Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở nhà máy thiết bị bưu điện

  • 69 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hiện nay cùng với quá trình
mở của, sự cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày càng gay gắt quyết liệt, sức ép của
hàng nhập lậu, của người tiêu dùng trong và ngoài nước buộc các nhà kinh
doanh cũng như các nhà quản lý phải hết sức coi trọng vấn đề bảo đảm và nâng
cao chất lượng.
Chất lượng sản phẩm luôn là điểm yếu kéo dài nhiều năm ở nước ta. Trong
nền kinh tế tập trung trước đây, vấn đề chất lượng đã từng được đề cao và được
coi như là một mục tiêu quan trọng. Nhưng kết quả chưa mang lại là bao do cơ
chế tập trung quan liêu phủ nhận nó trong các hoạt động cụ thể.
Trong hơn 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế xã hội, vấn đề chất
lượng sản phẩm dần dần trở về đúng nghĩa của nó. Người tiêu dùng bắt đầu
nhận thức được vấn đề chất lượng hàng hoá dịch vụ. Các nhà doanh nghiệp cũng
đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này và bắt đầu tìm tòi nghiên cứu
những cơ chế mới về chất lượng cho thời kỳ tới. Chất lượng sản phẩm ngày nay
đang trở thành một nhân tố cơ bản để quyết định sự thắng bại trong cạnh tranh
quyết định sự tồn tại, hưng vong của từng doanh nghiệp nói riêng cũng như sự
thành công hay tụt hậu của nền kinh tế nói chung. Đảm bảo không ngừng nâng
cao chất lượng sản phẩm đối với các doanh nghiệp là một yêu cầu khách quan
góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, đóng góp vào việc nâng cao đời sống của
cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.
Với hơn 47 năm phấn đấu xây dựng và trưởng thành, Nhà máy thiết bị bưu
điện Hà Nội bước sang cơ chế thị trường với muôn vàn khó khăn thử thách đã
bước đầu đứng vững và đang trên đà phát triển. Trong tình hình sản xuất kinh
doanh phức tạp hiện nay, Nhà máy còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ
sản phẩm ở thị trường nội địa và nước ngoài mà nguyên nhân cốt lõi là chất
lượng và giá thành chưa phù hợp với nhu cầu thị trường. Như vậy để nâng cao
chất lượng sản phẩm ở Nhà máy là một vấn đề vô cùng quan trọng và có ý nghĩa
1
thực tiễn. em đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm ở Nhà máy thiết bị bưu điện”, làm chuyên đề tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề gồm 3 phần:
Phần I: Cơ sở lý luận của vấn đề chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
công nghiệp trong cơ chế thị trường
Phần II: Thực trạng về chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản
phẩm ở Nhà máy thiết bị bưu điện Hà Nội
Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở Nhà
máy thiết bị bưu điện
2
Phần thứ nhất
CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
CÔNG NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
I. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TRONG
DOANH NGHIỆP.
Trong cơ chế thị trường việc sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh
nghiệp nào thành công hay thất bại đều phụ thuộc rất lớn vào chất lượng sản
phẩm của doanh nghiệp đó. Đây là một yếu tố quan trọng quyết định khả năng
tiêu thụ sản phẩm, khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, vấn đề chất lượng sản phẩm
hơn lúc nào hết được các doanh nghiệp quan tâm một cách nghiêm túc.Việc
đưa chất lượng sản phẩm vào nghiên cứu như là một môn học chính đã đánh dấu
một bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển khoa học kinh tế ở nước ta.
1. Khái niệm chất lượng sản phẩm.
Hiện nay, theo tài liệu các nước trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác
nhau về chất lượng sản phẩm. Mỗi quan niệm khác nhau đều có những căn cứ
khoa học và thực tiễn khác nhau và có những đóng góp nhất định thúc đẩy khoa
học quản trị chất lượng không ngừng phát triển và hoàn thiện. Tuỳ thuộc vào
góc độ xem xét, quan niệm của mỗi nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế
xã hội nhất định và nhằm mục tiêu khác nhau. người ta đưa ra nhiều khái niệm
về chất lượng sản phẩm cũng khác nhau.
