanh và hiệu quả.
* Vai trò xã hội:
- Phát triển kinh doanh khách sạn tạo công ăn việc làm cho người dân địa
phương thu hút lao động, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp cho xã hội, tạo điều
kiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương.
- Kinh doanh khách sạn là một loại hình kinh doanh du lịch, là phương tiện
quảng cáo miễn phí cho đất nước du lịch chủ nhà. Vì thế đây là một cơ hội tốt để
quảng bá về đất nước, con người và tiềm năng phát triển kinh tế đất nước thông
qua những vị khách du lịch này.
- Sau mỗi chuyến đi du lịch sử dụng các dịch vụ lưu trú ăn uống và các dịch
vụ khác sức khoẻ con người được củng cố, tinh thần thoải mái. Như vậy kinh
doanh khách sạn đã góp phần tái tạo sức lao động (cả về thể chất lẫn tinh thần) cho
cá nhân và xã hội, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động xã hội.
- Kinh doanh du lịch góp phần tăng cường tinh thần đoàn kết dân tộc, mối
quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc trong cộng đồng quốc tế, xoá đi những
mặc cảm bất đồng về kinh tế chính trị văn hoá vốn có của dân tộc.
- Trong thời gian nghỉ ngơi tại khách sạn khách thường được sử dụng các
hàng hoá dịch vụ tại khách sạn và được tiếp xúc với người dân địa phương. Thông
qua cuộc giao tiếp đó văn hoá của người dân bản sứ và khách du lịch được trau rồi
và nâng cao. Như vậy kinh doanh khách sạn đã giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn
nhau, nâng cao kiến thức về văn hoá, lịch sử, truyền thống và những phong tục tập
quán của các dân tộc trên thế giới.
1.3. Kinh doanh lưu trú trong khách sạn
1.3.1. Khái niệm kinh doanh lưu trú
Trong khách sạn có rất nhiều loại hình dịch vụ được cung ứng, hay nói cách
khác các hàng hoá dịch vụ trong khách sạn là rất phong phú đa dạng. Trong đó
kinh doanh lưu trú được coi là một trong những đặc trưng của kinh doanh khách
sạn và là một phần không thể thiếu trong bất kỳ một đơn vị kinh doanh nào.
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 8
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
Sở dĩ ta có thể khẳng định như vậy là vì ngủ và nghỉ ngơi là một nhu cầu
không thể thiếu, một nhu cầu thiết yếu của mỗi con người. Vì thế khi khách đi du
lịch thì nhu cầu này cũng phải đáp ứng một cách đầy đủ và có tính nghệ thuật.
Nhưng hơn thế nữa khách du lịch khi họ tham gia vào các chuyến du lịch họ không
ngừng mong muốn được đáp ứng các nhu cầu một cách đơn thuần mà họ còn kỳ
vọng được đáp ứng nhu cầu đó theo một sự mới lạ, đặc biệt khác hẳn với sự kiện ở
nhà. Vì thế kinh doanh lưu trú không chỉ là một nhiệm vụ thiết yếu trong tổng thể
hoạt động kinh doanh của khách sạn nó còn đòi hỏi một sự tìm tòi, cải thiện, đổi
mới để khâu lưu trú trở lên mới hơn và hấp dẫn hơn.
Từ vai trò trên mà kinh doanh lưu trú được hiểu như sau :
Kinh doanh lưu trú là một hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực sản xuất vất chất,
cung cấp các dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ xung khác cho khách
trong thời gian lưu lại tạm thời tại địa điểm du lịch nhằm mục đích có lãi.
1.3.2 Vai trò, đặc điểm của bộ phận kinh doanh lưu trú
1.3.2.1. Đặc điểm của bộ phận kinh doanh lưu trú:
- Bộ phận kinh doanh lưu trú được đặc trưng bởi số lượng phòng, thứ hạng
phòng và các cơ sở vật chất kỹ thuật trong phòng. Đối với bất kỳ một khách sạn
nào số lượng phòng nhiều, qui mô lớn và trang thiết bị hiện đại luôn là ấn tượng
ban đầu thu hút sự quan tâm và ấn tượng của khách từ đó dẫn đến sự lựa chọn cuối
cùng của khách.
