Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kế toán cho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện quế võ

  • 46 trang
  • file .doc
LỜI NÓI ĐẦU
Qua quá trình thực hiện đổi mới kinh tế, chúng ta đã khẳng định được
những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế xã hội. Tốc độ tăng trưởng đạt
khá cao, Việt Nam đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế. Đời sống của nhân dân
ngày càng được cải thiện và bước vào thời kỳ mới như Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII đã chỉ rõ “thời kỳ tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp
hoá hiện đại hoá thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn
minh vững bước đi nên chủ nghĩa xã hội”. Trong những thành tựu đó, bước phát
triển có hiệu quả của công tác tài chính Ngân hàng, hoạt động của Ngân hàng
trong những năm qua đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước ổn định tiền tệ,
kìm chế lạm phát.
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chịu sự tác động
mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan, quy luật cạnh tranh, quy luật cung
cầu,...do vậy nên đòi hỏi các doanh nghiệp phải có tính linh hoạt cho các sản
phẩm, thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời doanh nghiệp cần nâng
cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ
hạch toán kế toán, cải tiến máy móc thiết bị, đổi mới dây chuyền, mở rộng quy
mô sản xuất hợp lý nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao theo luật chung của thị
trường thì mới đứng vững trong cạnh tranh. Để thực hiện được những hoạt động
trên đòi hỏi doanh nghiệp phải có một khối lượng vốn lớn nhiều khi vượt quá
khả năng vốn tự có của mình. Và để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp có
thể tìm đến Ngân hàng xin vay vốn, thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng đã
đáp ứng được nhu cầu vốn rất lớn cho việc sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Do đối tượng kinh doanh của
Ngân hàng là tiền, nó không chuyển giao quyền sở hữu mà nó chỉ chuyển giao
quyền sử dụng cho người vay, do đó độ rủi ro thất thoát vốn của Ngân hàng vẫn
là nguy cơ thường xuyên khi Ngân hàng bỏ vốn ra cho vay khi chưa thu hồi
đúng hạn cả vốn lẫn lãi. Để không xẩy ra điều trên thì Ngân hàng phải theo dõi
quá trình cho vay, thu nợ, thu lãi chặt chẽ, đây chính là công việc của kế toán
1
cho vay trong Ngân hàng. Đây là nghiệp vụ quan trọng và chiếm tỉ trọng lớn
trong công tác kế toán tại Ngân hàng.
Với nền kinh tế thị trường như hiện nay thì mọi người được tự do sản xuất
kinh doanh kể cả doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân, cá thể. Vậy
nên thành phần kinh tế quốc doanh ngày càng được phát triển, nhu cầu vốn ngày
càng tăng lên, nên việc cho vay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng
chiếm tỉ trọng lớn chủ yếu trong hoạt động cho vay của Ngân hàng dẫn đến rủi
ro thất thoát vốn của Ngân hàng là không thể tránh khỏi. Do vậy công tác kế
toán cho vay các đơn vị ngoài quốc doanh ngày càng phức tạp và khó khăn.
Hiện nay các Ngân hàng đang từng bước đổi mới nghiệp vụ tín dụng để
hoàn thiện hơn nữa nghiệp vụ này nhằm đem lại hiệu quả cao cho Ngân hàng.
Để thực hiện tốt nghiệp vụ tín dụng này thì phải tổ chức tốt nghiệp vụ kế toán
cho vay, bởi kế toán cho vay làm nhiệm vụ ghi chép phản ánh toàn bộ việc cho
vay, thu nợ, theo dõi thu nợ đều thuộc nghiệp vụ tín dụng. Xuất phát từ tầm
quan trong của kế toán cho vay nên trong những năm đổi mới Nhà nước nói
chung cũng như trong Ngân hàng nói riêng đã tập trung giải quyết, hoàn thiện
chế độ kế toán cho vay đối với tất cả các thành phần kinh tế nên kế toán cho vay
đã thu được kết quả bước đầu. Tuy vậy kế toán cho vay nói chung và kế toán
cho vay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng là mặt nghiêp vụ kế toán
phức tạp nên còn có những tồn tại cần giải quyết để nâng cao hiệu quả công tác
kế toán.
Qua nghiên cứu và thời gian thực tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn huyện Quế Võ đã thấy rõ được tầm quan trọng của công tác kế
toán cho vay. Để phản ánh kết quả học tập trong thời gian vừa qua, tôi đã mạnh
dạn lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kế
toán cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Quế
Võ ”
Vì tính chất phức tạp của nghiệp vụ, thời gian nghiên cứu ngắn, trình độ
và khả năng còn hạn chế nên bài chuyên đề của tôi không tránh khỏi khiếm
2
khuyết. Rất mong được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và các bạn để chuyên đề
này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
3
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ KẾ
TOÁN CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
I. SỰ RA ĐỜI CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1. Sự ra đời của tín dụng
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy hình thức tín dụng đầu tiên
xuất hiện trên thế giới là tín dụng nặng lãi. Đặc điểm của tín dụng này là lãi
xuất cao nhằm thoả mãn nhu cầu chi tiêu của người cho vay tiền. Đối với các
thương gia, người sản xuất, họ không thể chấp nhận hình thức tín dụng này.