Chất lượng- theo quan điểm triết học – là một phần tồn tại cơ bản bên
trong các sự vật hiện tượng. Theo Mác thì chất lượng sản phẩm là mức độ, là
thước đo biểu thị giá trị sử dụng của nó. Giá trị sử dụng của một sản phẩm làm
nên tính hữu ích của sản phẩm đó và nó chính là chất lượng của sản phẩm.
Theo quan điểm của hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây mà Liên Xô là
đại diện thì chất lượng sản phẩm là tổng hợp những đặc tính kinh tế - kỹ thuật
nội tại phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng những
3
nhu cầu định trước cho nó những điều kiện xác định về kinh tế - kỹ thuật. Đây
là một định nghĩa xuất phát từ quan điểm của các nhà sản xuất. Về mặt kinh tế,
quan điểm này phản ánh đúng bản chất của sản phẩm. Qua đó dễ dàng đánh giá
được mức độ chất lượng sản phẩm đạt được nhờ đó xác định được rõ ràng
những đặc tính và chỉ tiêu nào cần hoàn thiện. Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm
chỉ được xem xét một cách biệt lập, tách rời với thị trường, làm cho chất lượng
sản phẩm không thực sự gắn với nhu cầu và sự vận động biến đổi của nhu cầu
trên thị trường, với hiệu quả kinh tế và điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp.
Khiếm khuyết này cũng dễ hiểu bởi vì cũng giống như nước ta, các nước XHCN
sản xuất theo kế hoạch, tiêu thụ theo kế hoạch, sản phẩm sản xuất ra không đủ
cung cấp cho thị trường nên không có sự so sánh, cạnh tranh về sản phẩm.
Từ đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội đã dẫn đến cách hiểu chưa đầy đủ
về chất lượng sản phẩm và đây cũng là một yếu tố kìm hãm nền kinh tế của các
nước XHCN nói chung và nước ta nói riêng.
Bước sang cơ chế thị trường khi nhu cầu thị trường được coi là xuất phát
điểm của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thì định nghĩa trên không còn phù
hợp nữa. Quan điểm về chất lượng sản phẩm phải được nhìn nhận năng động
thực tiễn và hiệu quả hơn. Tức là khi xem xét chất lượng sản phẩm phải gắn liền
với nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường, với chiến lược cạnh tranh của
doanh nghiệp. Những quan niệm mới đó được gọi là quan niệm chất lượng sản
phảm theo hướng khách hàng. Có rất nhiều tác giả theo quan niệm này, với
nhiều cách diễn đạt khác nhau:
Crosby: Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất
định.
Feigenbaum: Chất lượng sản phẩm là tập hợp các đặc tính kỹ thuật, công
nghệ và vận hành của sản phẩm, nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được các yêu
cầu của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm.
Juran: Chất lượng là sự phù hợp với sử dụng, với công dụng. Phần lớn các
chuyên gia về chất lượng trong nền kinh tế thị trường coi chất lượng sản phẩm là
sự phù hợp với nhu cầu hay mục đích sử dụng của người tiêu dùng. Các đặc
4
điểm kinh tế – kỹ thuật phản ánh chất lượng sản phẩm khi chúng thoả mãn được
những đòi hỏi của người tiêu dùng. Chất lượng được nhìn từ bên ngoài, theo
quan điểm của khách hàng. Chỉ có những đặc tính đáp ứng được nhu cầu của
hàng hoá mới là chất lượng sản phẩm. Mức độ đáp ứng nhu cầu là cơ sở để đánh
giá trình độ chất lượng sản phẩm đạt được. Theo quan niệm này chất lượng sản
phẩm không phải là cao nhất và tốt nhất mà là sự phù hợp với nhu cầu.
Để phát huy mặt tích cực và khắc phục những hạn chế của các quan niệm
trên. tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (ISO) đã đưa ra khái niệm: “ Chất
lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối
tượng) có khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu hoặc tiềm ẩn ” (Theo ISO
8402:1994).