- Cầu lối giữa khách hàng và khách sạn dẫn đến việc sử dụng phòng của
khách luôn được thông qua quá trình trao đổi, giao tiếp giữa khách và bộ phận lễ
tân của khách sạn. Và đây luôn là khâu đầu tiên khi khách đặt chân tới khách sạn.
Nội dung của cuộc trao đổi đó thường là những thông tin về: loại phòng, giá
phòng, trang thiết bị trong phòng... Vì thế mà bộ phận lễ tân thường được coi là
cánh tay đắc lực cho lãnh đạo khách sạn.
- Chính bộ phận lưu trú quyết định đến tất cả các loại hình và quy mô của
các dịch vụ bổ sung trong khách sạn. Bởi số lượng phòng nhiều thì số lượng khách
lớn. Từ đó mới tiến hàng xây dựng các nhà hàng với quy mô phù hợp với số lượng
khách đó, thiết kế thực đơn cho phù hợp với từng loại khách. Cũng chính chủng
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 9
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
loại phòng phong phú cho phép ta xây dựng danh mục các sản phẩm bổ sung sao
cho đáp ứng nhu cầu của tất cả các loại khách từ khách VIP cho tới khách bình
thường, từ khách Á đến khách Âu.
1.3.2.2. Vai trò của bộ phận kinh doanh lưu trú
- Vai trò kinh tế: theo nghiên cứu của các chuyên gia trong tổng doanh thu
của kinh doanh khách sạn thì doanh thu cảu bộ phận lưu trú chiếm một tỷ trọng
tương đối lớn. Nếu là những khách sạn lớn thì doanh thu lưu trú chiếm khoảng
70% tổng doanh thu toàn khách sạn, còn lại là doanh thu của bộ phận kinh doanh
nhà hàng và các dịch vụ bổ xung khác. Nhưng nếu là các khách sạn có qui mô nhỏ
hơn hoạt động kinh doanh chủ yếu là lưu trú và dịch vụ bổ sung còn ít thì tỷ trọng
trên còn tăng nên và chiếm khoảng 97% tổng doanh thu toàn khách sạn.
- Kinh doanh lưu trú là bộ phận có vai trò lớn trong việc phục vụ trực tiếp
khách hàng. Đây là bộ phận có giao tiếp trực tiếp nhiều với khách bao gồm các bộ
phận lễ tân, khuân vác hành lý...Và só lao động trực tiếp trong bộ này chiếm tới
50% tổng số lao đông trong khách sạn.
- Bộ phận lưu trú còn có vai trò rất lớn trong việc cung cấp dự báo kinh
doanh cho khách sạn. Thông qua danh sách đặt phòng từ bộ phận lễ tân cho phép
khách sạn dự báo được mức độ kinh doanh của khách sạn trong một thời gian nhất
định có thể là : một tuần, một tháng ...
1.3.3 Yêu cầu của bộ phận kinh doanh lưu trú :
- Bộ phận kinh doanh lưu trú là bộ phận chiếm nhiều vốn đầu tư xây dựng
cơ bản, vốn cố định. Nên nó cũng phải thu hồi vốn trong thời gian dài.
- Thời gian khách ở khách sạn sẽ quyết định đến việc khách tiêu dùng các
loại dịch vụ bổ xung trong khách sạn. Nếu khách nghỉ thời gian càng lâu thì sẽ tiêu
dùng nhiều sản phẩm dịch vụ trong khách sạn.
- Sự hấp dẫn của các cơ sở lưu trú là sự tổng hoà của rất nhiều các yếu tố
bao gồm : kiến trúc phòng ốc, mức độ tiện nghi và tính nghệ thuật trong bày trí các
trnag thiết bị trong phòng, sự khéo léo văn minh trong giao tiếp của các nhân viên
phục vụ khách. Vì thế để đạt được hiệu quả trong kinh doanh lưu trú phải có một
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 10
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
kế hoạt tổng thể hài hoà của tất cả các yếu tố trong quá trình phục vụ khách lưu trú
tại khách sạn.