Chính điều đó đẫ làm cho tín dụng nặng lãi bị thu hẹp dần, thay vào đó là các
hình thức tín dụng với lãi xuất cho vay thấp hơn, phù hợp hơn với lợi ích kinh tế
của người kinh doanh.
Ở Việt Nam, sự hình thành và phát triển của quan hệ tín dụng đã trải qua
các giai đoạn lịch sử khác nhau. Trước cách mạng tháng 8/1945, ở Việt Nam tồn
tại quan hệ tín dụng tư bản chủ nghĩa và nạn cho vay nặng lãi. Sau cách mạng
tháng 8 thành công, cùng với những cải cách lớn về kinh tế xã hội, các quan hệ
tín dụng trong nền kinh tế nước ta bắt đầu mang nội dung mới. Thống nhất đất
nước năm 1975, nước ta đã thi hành chính sách tín dụng thống nhất trong phạm
vi cả nước. Các nguồn vốn tín dụng huy động được cùng với vốn viện trợ, vốn
vay của nước ngoài đã được đầu tư vào việc khôi phục kinh tế sau chiến tranh,
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho khu vực kinh tế quốc doanh, kinh tế tập
trung là hai thành phần kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay với việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ
chế thị trường với sự quản lý điều tiết của nhà nước, chính sách tín dụng của ta
thể hiện sự đối xử bình đẳng với tất cả các thành phần kinh tế, tạo điều kiện môi
trường cạnh tranh có hiệu quả giữa các thành phần kinh tế với nhau để tạo ra
nhiều hàng hoá có chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu
của xã hội.
4
Trong điều kiện kinh tế thị trường nước ta hiện nay thì các quan hệ tín
dụng sẽ phát triển ngày một đa dạng dưới các hình thức khác nhau: tín dụng
thương mại, tín dụng ngân hàng,…
2. Tín dụng Ngân hàng
Tín dụng có nghĩa là tín nhiệm, tin tưởng, là phạm trù kinh tế có sản xuất
và traô đổi hàng hoá nên bất cứ ở đâu có sản xuất hàng hoá thì ở đó có hoạt
động tín dụng.
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu
sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi được một lượng giá trị lớn
hơn giá trị ban đầu.
Quan hệ giao dịch này thể hiện ở các nôị dung:
Ngưòi cho vay chuyển giao quyền sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi của
mình sang người vay theo nguyên tắc có hoàn trả dựa trên cơ sở sự tin tưởng, sự
tín nhiệm. Nếu có thể coi khoản tiền cho vay là một loại “tài sản” đặc biệt thì tài
sản này khi cho vay vẫn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người cho vay, thực
ra nó chỉ chuyển giao cho người khác sử dụng trong một thời gian nhất định với
giá cả nhất định. Sau đó, “tài sản” này được trả về cho chủ sở hữu đích thực của
nó - đó là người cho vay.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động tín dụng không ngừng
hoàn thiện và phát triển trở thành hình thức tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với
các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là
người đi vay vừa là người cho vay.
3. Vai trò của tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân
Thông qua hoạt động tín dụng, các ngân hàng huy động và tập trung được
các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các khoản tiền
nhàn rỗi chưa có nhu cầu sử dụng của ngân sách nhà nước, của các tổ chức, của
các tầng lớp dân cư trên quy mô toàn xã hội. Do đó, ngân hàng có được một
nguồn vốn tín dụng dồi dào để đầu tư cho các ngành kinh tế, để phục vụ nhu cầu
đầu tư của toàn xã hội. Như vậy, sự ra đời của ngân hàng cùng với sự xuất hiện
5
của tín dụng ngân hàng là hết sức cần thiết và có vai trò to lớn trong việc phát
triển kinh tế xã hội, nó được thể hiện trên các phưong diện:
3.1. Tín dụng Ngân hàng đáp ứng vốn để duy trì quá trình tái sản xuất,
đồng thời đầu tư phát triển kinh tế
Do quá trình tái sản xuất xã hội là thưòng xuyên và liên tục nên nhu cầu
về vốn thường xuyên ở mức độ cao. Trong khi đó lại có tổ chức, cá nhân có
nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời trong một thời gian nhất định. Đây là một vấn đề
cần giải quyết sao cho hài hoà, cả hai bên đều có lợi. Bên cần vốn thì có thể vay
được vốn với chi phí thấp và kịp thời để hoàn thành công việc của mình, bên có
vốn thì thu được khoản lợi trong thời gian mình không dùng tới khoản vốn đó.
Hoạt động tín dụng ra đời biến các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã
hội thành những nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh có hiệu quả cho các
doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ cho mọi
tầng lớp dân cư khi cần vốn.
Cùng với nguồn lự c sẵn có, doanh nghiệp đưa vào sản xuất, phục vụ sản
xuất và thúc đẩy sản xuất, lưu thông, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng.
Mặt khác, việc cung ứng vốn kịp thời của tín dụng ngân hàng đã đáp ứng được
nhu cầu vốn quay vòng (lưu động), vốn cố định của doanh nghiệp tạo điều kiện
cho doanh nghiệp sản xuất được liên tục và có thể ứng dụng được công nghệ
khoa học kỹ thuật thúc đẩy sản xuất.