Dựa trên khái niệm này, cục đo lường chất lượng nhà nước Việt Nam đã
đưa ra khái niệm: “Chất lượng sản phẩm của một sản phẩm nào đó là tổng hợp
của tất cả các tính chất biểu thị giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu của xã hội
trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, đảm bảo các yêu cầu của người
sử dụng nhưng cũng đảm bảo các tiêu chuẩn thiết kế và khả năng sản xuất của
từng nước” (TCVN-5814-1994).
Về thực chất, đây là những khái niệm có sự kết hợp của những quan niệm
trước đây và những quan niệm trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
Bởi vậy những quan niệm này được chấp nhận khá phổ biến và rộng rãI
hiện nay.
Tuy nhiên quan niện chất lượng sản phẩm tiếp tục được phát triển, bổ xung
hơn nữa. Để đáp ứng nhu cầu khách hàng, các doanh nghiệp phải không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm của mình nhưng không thể theo đuổi chất lượng
cao với bất cứ giá nào mà luôn có giới hạn về kinh tế xã hội và công nghệ. Vì
vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm chắc các loại chất lượng sản phẩm:
Chất lượng thiết kế: Là giá trị thể hiện bằng các tiêu chuẩn chất lượng được
phác thảo bằng các văn bản, bản vẽ.
Chất lượng tiêu chuẩn: Là chất lượng được đánh giá thông qua các chỉ tiêu
kỹ thuật của quốc gia, quốc tế, địa phương hoặc ngành.
5
Chất lượng thị trường: Là chất lượng bảo đảm thoả mãn những nhu cầu
nhất định, mong đợi của người tiêu dùng.
Chất lượng thành phần: Là chất lượng đảm bảo thoả mãn những nhu cầu
mong đợi của một hoặc số tầng lớp người nhất định.
Chất lượng phù hợp: Là chất lượng phù hợp với ý thích, sở trường, tâm lý
người tiêu dùng.
Chất lượng tối ưu: Là giá trị các thuộc tính của sản phẩm hàng hoá phù hợp
với nhu cầu của xã hội nhằm đạt được hiêụ quả kinh tế cao nhất.
2. Vai trò của chất lượng sản phẩm.
Cơ chế thị trường tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của các
doanh nghiệp và nền kinh tế. Đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với
các doanh nghiệp.
Hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự chi phối của quy luật kinh tế,
trong đó quy luật cạnh tranh chi phối một cách nghiệt ngã nhất, đòi hỏi các
doanh nghiệp phải nắm vững nhu cầu thị trường cả về mặt không gian, thời gian
số lượng và chất lượng.
Thế mạnh của nền kinh thị trường là hàng hoá tràn ngập phong phú cạnh
tranh lẫn nhau gay gắt người tiêu dùng được tự do lựa chọn các sản phẩm theo
nhu cầu, sở thích, khả năng mua của họ. Họ thực sự là đối tượng mà các nhà sản
xuất kinh doanh sẵn sàng và tận tình phục vụ.
Trong doanh nghiệp công nghiệp, chất lượng sản phẩm luôn luôn là một
trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định cạnh tranh trên thị trường.
Chất lượng sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện chiến lược
Marketing, mở rộng thị trường, tạo uy tín, danh tiếng cho sản phẩm của doanh
nghiệp, khẳng định vị trí của sản phẩm đó trên thị trường. Từ đó làm cơ sở cho
sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh tế, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc
vào sự phát triển sản xuất có năng suất - chất lượng mà còn được tạo thành bởi
sự tiết kiệm, đặc biệt là tiết kiệm nguyên vật liệu, thiết bị và lao động trong quá
trình sản xuất và sự tiết kiệm nhờ không lãng phí do không sản xuất ra các sản
6
phẩm có chất lượng tốt. Nâng cao chất lượng chính là điều kiện để đạt được sự
tiết kiệm đó nhờ tăng chất lượng sản phẩm dẫn đến tăng giá trị sử dụng và lợi
ích kinh tế xã hội trên một đơn vị chi phí đầu vào, giảm lượng nguyên vật liệu
sử dụng, tiết kiệm tài nguyên giảm những vấn đề về ô nhiễm môi trường. Như
vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm chính là con đường ngắn nhất đem lại hiệu
quả kinh tế.