- Tuy lưu trú có một vai trò khá quan trong trong kinh doanh khách sạn
nhưng quá trình kinh doanh khách sạn là một quá trình kinh doanh tổng hợp logic
giữa các nghiệp vụ nên kết quả kinh doanh của bộ phận lưu trú cũng phụ thuộc rất
lớn vào chất lượng phục vụ của các bộ phận khác và nó cũng khó tách rời và đánh
giá riêng khi khách ở khách sạn. Vì thế phát triển bộ phận lưu trú phải tính đến sự
phát triển hài hoà của các bộ phận khác trong khách sạn.
1.3.4. Ý nghĩa của bộ phận kinh doanh lưu trú
Có một nguyên lý chung của các nhà kinh doanh khách sạn: thành công đó
là khi lượng khách hàng cũ quay lại, khách hàng càng nhiều thì doanh nghiệp càng
đảm bảo được doanh thu và ngược lại.
Từ đó các nhà quản lý đã rút ra chiết lý kinh doanh: " giữ được khách quen
là giảm được bảy lần các chi phí dành cho quảng cáo và thông tin ". Để thu hút
khách lâu dài thì nâng cao chất lượng kinh doanh lưu trú là việc làm cần thiết và
nhiều ý nghĩa.
Nâng cao chất lượng kinh doanh lưu trú sẽ tạo cho khách sạn một danh
tiếng, uy tín và sức cạnh tranh trên thị trường. Nâng cao chất lượng lưu trú nghĩa là
nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, hiện đại hoá trang thiết bị, đa dạng hoá các loại
hình dịch vụ và hợp lý hoá có cấu tổ chức lao động... Tất cả đều làm tăng hiệu quả
kinh doanh.
Nâng cao chất lượng kinh doanh lưu trú có ý nghĩa đáp ứng kịp thời nhu cầu
đa dạng của khách giúp cho hoạt động kinh doanh khách sạn của nước ta hoà nhập
với hệ thống kinh doanh khách sạn thế giới.
1.4. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh khách sạn
1.4.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh
Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của nền kinh tế thì hiệu quả kinh
doanh luôn là yếu tố được nhà quản lý kinh tế quan tâm hàng đầu. Có rất nhiều các
mục tiêu được đặt ra trong một quá trình kinh doanh nhưng mục tiêu lợi nhuận và
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 11
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
tối đa hoá lợi nhuận luôn là mục tiêu then chốt và bao chùm nhất của mỗi doanh
nghiệp.
Trong lịch sử phát triển kinh tế đã có rất nhiều các khái niệm khác nhau về
hiệu quả kinh doanh. Nó thể hiện được mục tiêu và quan điểm của mỗi cá nhân các
nhà kinh tế. Nhưng điểm chung đều thể hiện quan điểm, con đường để đạt được
mục tiêu lợi nhuận. Vì thế ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh theo nghĩa sau:
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ lợi dụng
nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp như: lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các
yếu tố khác nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất
1.4.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của khách sạn
Chỉ tiêu đánh giá có chỉ tiêu tổng hợp và có chỉ tiêu bộ phận. Bên cạnh đó
hoạt động kinh doanh khách sạn là rất đa dạng tổng hợp nên để đánh giá được hiệu
quả kinh doanh ta phải sử dụng kết hợp nhiều chỉ tiêu và các chỉ tiêu phải mang
tính đặc trưng của ngành.
1.4.2.1. Chỉ tiêu tổng hợp
* Chỉ tiêu lợi nhuận:
II=TR - Mv - F - Tb
Trong đó :
II : Tổng lợi nhuận
TR: Tổng doanh thu đạt được trong kỳ
F: Chi phí trong quá trình kinh doanh khách sạn.
Mv : Trị giá vốn nguyên liệu, vật liệu.
Tb: Thuế phải nộp ở khâu bán.
Đây là chỉ tiêu kinh doanh rất quan trọng mà doanh nghiệp nào cũng cố
gắng đạt được. Lợi nhuận càng cao thì doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả và
ngược lại.
1.4.2.2. Chỉ tiêu bộ phận
* Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động
Lao động là yếu tố đầu vào cơ bản của doanh nghiệp, nó góp phần nâng cao
hiệu quả kinh doanh chung của doanh nghịêp. Bên cạnh đó lao động trong các
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 12
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
doanh nghiêp khách sạn lại có ý nghĩa đặc biệt hơn khi nó trực tiếp tham gia vào
quá trình sản xuất và phục vụ khách hàng. Vì thế đánh giá tìm hiểu hiệu quả sử
dụng lao động là một việc làm cần thiết đối với các doanh nghiệp nói chung và
doanh nghiệp khách sạn nói riêng.