Việc phân phối lại vốn tín dụng đã góp phần cung cấp, điều hoà vốn khiến
quá trình sản xuất kinh doanh được trôi chảy. Ngoài ra, tín dụng còn là cầu nối
giữa tiết kiệm và đầu tư. Tín dụng là động lực kích thích tiết kiệm, đồng thời là
phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế.
Thông qua tín dụng các nguồn vốn được tập trung và các nguồn vốn đó
được đưa vào quá trính sản xuất kinh doanh. Điều này khiến đầu tư cho nền kinh
tế được mở rộng góp phần thúc đẩy, kích thích tăng trưởng kinh tế.
3.2. Tín dụng Ngân hàng là công cụ thúc đẩy quá trình tập trung vốn
và tập trung sản xuất
6
Tín dụng thông qua việc hoạt động đi vay để cho vay, làm nhiệm vụ đưa
vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Nguồn vốn tín dụng được hình thành từ: nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn
rỗi được giải phóng ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
và các khoản tiền nhàn rỗi khác trong xã hội. Nó là hoạt động quan trọng của
ngân hàng, nó tạo điều kiện cho ngân hàng đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực
của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, việc sản xuất sản phẩm trong nền kinh tế thị trường luôn
phải đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng: mẫu mã, chất lượng, giá cả hợp lí,…
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới dây chuyền công nghệ, khoa
học kỹ thuật để đưa vào sản xuất, từ đó thúc đẩy nhu cầu về vốn ngày càng tăng
lên. Để giải quyết vấn đề này hợp lí và có hiệu quả thì tín dụng ngân hàng là
công cụ quan trọng.
Tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế
mà còn giúp các doanh nghiệp phát huy được thế mạnh về kỹ thuật, lao động,…
của mình.
Trong quá trình đầu tư, tín dụng chưa dải đều cho mọi chủ thể có nhu cầu
mà việc đầu tư được thực hiện một cách tập trung chủ yếu vào những doanh
nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Đầu tư tập trung là quá trình tất yếu vừa đảm
bảo tránh rủi ro, vừa thúc đẩy được quá trình tăng trưởng kinh tế.
3.3. Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá,
tiền tệ, điều tiết trong lưu thông và kiểm soát lạm phát
Chúng ta cần phải khẳng định rằng, nếu không có sự tham gia của tín
dụng thì các khoản vốn tiền tệ nhàn rỗi của các doanh nghiệp và các khoản tiền
nhàn rỗi khác trong xã hội sẽ không được sử dụng một cách thích đáng cho quá
trình phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá và phục vụ các nhu cầu khác của xã
hội. Song, trong nền kinh tế hàng hoá luôn luôn tồn tại các hoạt động tín dụng
nên các khoản tiền nhàn rỗi bằng nhiều hình thức đã được huy động lại để đầu
tư cho nền kinh tế và phục vụ nhu cầu khác của xã hội và dân cư. Sự gặp gỡ
giữa cung và cầu về vốn được thực hiện thông qua thị trường này, những nơi
7
đang có vốn tiền tệ tạm thời thừa được điều chuyển đến những nơi cần bổ sung
về vốn nhờ vào hoạt động tín dụng của các cơ quan ngân hàng và các tổ chức tài
chính trung gian.
Việc điều hoà vốn tín dụng trong nền kinh tế không chỉ là giải quyết mối
quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế mà còn tạo điều kiện để mở rộng
phạm vi thanh toán không dùng tiền mặt và hạn chế việc sử dụng tiền mặt, từ đó
tiết kiệm được chi phí lưu thông cho xã hội, góp phần vào việc điều hoà và ổn
định lưu thông tiền tệ, đồng thời kiểm soát được lạm phát.
3.4. Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh
tế với nước ngoài
Quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước đều gắn liền với thị trường thế
giới, nền kinh tế “đóng” của các nước trước kia nay đã nhường chỗ cho nền kinh
tế “mở” phát triển. Tín dụng ngân hàng là một trong các biện pháp tốt nhất giúp
các nước tăng cường mối quan hệ kinh tế. Tín dụng được mở rộng sẽ kéo theo
quan hệ đầu tư trong nền kinh tế tăng khiến cho các quan hệ thương mại khác
cũng tăng theo. Quan hệ tín dụng là tiền đề để thực hiện các quan hệ kinh tế
khác.
Thông qua quá trình nhận và cho vay, tài trợ, xuất nhập khẩu của các
nước cấp tín dụng cũng như các tổ chức tín dụng khác cũng tham gia trực tiếp
vào quan hệ thanh toán quốc tế. Đồng thời tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt
động xuất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và làm mối quan
hệ giữa các nước trở nên tốt đẹp.
II. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN CHO VAY
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất
định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Do đó, để có tính
pháp lý của những khoản cấp tín dụng này đã được phản ánh trên các chứng từ
của kế toán cho vay và các chứng từ này được pháp luật thừa nhận.
Kế toán cho vay là việc ghi chép, phản ánh bằng con số của tất cả các
khoản cho vay, thu nợ,.. thuộc nghiệp vụ tín dụng ngân hàng.