Chất lượng sản phẩm được nâng cao giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu
kinh doanh của mình là lợi nhuận. Đây đồng thời là điều kiện để doanh nghiệp
tồn tại và phát triển. Chất lượng sản phẩm góp phần đẩy mạnh tiến độ sản xuất,
tổ chức lao động, trong một doanh nghiệp nói riêng cũng như trên phạm vi quốc
gia nói chung. Khi doanh nghiệp đã đạt được lợi nhuận thì có điều kiện để đảm
bảo việc làm ổn định cho người lao động, tăng thu nhập cho họ làm cho họ tin
tưởng gắn bó với doanh nghiệp, đóng góp hết mình để sản xuất những sản phẩm
có chất lượng tốt giúp doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả hơn.
Chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo hướng dẫn và kích thích tiêu dùng. Riêng
đối với sản phẩm là tư liệu sản xuất thì chất lượng sản phẩm tốt sẽ đảm bảo cho
việc trang bị kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, tăng năng xuất lao
động.
Chất lượng sản phẩm không những làm tăng uy tín của nước ta trên thị
trường quốc tế mà còn tạo điều kiện để tăng cường nguồn thu nhập ngoại tệ cho
Đất nước.
3. Đặc điểm và các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm.
3.1 Đặc điểm của chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế xã hội công nghệ tổng hợp,
luôn luôn thay đổi theo không gian và thời gian, phụ thuộc chặt chẽ vào môi
trường và điều kiện kinh doanh cụ thể của từng thời kỳ.
Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tính chất, đặc điểm riêng biệt nội
tại của bản thân sản phẩm. Những đặc tính đó phản ánh tính khách quan của sản
phẩm thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm. Những đặc tính
khách quan này phụ thuộc rất lớn vào trình độ thiết kế quy định cho sản phẩm.
7
Nói tới chất lượng là phải xem xét sản phẩm đó thoả mãn tới mức độ nào
nhu cầu của khách hàng. Mức độ thoả mãn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng
thiết kế và những tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra đối với mỗi sản phẩm, ở các nước tư
bản qua phân tích thực tế chất lượng sản phẩm trong nhiều năm người ta đã đi
đến kết luận rằng chất lượng sản phẩm tốt hay xấu thì 75% phụ thuộc vào giải
pháp thiết kế, 20% phụ thuộc vào công tác kiểm tra, kiểm soát và chỉ có 5% phụ
thuộc vào kết quả nghiệm thu cuối cùng.
Chất lượng sản phẩm phải thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong
những điều kiện hoàn cảnh cụ thể về kinh tế – kỹ thuật của mỗi nước, mỗi vùng.
Trong kinh doanh, không thể có chất lượng như nhau cho tất cả các vùng mà căn
cứ vào hoàn cảnh cụ thể đề ra các phương án chất lượng cho phù hợp. Chất
lượng chính là sự phù hợp về mọi mặt với yêu cầu của khách hàng. Nhiều khi
chất lượng sản phẩm còn mang tính dân tộc, tính truyền thống, thị hiếu tiêu
dùng.
Chất lượng sản phẩm biểu hiện ở hai cấp độ và phản ánh hai mặt khách
quan và chủ quan hay còn gọi là hai loại chất lượng:
Thứ nhất, chất lượng trong tuân thủ thiết kế, thể hiện ở mức độ chất lượng
sản phẩm đạt được so với tiêu chuẩn thiết kế đề ra. Khi sản phẩm sản xuất ra có
những đặc tính kỹ thuật càng gần với tiêu chuẩn thiết kế thì chất lượng sản phẩm
càng cao được phản ánh thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ phế phẩm, sản phẩm
hỏng loại bỏ, sản phẩm không đạt yêu cầu thiết kế. Loại chất lượng này phản
ánh những đặc tính, bản chất khách quan của sản phẩm, do đó liên quan chặt chẽ
đến khả năng cạnh tranh về chi phí.
Thứ hai, chất lượng trong sự phù hợp hay còn gọi là chất lượng thiết kế. Nó
phản ánh mức độ phù hợp của sản phẩm đối với nhu cầu của khách hàng. Chất
lượng phụ thuộc vào mức độ phù hợp của sản phẩm thiết kế so với nhu cầu và
mong muốn của khách hàng. Mức độ phù hợp càng cao thì chất lượng càng cao.