+ Chỉ tiêu năng xuất lao động : phản ánh mức doanh thu bình quân đạt được của
một lao động
W = TR / L
Trong đó :
W : Là năng suất lao động bình quân
TR : là tổng doanh thu trong kỳ.
L : là tổng số lao động bình quân.
+ Chỉ tiêu sức sinh lời bình quân của lao động
(II) = II / L
Trong đó :
(II) : Lợi nhuận bình quân trong kỳ của một lao động
II : Lợi nhuận trong kỳ
L : Tổng số lao động
Từ công thức trên ta thấy (II) càng lớn càng tốt.
+ Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tiền lương
Htl =II / TL
Trong đó :
H : Hiệu suất sử dụng tiền lương
II : Lợi nhuận trong kỳ
TL : Tổng số tiền lương trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh đơn vị bỏ ra một đồng tiền lương thì thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận và H tl càng lớn thì hiệu quả sử dụng tiền lương càng cao
* Chỉ tiêu sử dụng chi phí
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 13
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
Chỉ tiêu trong các doanh nghiệp khách sạn là toàn bộ hao phí lao động xã
hội cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Được biểu hiện dưới hình
thái tiền tệ.
+ Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng chi phí
H = TR / TC
Trong đó :
TR : là Doanh thu
TC : là chi phí
Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định doanh nghiệp bỏ ra một
đồng tiền chi phí thì thu được bao nhiêu đồng tiền doanh thu và lợi nhuận.
Chỉ tiêu này cần nâng cao trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, trên
cơ sở mở rộng qui mô kinh doanh, tăng doanh thu, tăng thu nhập, tăng lợi nhuận,
phải đảm bảo tốc độ tăng của kết phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí.
* Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
Trong kinh doanh khách sạn yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt
là vốn cố định. Vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa lớn đối với mỗi
doanh nghiệp. Sử dụng vốn trong các doanh nghiệp khách sạn được xác định bằng
các chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ thương số giữa kết quả kinh doanh với số vốn
sử dụng trong kỳ
H = TR / V
Trong đó :
TR : Doanh thu
V : Tổng số vốn trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn bỏ ra trong kỳ thì thu được bao nhiêu
đồng doanh thu và lợi nhuận, H càng lớn càng tốt.
+ Hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hvcd = TR / Vcd
Trong đó :
TR : Doanh thu
Vcd : Vốn cố định
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 14
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
Từ công thức trên ta thấy hiệu suất sử dụng vốn cố định càng lớn thì càng tốt
và Hvcd phản ánh một đồng vốn cố định sẽ có bao nhiêu đồng tiền đoanh thu và lợi
nhuận. Việc nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn cố định trong những doanh nghiệp
khách sạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi trong kinh doanh khách sạn số lượng
vốn cố định chiếm một lượng tương đối lớn trong cơ cấu vốn. Và cũng nhờ hiệu
quả sử dụng vốn cố định này cho biết khả năng khai thác và sử dụng các loại tài
sản trong doanh nghiệp.
+ Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Tuy trong các doanh nghiệp khách sạn vốn lưu động chỉ chiếm một tỷ trọng tương
đối nhỏ trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhưng trong công thức
II=TR- TC thì việc tiết kiệm được phần chi phí nào là một việc rất cần thiết vì vậy
ta phải nghiên cứu chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu đọng để có thể giảm mức độ
chi phí tới mức chi phí tới mức thấp nhất có thể
Hvld = TR / Vld
Trong đó :
TR : doanh thu
Vld : Vốn lưu động
+ Số vòng quay của toàn bộ vốn kinh doanh ( n ) : n càng cao thì hiệu quả sử dụng
lao động càng cao. TR
n =
VKd
Trong đó :
TR : doanh thu
Vkd : Vốn kinh doanh
n : Số vòng quay của toàn bộ vốn kinh doanh.