8
1. Vai trò của kế toán cho vay
Kế toán cho vay giữ vị trí quan trọng trong nghiệp vụ kế toán ngân hàng,
vì kế toán cho vay tham gia trực tiếp vào quá trình cho vay. Bên cạnh đó, kế
toán cho vay cung cấp cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, dân cư,… những
khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng, nhưng thông tin về quá trình cho
vay, thu nợ, thu lãi, thời hạn cho vay, lãi xuất,… một cách nhanh chóng và chính
xác. Đồng thời kế toán cho vay giúp cho ban lãnh đạo ngân hàng nắm được các
thông tin, số liệu về dư nợ cho vay, doanh số thu nợ, thu lãi, doanh số cho vay,
tình hình về nợ khoanh, nợ đọng, tình hình nợ quá hạn,… một cách chính xác.
Từ đó, ban lãnh đạo ngân hàng có phương hướng chỉ đạo, điều hành cho phù
hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra: an toàn, lành mạnh và lợi nhuận trong
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Kế toán cho vay giúp ngân hàng đánh giá được khả năng hấp thụ vốn của
các doanh nghiệp như thế nào: doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hay
không, có đúng mục đích không,… để từ đó đánh giá được doanh nghiêp, giúp
ngân hàng có những chiến lược đầu tư phù hợp và có hiệu quả.
Thông qua việc ghi chép quá trình cho vay, thu nợ, lưu hồ sơ, theo dõi kỳ
trả nợ hàng ngày,… kế toán cho vay còn là công cụ để đảm bảo an toàn khoản
vốn cho vay, bảo vệ an toàn lượng tài sản lớn của ngân hàng.
2. Nhiệm vụ của kế toán cho vay
Kế toán cho vay phải thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình:
Kế toán cho vay trước khi giải ngân (phát tiền) phải kiểm tra, kiểm soát
hồ sơ cho vay.
Kế toán cho vay thực hiện việc ghi chép, phản ánh đầy đủ, chính xác các
nghiệp vụ phát sinh trong quá trình cho vay, thu nợ, thu lãi,…
Kế toán cho vay tính và thu lãi đầy đủ, chính xác để đảm bảo thu nhập
cho ngân hàng và quyền lợi khách hàng.
Kế toán cho vay có trách nhiệm quản lý toàn bộ hồ sơ vay của khách hàng
gồm hồ sơ pháp lý ( là các loại giấy tờ minh chứng khách hàng có đủ tư cách
9
pháp lý để thiết lập quan hệ vay vốn với ngân hàng) và hồ sơ vay vốn, theo dõi
kỳ hạn nợ để thu hồi nợ kịp thời, đầy đủ.
Cùng với bộ phận tín dụng, kế toán cho vay quản lý các khoản cho vay
đem lại hiệu quả cao. Kế toán cho vay cung cấp về thông tin, số liệu về những
món vay quá hạn, sắp đến hạn thu hồi để cán bộ tín dụng có kế hoạch đôn đốc
thu hồi nợ kịp thời.
Kế toán cho vay cùng với các nghiệp vụ kế toán ngân hàng khác thông
qua hoạt động của mình giúp ngân hàng thực hiện tốt chức năng kinh doanh.
Với vai trò quan trọng của mình, hệ thống kế toán ngân hàng nói chung và kế
toán cho vay nói riêng cần được hoàn thiện hơn để đáp ứng được những đòi hỏi
ngày càng cao của ngành ngân hàng và nền kinh tế.
III. CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY
1. Phương thức cho vay
Thời hạn cho vay của tín dụng ngân hàng cũng phong phú và đa dạng. Nó
có thể cung cấp các khoản tín dụng: ngắn hạn, trung hạn, cũng có thể cho vay
dài hạn tuỳ vào nhu cầu và điều kiện của khách hàng cần nguồn vốn (Theo quyết
định 1672/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban hành quy chế cho vay
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng). Có 9 phương thức cho vay sau đây.
1.1. Phương thức cho vay từng lần
Phương thức cho vay từng lần áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay
vốn từng lần. Mỗi lần vay vốn, khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục
vay vốn cần thiết và kí hợp đồng tín dụng.
Phương thức này thường được áp dụng đối với khách hàng không có nhu
cầu vay thường xuyên. Khách hàng có vòng quay vốn lưu động thấp, khách
hàng là cá thể.
1.2. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng
Cho vay theo hạn mức tín dụng là cách thức cho vay bằng cách ngân hàng
xác định cho khách hàng của mình một hạn mức tín dụng trong khoảng thời gian
nhất định.
10
Đối với khách hàng sản xuất , kinh doanh tổng hợp thì phương án sản
xuất kinh doanh của khách hàng là tổng hợp phương án sản xuất kinh doanh của
từng đối tượng. Theo đó, ngân hàng nơi cho vay xác định mức tín dụng cho cả
phương án sản xuất kinh doah tổng hợp.
Phương thức cho vay này áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn
(thường xuyên) với ngân hàng, khách hàng có vòng quay vốn lưu động cao.
Trong phạm vi hạn mức tín dụng, thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng,
mỗi lần rút vốn vay khách hàng và ngân hàng lập giấy nhận nợ kèm theo các
chứng từ phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng, đảm bảo
dư nợ không vượt quá hạn mức tín dụng đã ký kết.
1.3 Phương thức cho vay theo dự án đầu tư
Phương htức này được áp dụng đối với khách hàng vay vốn để thực hiện
các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đấu tư
phục vụ đời sống.
Ngân hàng cùng khách hàng cùng kí hợp đồng tín dụng và thoả thuận
mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ trả
nợ.
Ngân hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án.
Trong phương thức này, kế toán cho vay có nhiệm vụ theo dõi, giám sát
khách hàng vay vốn không quá hạn mức mỗi một lần rút vốn vay khách hàng
phải lập giấy nhận nợ tiền vay, trong phạm vi mức vốn đầu tư đã thoả thuận kèm
theo các chứng từ xin vay phù hợp.
1.4. Cho vay hợp vốn
Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của tổ chức tín
dụng do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành văn bản hướng dẫn và các
thoả thuận giữa các tổ chức tham gia đồng tài trợ.
1.5. Cho vay trả góp
Phương thức này khi cho vay, NHNo nơi cho vay và khách hàng cùng
thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo
nhiều kỳ trong thời hạn cho vay.
11
1.6. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Khi cho vay theo phương này thì ngân hàng cho vay và khách hàng thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng: hạn mức tín dụng dự phòng thời hạn hiệu lực
của tín dụng dự phòng: ngân hàng cho vay cam kết đáp ứng nguồn vốn cho
khách hàng bằng Việt Nam đồng hoặc ngoại tệ. Trong thời gian hiệu lực của
hợp đồng nếu khách hàng không sử dụng hoặc sử dụng không hết hạn mức tín
dụng dự phòng, khách hàng vẫn phải trả phí cam kết tính cho hạnn mức tín dụng
dự phòng đó. Mức phí này phải được thoả thuận giữa khách hàng và NHNo nơi
cho vay.
1.7. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Ngân hàng nơi cho vay sẽ chấp thuận cho khách hàng sử dụng số vốn vay
trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động. Ngân hàng nơi cho vay và khách hàng phải
tuân thủ theo các quy định của chính phủ và ngân hàng nhà nước Việt Nam và
theo hướng dẫn của NHNo Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Phương thức cho vay này thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng thực hiện theo hướng dẫn của thống đốc NHNo Việt Nam.
1.8. Cho vay theo hạn mức thấu chi
Là việc cho vay mà NHNo Việt Nam thoả thuận bằng văn bản chấp thuận
cho khách hàng chi vượt quá số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng
phù hợp với các quy định của chính phủ và NHNN Việt Nam về hoạt động
thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Phương thức này được thực hiện theo hướng dẫn của Tổng giám đốc
NHNo Việt Nam.
1.9. Phương thức cho vay khác
1.9.1. Cho vay lưu vụ
Phương thức này chỉ áp dụng trong cho vay hộ gia đình cá nhân, ở vùng
chuyên canh trồng lúa và các vùng xen canh trồng lúa với các cây trồng ngắn
ngày khác.
1.9.2. Các phương thức cho vay khác
12
Thực hiện cụ thể của Tổng giám đốc NHNN Việt Nam khi được chủ tịch
hội đồng quản trị chấp thuận.
IV. CHỨNG TỪ VÀ TÀI KHOẢN DÙNG TRONG KẾ TOÁN CHO
VAY
1. Chứng từ kế toán cho vay
Chứng từ dùng trong kế toán cho vay là những chứng minh bằng giấy về
nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành và là cơ sở để
hạch toán vào sổ sách kế toán và cập nhật vào hệ thống máy tính của ngân hàng.
Chứng từ kế toán cho vay gồm:
Chứng từ gốc: là loại chứng từ làm căn cứ pháp lý chứng minh một
nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào hoàn thành. Chứng từ gốc được lập
ngay khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh và hoàn thành.
Chứng từ ghi sổ: là chứng từ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài
chính phát sinh vào sổ sách kế toán. Chứng từ ghi sổ được lập trên cơ sở chứng
từ gốc hoặc chứng từ gốc kiêm chứng từ ghi sổ .
Các giầy tờ trong quan hệ tín dụng đòi hỏi phải có đầy đủ tính pháp
lý được thể hiện trên chứng từ kế toán cho vay là các yếu tố xác định quyền chủ
thể cho vay của ngân hàng chỉ là ngươi chịu trách nhiệm nhận nợ và cam kết trả
gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng.
2. Tài khoản dùng trong kế toán cho vay
Để phản ánh nghiệp vụ cho vay thuộc tài sản có của ngân hàng, tài khoản
dùng để ghi chép, phản ánh toàn bộ số tiền cho vay của ngân hàng đối với người
vay đồng thời ghi chép, phản ánh số tiền người vay trả nợ ngân hàng theo những
kỳ hạn nhất định.
Ứng với mỗi phương thức cho vay có tài khoản khác nhau.
Tài khoản phản ánh nghiệp vụ cho vay
TK 21:cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước. Tài
khoản này phản ánh số tiền (số tiền đồng Việt nam và ngoại tệ) tổ chức tính
dụng cho tổ chức cá nhân trong nước vay:
211: cho vay ngắn han bằng đồng Việt nam .
13
212: cho vay trung han bằng đồng Việt nam .
213: cho vay dàI hạn bằng Việt nam đồng.
214: cho vay ngắn han bằng ngoại tệ .
215: cho vay trung han bằng ngoại tệ.