+ Số ngày của một vòng quay (S) : chỉ tiêu này cho ta biết số ngày càng cần thiết
để doanh nghiệp có thể thu hồi toàn bộ vốn kinh doanh, S càng nhỏ càng có lợi cho
doanh nghiệp.
365
S=
n
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 15
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
Trong đó :
S : số ngày của một vòng quay
1.4.3. Một số chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh đặc trưng trong doanh nghiệp kinh
doanh khách sạn và kinh doanh lưu trú.
1.4.3.1. Chỉ tiêu công suất sử dụng buồng
- Đây là chỉ tiêu đặc trưng của hiệu quả kinh doanh khách sạn. Nó phản ánh trong
một thời gian nhất định số buồng được sử dụng chiếm bao nhiêu phần trăm trong
tổng số buồng mà khách đến khách sạn.
Db
Cs = x 100%
B(360-Nbt)*Gb
Trong đó
CS : Công suất sử dụng buồng phòng
Db : Doanh thu buồng đã bán
B :Tổng số buồng
Gb : Giá buồng bình quân
Nbt : số ngày bảo trì
Công suất sử dụng buồng cao hay thấp cho thấy sự phát triển của khách sạn,
hiệu quả kinh doanh và đánh giá trình độ quản lý của cấp điều hành khách sạn, nói
cách khác công suất sử dụng buồng phòng là thước đo cho sự thành công hay thất
bại về kinh doanh trong khách sạn nói chung và khả năng quản lý của các cấp lãnh
đạo nói riêng. Vì doanh thu buồng luôn là bộ phận cơ bản trong tổng doanh thu
toàn khách sạn thông thường công suât buồng trung bình hàng năm của khách sạn
thông thường hàng năm của khách sạn phải đạt tối thiểu từ 55% - 60%.
1.4.3.2. Chỉ tiêu chất lượng phục vụ
Đây là chỉ tiêu đặc trưng của ngành dịch vụ nói chung và của các doanh
nghiệp kinh doanh khách sạn nói riêng. Nó là mức độ thoả mãn của khách hàng đối
với các sản phẩm dịch vụ của khách sạn. Sự thoả mãn ấy là một trạng thái tâm lý
được sinh ra từ bên trong con người ta mong giữa sự so sánh về cái mà người ta
nhận được với cái mà người ta mong đợi trước khi tiêu dùng dịch vụ.
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 16
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
Theo quy luật tâm lý của sự thoả mãn Domal M. DaDoff ta có công thức :
Chất lượng = S = P - E
Trong đó :
S :(Satisfaction) là sự thoả mãn của khách hàng sau khi đã sử dụng sản phẩm
dịch vụ
P (Perception ) Là sự cảm nhận của khách hàng về sản phẩm dịch vụ sau khi
đã sử dụng sản phẩm dịch vụ.
E : (Expertation ) Là sự mong đợi của khách hàng trước khi tiêu dùng sản
phẩm
Sự thoả mãn của khách hàng bị ảnh hưởng bởi sự so sánh giữa mong chờ và
mức độ mà khách nhận được
+ Nếu P>E : Tức là sự cảm nhận của khách về sản phẩm dịch vụ lớn hơn sự
mong đợi do đó chất lượng dịch vụ được đánh giá là tốt vì khách sạn đã đem đến
cho khách một dịch vụ hoàn hảo hơn cả sự mong đợi. Đây thật sự là một thành
công lớn của doanh nghiệp.
+ Nếu P = E tức là khách sạn đã đáp ứng được sự mong chờ của khách và
cảm thấy thoả mãn, dịch vụ được đánh giá ở mức độ trung bình. Như vây khách
không có bất kỳ một ý kiến khen chê nào đối với dịch vụ của khách sạn.
+ Nếu P < E tức là sự cảm nhận của khách thấp hơn sự mong chờ, khách sẽ
cảm nhấy thất vọng về sản phẩm dịch vụ và ngay lập tức là sản phẩm dịch vụ sẽ bị
đánh giá là kém và như vậy là cơ hội lần sau khách quay lại rất thấp.
Dành được sự thoả mãn, hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ
của mình chính là khách sạn dành được một lợi thế để hoạt động kinh doanh có
hiệu quả. Vấn đề ở đây là làm sao cho S (Sự thoả mãn) càng cao càng tốt. Muốn
như vậy thì các nhà quản lý phải tìm mọi cách để nâng cao P và làm cho P>E.