216: cho vay dàI hạn bằng ngoại tệ .
Tài khoản :211 dùng để phản ánh số tiền dồng việt nam của tổ chức tín
dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước vay.
TK: 211có các tàI khoản cấp 3 sau:
2111: nợ cho vay trong hạn và được gia hạn nợ.
2112: nợ quá hạn đến 180 ngày có khả năng thu hồi .
2113: nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày có khả
năng thu hồi .
2118: nợ khó đòi.
Các tài khoản này ding để hoạch toán số tiền, tổ chức tín dụng cho các tổ
chức kinh tế cá nhân trong nước vay ngắn hạn, trung hạn và dàI hạn.
Kết cấu tài khoản: TK : 2111, 2112, 2113, có kết cấu giống nhau.
Bên nợ: phản ánh số tiền tổ chức tín dụng cho khách hàng
vay đang nợ trong hạn hoặc đã được gia hạn nợ.
Bên có : phản ánh số tiền khách hàng trả nợ gốc .
:phản ánh số tiền chuyển nợ quá hạn .
Dư nợ :phản ánh số tiền tổ chức cho vay đang trong hạn.
Kết cấu tài khoản :2118 nợ khó đòi( nợ quá hạn) .
Tài khoản này phản ánh số tiền khách hàng đang nợ quá hạn từ 186 ngày
dến 360 ngày:
Bên nợ: phản ánh phát sinh tăng số tiền khách hàng đang nợ
quá hạn để chuyển từ tài khoản nợ trong han hoặc nợ quá hạn ở cấp thấp sang .
Bên có: phản ánh số tiền khách hàng trả nợ quá hạn hoặc nợ
khó đòi
Phản ánh số tiền chuyển sang cấp cao hơn.
14
Dư nợ : phản ánh số tiền nợ quá hạn mà khách hàng chưa
thanh toán được.
TÀI KHOẢN :217 tiền lãi cộng dồn dự thu.
Tài khoản dùng để phản ánh số lãi cộng dồn tính trên tài khoản tiền cho
vay các tổ chức kinh tế các cá nhân trong nước mà tổ chức tín dụng sẽ được
nhận khi đến hạn.
Việc hạch toán trên tài khoản tiền lãi cộng dồn, tổ chức tín dụng tính trên
các tàI khoản tiền cho vay thì không quan yâm tới việc liệu tiền đã được nhận
hay chư, mà thu nhập lãi được hạch toán khi phát sinh được ghi nhận trong kì
tính lãi(trên cơ sở trích trước) để đảm bảo các báo cáo tài chính sẽ phản ánh các
khoản thu nhập đúng đắn của tổ chức tín dụng trong một thời kỳ kế toán xác
định bằng việc thích ứng chi phí với các thu nhập được tạo ra.
Tài khoản :217 có các tài khoản cấp 3
2171: tiền lãi cộng dồn từ cho vay ngắn han bằng đồng VN.
2172: tiền lãi cộng dồn từ cho vay trung và dài hạn bằng đồng VN
2173: tiền lãi cộng dồn từ cho vay ngắn hạn bằng ngoại tệ .
2174: tiền lãi cộng dồn từ cho vay trung và dài hạn bằng ngoại tệ .
kết cấu :
Bên nợ: phản ánh số tiền lãi tính cộng dồn
Bên có : phản ánh số tiền lãi khách hàng vay tiền trả
Phản ánh số tiền lãi đến kỳ hạn mà không nhận được(trong ,một thời gian
theo qui định ) chuyển sang lãi chưa thu được.
Dư nợ : phản ánh số lãi tiền cho vay mà tổ chức tín dụng chưa được thanh
toán .
Tài khoản : 219 dự phòng phải thu khó đòi .
Tài khoản này dùng để phản ánh việc lập dự phòng và xử lý các khoản dự
phòng về các khoản cho các tổ chức kinh tế cá nhan vay và có khả năng không
đòi được vào cuối niên độ kế toán.
Trong thực tế hoạt động kinh doanh có những khoản cho vay mà người
vay không có khả năng trả nợ. Các khoản bên nợ của những khách hàng này gọi
15
là nợ phải thu khó đòi. để dề phòng những tổn thất về các khỏan phải thu khó
đòi có thể xảy ra. Hạn chế những đột biến về kết quả kinh doanh trong kỳ hạch
toán tổ chức tín dụng phải trích từ chi phí để lập ra khoản dự phòng cho các
khoản nợ phải thu khó đòi đối với những khoản phải thu khó đòi kéo dài trong
nhiều năm, tổ chức tín dụng đã cố gắng làm mọi biện pháp để thu nợ mà vẫn
không thu được khách hàng vay thực sự không có khả năng thanh toán thì doanh
nghiệp có thể xoá các khoản nợj phải thu khó đoi trong sổ kế toán và chuyển ra
theo dõi ở tài khoản 97(nợ khó đòi đã xử lý). Trong trường hợp thu được nợ sẽ
hạch toán vào tài khoản 79 các khoản thu nhập bất thường .
Kết cấu tài khoản:
Bên có: phản ánh số tiền dự phòng các khoản phải thu khó đòi tính vào
chi phí .
Bên nợ: phản ánh các khoản phải thu khó đòi không thu được phải xử lý
xoá nợ .
Kết chuyển số chêng lêch về dự phòng phải thu khó đòi đãc lập không sử
dụng còn lại đến cuối niên độ kế toán lớn hơn số phải trích lập dự phòng cho
niên đọ sau .
Dư có: phản ánh số dự phòng các khoản phải thu còn lại cuối kỳ.
V. QUY TRÌNH KẾ TOÁN CHO VAY – THU NỢ
Chúng ta sẽ nghiên cứu chủ yếu hai phương thức cho vay
1. Phương thức cho vay từng lần
1.1. Kế toán giai đoạn cho vay
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn, làm giấy tờ đề nghị vay vốn gửi tới
ngân hàng để trình bày lý do xin vay. Do vậy, ngân hàng có căn cứ để xem xét,
tính toán quyết định cho vay và lập hợp đồng tín dụng. Nếu đã được giám đốc
(người nhận uỷ quyền giám đốc) ký duyệt cho vay thì bộ phận tín dụng chuyển
hồ sơ cho bộ phận kế toán thực hiện hạch toán và giải ngân. Khi đó bộ phận kế
toán kiểm tra lại bộ hồ sơ và hướng dẫn khách hàng lập các chứng từ kế toán,
giải ngân theo quy trình quy đinh, ghi chép đầy đủ các yếu tố trên chứng từ.
Nợ: tài khoản cho vay.
16
Có: tài khoản tiền mặt tai quỹ(nếu cho vay bằng tiền mặt)hoặc tài
khoản tiền gửi của người vay (thanh toán bằng chuyển khoản).
Nếu các món vay có tài sản cầm cố, thế chấp thì kế toán phải ghi nhập
vào tài khoản ngoại bảng.
1.2. Kế toán giai đoạn thu nợ, thu lãi
Kế toán viên giữ và theo dõi các tài khoản của từng đơn vị vay vốn qua sổ
chi tiết. Khi hoàn thành hợp đồng tín dụng, được giải ngân. Hợp đồng tín dụng
đưỡc lưu trữ trong hồ sơ vay để theo dõi và thu hồi nợ đồng thời được sắp xếp
một cách khoa học và theo dõi chặt chẽ kỳ hạn trả nợ.
Đặc điểm của phương thức cho vay từng lần : Mỗi lần vay đều được xác
định thời hạn trả cuối cùng. Do đó , người vay phải có trách nhiệm trả nợ ngân
hàng khi đến hạn. Trong trường hợp đến hạn cuối cùng mà người vay không trả
đủ nợ cho ngân hàng thì kế toán sẽ trích từ tài khoản tiền gửi của khách hàng
(nếu có) để thu nợ.
Nếu trường hợp người vay không có tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản tiền
gửi đã hết số dư cũng chưa đủ trả nợ vào khoản vay đó không được ngân hàng ra
hạn nợ, kế toán sẽ làm thủ tục chuyển sang tài khoản nợ quá hạn.
Các bài toán phản ánh khi thu nợ
Thu nợ cẩ gốc và lãi cùng một thời điểm thì hạch toán.
Nợ: tài khoản tiền mặt hoặc tiền gửi của người vay (phần gốc và lãi).
Có: tài khoản cho vay của người vay (gốc).
Tài khoản thu nhập của ngân hàng (tiểu khoản thu lai cho vay).
Thu nợ gốc và lãi không cùng thời điểm.
Thu theo phương pháp tích số, thu lãi hàng tháng theo số dư nợ tài khoản
cho vay. Do vậy việc thu nợ, thu lãi sẽ được hạch toán ở các điểm khác nhau:
Hạch toán giai đoạn thu lãi.
Nợ: tài khoản tiền mặt tại quỹ (nếu thu bằng tiền mặt).
Tài khoản tiền gửi của người vay(nếu thu bằng chuyển khoản).
Có: tài khoản thu nhập của ngân hàng (tiểu khoản thu lãi).
Hạch toán giai đoạn thu lợi gốc.
17
Nợ: tài khoản tiền mặt tai quỹ (nếu thu bằng tiền mặt).
Tài khoản tiền gửi của người vay (nều thu bằng chuyển khoản).
Có: tài khoản cho vay của người vay.
1.3. Kế toán giai đoạn chuyển nợ quá hạn
Khi đến kỳ hạn cuối cùng trả nợ gốc hoặc lãi trong thời hạn cho vay đã
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng không trả được đúng hạn số
nợ gốc hoặc lãi phải trả của kỳ hạn đó và không được ngân hàng nơi cho vay
chấp thuận chuyển số nợ gốc hoặc lãi chưa được sang kỳ tiếp theo thì kế toán sẽ
làm thủ tục chuyển toàn bộ số dư nợ sang tài khoản nợ quá hạn.
Khi chuyển nợ qua hạn kế toán hạch toán ghi:
Nợ: tài khoản quá hạn.
Có: tài khoản cho vay của người vay.
Xử lý khi chuyển nợ quá hạn .
Trong trường hợp chưa trả hết lãi thì ngân hàng sau khi tính lãi hạch toán
ngoại bảng: ghi nhập tài khoản “lãi chưa thu” và theo dõi khi nào tài khoản
khách hàng có tiền thì thu hồi.