1.4.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách sạn và
kinh doanh lưu trú
1.4.4.1.Nhân tố chủ quan
* Cơ sở vật chất kỹ thuật
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 17
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
- Một nhân tố lớn trong việc tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch đó là hệ
thống cơ sở vật chất kỹ thuật. Do sự phát triển không ngừng của khoa học công
nghệ nên con người ngày càng đòi hỏi cao hơn về cơ sở vật chất. Hơn thế nữa
khách sạn được coi là ngành kinh doanh các dịch vụ cao cấp đòi hỏi mức độ tiện
nghi hiện đại về trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho hoạt động của khách ở một
mức độ rất cao.
- Đây là nhân tố quyết định đến phương thức kinh doanh, khách hàng mục
tiêu và chất lượng phục vụ trong kinh doanh khách sạn. Trong khách sạn chất
lượng phục vụ do yếu tố này mang lại dễ nhận thấy hơn bởi vì nó tồn tại dưới dạng
hữu hình như: phòng lưu trú, các trang thiết bị trong phòng, hệ thống các cơ sở
dịch vụ bổ xung. Vì thế khách có thể nhìn thấy được, sử dụng và có thể đánh giá
ngay được chất lượng của chúng tạo được ấn tượng ngay từ lần đầu tiên khách tới
khách sạn.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm :
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật khách sạn : gồm các dãy nhà, phòng nghỉ, trang
thiết bị trong khách sạn. Nó là yếu tố tạo sự khác biệt giữa các thứ hạng khách sạn
khác. Đồng thời nó thường có giá trị lớn hơn, đảm bảo tính tiện nghi, sang trọng
lịch sự. Vì vậy các trang thiết bị phải được thiết kế và xây dựng mang tính hiện đại
và hợp thẩm mỹ của từng giai đoạn phát triển xã hội. Đồng thời nó phải được bổ
xung sửa chữa và đổi mới thường xuyên.
+ Mức độ an toàn của cơ sở vật chất kỹ thuật : trong thang bậc nhu cầu của
Maslow thì nhu cầu an toàn được xếp trên nhu cầu sinh lý. Điều này càng đúng với
khách du lịch vì họ đi du lịch không phải chỉ có nhu cầu ăn uống cao cấp mà còn
có nhu cầu vui chơi giải trí, thu giãn ... Vì vậy đảm bảo an toàn cho khách là điều
quan trọng.
Ví dụ : hệ thống điện trong phòng phải đựơc an toàn tuyệt đối, hệ thống
phòng cháy chữa cháy phải luôn luôn hoạt động tốt. Bởi vậy khách sạn thường chi
tiêu nhiều cho việc lắp đặt hệ thống báo động... nhằm đảm bảo an toàn tính mạng
cho khách trong thời gian lưu trú tại khách sạn.
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 18
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
+ Hiện nay khi đời sống con người ngày càng được nâng cao, yêu cầu cuộc
sống cũng ngày càng thay đổi người ta còn đưa ra yêu cầu vệ sinh đối với trang
thiết bị trong khách sạn. Môi trường trọng khách sạn là môi trường văn minh, lịch
sự, đẹp về cảnh quan vì vậy các cơ sở vật chất ở đây cũng phải sạch sẽ
* Đội ngũ lao động trong khách sạn
- Đội ngũ lao động trong khách sạn được hình thành theo một yêu cầu tất
yếu khách quan, nó tham gia vào mọi hoạt động, mọi giai đoạn, mọi quy trình kinh
doanh của doanh nghiệp. Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao
động tác động trực tiếp tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm do đó nó ảnh hưởng trực tiếp
tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra công tác tổ chức, phân công,
hợp tác lao động hợp lý giữa các bộ phận sản xuất, giữa các cá nhân trong doanh
nghiệp là một vịêc làm cần thiết đòi hỏi người quản lý phải có nghệ thuật. Cũng
trong công tác bố trí tổ chức nguồn nhân lực người cán bộ phải biết bố trí sắp xếp
sao cho phát huy được sở trường và năng lực của mỗi người để năng suất lao động
ngày càng cao.