Khi hạch toán ngoại bảng: xuất tài khoản “lãi chưa thu” đồng thời nội
bảng ghi:
Nợ: tài khoản tiền gửi của người vay (phần lãi).
Có: tài khoản thu nhập của ngân hàng (tiểu khoản thu lãi cho vay).
Khi thu hồi nợ, kế toán cho vay phải xoá nợ trên khế ước vay tiền. Những
khế ước thu hết nợ khi xoá xong sẽ đóng thành lập riêng. Những khế ước chỉ thu
một phần thì lưu lại hồ sơ vay vốn của người vay để tiếp tục theo dõi. Khế ước
chuyển nợ qua hạn sẽ lưu ở hồ sơ nợ quá hạn.
2. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng
2.1. Kế toán giai đoạn cho vay
Kế toán phát tiền vay căn cứ vào hạn mức tín dụng đã được thoả thuận
giữa ngân hàng và khách hàng. Trong phạm vi của hạn mức thời hạn hiệu lực
của tín dụng và mỗi lần rút tiền khách hàng lập giấy nhận nợ, kèm theo chứng từ
xin vay phù hợp. Như vậy, trách nhiệm của kế toán là phải theo dõi chặt chẽ dư
18
nợ trên tài khoản cho vay để dư nợ không vượt quá hạn mức hợp đồng tín dụng
đã ký, trong kỳ.
Kế toán cho vay sau khi kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ và
đối chiếu với hạn mức tín dụng nếu hợp lệ thì căn cứ vào chứng từ để hạch toán.
Nợ: tài khoản cho vay theo hạn mức.
Có: tài khoản tiền mặt tại quỹ (nếu cho vay bằng tiền mặt).
Tài khoản người thu hướng (nếu thanh toán cùng ngân hàng).
Tài khoản thanh toán qua lại giữa các ngân hàng (nếu thanh toán khác
ngân hàng).
2.2. Kế toán giai đoạn thu nợ, thu lãi
Phương thức cho vay theo hạn mức thì việc trả nợ của khách hàng dựa
vào vòng quay vốn tín dụng hoặc khách hàng trả theo tháng đã thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng. Đơn vị vay phải nộp tiền bán hàng cũng như các khoản thu
nhập khác. Bên có của tài khoản cho vay để trả nợ ngân hàng. Khi hết tháng,
khách hàng không hoàn trả được nợ đồng thời không được xét để chuyển sang
thu tiếp ở tháng kế tiếp thì kế toán chuyển số tiền còn nợ sang tài khoản nợ quá
hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn.
-Thu nợ gốc :
Hạch toán thu nợ gốc theo số tiền bán hàng của đơn vị nộp vào ngân
hàng.
Nợ: tài khoản tiền mặt tại quỹ (thu bằng tiền mặt).
Có: tài khoản cho vay theo hạn mức.
hoặc Nợ: tài khoản trung gian của người chi trả (thu chuyển khoản, thanh
toán cùng ngân hàng).
Tài khoản thanh toán qua lại giữa các ngân hàng (thu chuyển khoản, thanh
toán khác ngân hàng).
Có: tài khoản cho vay theo hạn mức.
Nguyên tắc: Ngân hàng chỉ thu nợ trong phạm vi số tiền ngân hàng đã cho
khách hàng vay. Đối với đơn vị vay theo hai tài khoản thì ngân hàng chỉ thu nợ
trong phạm vi dư nợ của tài khoản cho vay. Trong trường hợp đơn vị vay đã trả
19
hết nợ rồi thì số tiền bán hàng của đơn vị sẽ ghi vào bên có của tài khoản tiền
gửi thanh toán của đơn vị. Khi đó, trong tài khoản đã có số dư (đơn vị gửi vốn
vào ngân hàng), lúc này ngân hàng sẽ tính và trả lãi suất phù hợp.
- Tính và thu lãi:
Đối với những khách hàng vay theo tài khoản cho vay hạn mức tín dụng
thì việc thu lãi được tiến hành hàng tháng theo phương pháp tích số, cũng có thể
thu từ tài khoản tiền gửi thanh toán để thu hoặc khách hàng nộp tiền mặt.
Việc hạch toán được thực hiện:
Nợ: tài khoản tiền mặt tại quỹ (thu bằng tiền mặt).
Có: tài khoản thu nhập của ngân hàng.
hoặc Nợ: tài khoản tg của người chi trả (thu chuyển khoản, thanh toán
cùng ngân hàng).
tài khoản thanh toán qua lại giữa các ngân hàng (thu chuyển khoản, thanh
toán khác ngân hàng).
Có: tài khoản thu nhập của ngân hàng.
2.3. Kế toán giai đoạn chuyển nợ quá hạn
Đến thời điểm cuối cùng của thời hạn cho vay đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng, nếu khách hàng không trả hết số nợ gốc hoặc lãi đúng hạn và
không được ngân hàng chấp thuận ra hạn nợ, kế toán sẽ lập phiếu chuyển khoản,
chuyển số tiền đó sang tài khoản nợ quá hạn hạch toán.
Nợ: tài khoản nợ quá hạn.
Có: tài khoản cho vay theo hạn mức.
Số tiền đơn vị còn nợ ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn từ thời điểm nào
thì kế toán tính lãi suất nợ quá hạn thời điểm đó.
20