- Công tác tổ chức bố trí nguồn nhân lực phụ thuộc vào nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh của từng bộ phận của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh đã đề ra.
Tuy nhiên công tác tổ chức lao động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần tuân
thủ theo nguyên tắc chung : sử dụng đúng người đúng việc, phân công quyền lợi
trách nhiệm rõ ràng sao cho có thể hoàn thành tốt nhất, nhanh nhất nhiệm vụ được
giao. Đồng thời phát huy được tính sáng tạo, độc lập của mỗi người lao động có
như vậy mới góp phần vào vịêc nâng cao được hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Ngày nay tuy khoa học và công nghệ đã trở thành một lực lượng lao động
trực tiếp, áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất
lao động. Nhưng đối với ngành dịch vụ thì máy móc kỹ thuật chỉ có một vai trò hỗ
trợ chứ chưa thể thay thế được hoàn toàn lao động của con người. Tương tự như
vậy đối với những người làm việc trong khách sạn đòi hỏi một yêu cầu tương đối
cao và mang tính khác biệt. Nhân viên không những phải có chuyên môn nghiệp
vụ mà còn phải có nghệ thuật trong giao tiếp với khách. Chính yếu tố lao động ấy
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 19
Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ kinh doanh lu tró t¹i Chi nh¸nh C«ng ty
TNHH - MTV du lÞch C«ng §oµn ViÖt Nam t¹i H¶i Phßng
là nhân tố quyết định đến lượng khác mới đến khách sạn và lượng khác cũ quay lại
khách sạn. Điều này một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của yếu tố lao động
trong kinh doanh khách sạn nói riêng và kinh doanh du lịch nói chung.
* Yếu tố về vốn
- Vốn là một yếu tố không thể thiếu khi lập thành một doanh nghiệp, không
có vốn chúng ta không thể tiến hành sản xuất kinh doanh được. Vốn tồn tại dưới
hai dạng vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định thường nằm trong xây dựng cơ
bản, cơ sở hạ tầng của khách sạn và vốn lưu động là vốn dùng để cho việc kinh
doanh hàng ngày, hàng tháng, hàng quý của khách sạn.
- Trong khách sạn có yêu cầu tương đối lớn về vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Bên cạnh đó nó cũng yêu cầu một lượng vốn không nhỏ cho việc tu bổ sửa chữa
những cơ sở này. Chính vì vậy tiền lực manh về vốn là một trong những lợi thế rất
lớn của doanh nghiệp. Và ngược lại vốn ít thì sẽ rất khó để doanh nghiệp có thể mở
rộng quy mô và tạo ra sự hấp dẫn cho khách sạn của mình.
- Có rất nhiều cách để huy động nguồn vốn : có thể vay vốn ngân hàng, vay
các tổ chức kinh tế xã hội, lợi nhuận giữ lại, hoặc nhận góp vốn liên doanh hay vốn
cổ phần từ việc phát hành thêm cổ phiếu ... Có nhiều giải pháp trong huy động vốn
cũng là những giải pháp tốt để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
* Trình độ tổ chức quản lý .
- Trình độ quản lý là câu trả lời cho viêc doanh nghiệp có thể làm vịêc và
hoạt động tốt được hay không. Một doanh nghiệp đã hội tụ đủ các yếu tố như :
vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động có đủ về số lượng và chất lượng nhưng lại
thiếu một đội ngũ quản lý có kinh nghiệm chuyên môn và khoa học thì doanh
nghiệp đó cũng khó có thể làm ăn có hiệu quả. Nguyên nhân là do đội ngũ lãnh
đạo, quản lý là những người dẫn đường chỉ lối và giám sát hoạt động kinh doanh
một cách đúng hướng và đi đến kết quả kinh doanh cuối cùng. Vì thế yêu cầu đặt
ra đối với đội ngũ cán bộ trong các doanh nghiệp khách sạn là phải có trình độ học
vấn cao, thạo chuyên môn nghiệp vụ và phải có kinh nghiệm quản lý vừa tinh giảm
gọn nhẹ nhưng lại vừa khoa học để đáp ứng tối đa yêu cầu sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Sinh viªn: Bïi thÞ Nhung - Líp QT 901P - Ngµnh Qu¶n trÞ Du lÞch V¨n phßng 20