Loại chất lượng này phụ thuộc vào mong muốn và sự đánh giá chủ quan của
người tiêu dùng, vì vậy nó tác động mạnh mẽ khả năng tiêu thụ sản phẩm.
8
3.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm.
Khi nói tới chất lượng phải xem xét thông qua các chỉ tiêu đặc trưng mới
khách quan và chính xác được. Mỗi sản phẩm được đặc trưng bởi các tính chất,
đặc điểm là những đặc tính khách quan của sản phẩm thể hiện trong quá trình
hình thành và sử dụng sản phẩm đó. Những đặc tính khách quan này phụ thuộc
rất lớn vào trình độ thiết kế quy định cho sản phẩm đó. Mỗi tính chất được biểu
thị bởi các chỉ tiêu cơ lý hoá nhất định có thể đo lường đánh giá được. Vì vậy
nói đến chất lượng sản phẩm phải đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu
chuẩn cụ thể, Đặc điểm này khẳng định những quan điểm sai lầm cho rằng chất
lượng sản phẩm là cái không thể đo lường, đánh giá được. Hệ thống chỉ tiêu đó
bao gồm:
* Chỉ tiêu nội dung: đặc trưng cho các thuộc tính xác định chức năng chủ
yếu mà sản phẩm phải thực hiện và quy định những việc sử dụng sản phẩm đó,
trong đó chia thành:
- Chỉ tiêu phân loại: Chỉ rõ sản phẩm được xếp vào một nhóm nhất định
nào đó.
- Chỉ tiêu chức năng: Đặc trưng cho hiệu quả sử dụng sản phẩm và tính tiên
tiến của các giải pháp kỹ thuật đưa vào sản phẩm.
- Chỉ tiêu kích thước; kết cấu, thành phần cấu tạo: Đặc trưng cho các giải
pháp thiết kế cơ bản, sự thuận tiện, khả năng tổ hợp hoá.
* Chỉ tiêu độ tin cậy: Đặc trưng cho tính chất của sản phẩm luôn giữ được
khả năng làm việc trong một khoảng thời gian nhất định.
* Chỉ tiêu lao động học: Đặc trưng cho quan hệ giữa người và sản phẩm
bao gồm các chỉ tiêu: vệ sinh, nhân chủng, sinh lý của con người liên quan đến
quá trình sản xuất và sinh hoạt.
* Chỉ tiêu thẩm mỹ: Đặc trưng cho sự truyền cảm, sự hợp lý về hình thức
và sự hài hoà về kết cấu, sự hoàn thiện với sản xuất và độ ổn định của hàng hoá.
Chỉ tiêu công nghệ: Đặc trưng cho quá trình chế tạo, đảm bảo tiết kiệm lớn
nhất các chi phí.
9
* Chỉ tiêu thống nhất hoá: Đặc trưng cho mức độ sử dụng trong sản phẩm,
các bộ phận được tiêu chuẩn hoá, thống nhất hoá và mức độ thống nhất với các
sản phẩm khác.
* Chỉ tiêu dễ vận chuyển: Đặc trưng cho sự thích ứng đối với việc vận
chuyển, đặc trưng cho các công việc chuẩn bị và kết thúc liên quan đến vận
chuyển, cụ thể là chi phí trung bình để vận chuyển một đơn vị sản phẩm.
* Chỉ tiêu an toàn: Đặc trưng cho tính đảm bảo an toàn cho người sản xuất
và sử dụng.
* Chỉ tiêu về phát minh, sáng chế: Đặc trưng cho khả năng giữ bản quyền.
* Chỉ tiêu tuổi thọ: Đặc trưng cho thời gian sử dụng của sản phẩm.
* Chỉ tiêu về chi phí, giá cả: Đặc trưng cho hao phí xã hội cần thiết để tạo
nên sản phẩm.
Các chỉ tiêu này không tồn tại độc lập, tách rời mà có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Vai trò, ý nghĩa của từng chỉ tiêu rất khác nhau đối với mỗi sản phẩm
khác nhau.
Mỗi loại sản phẩm cụ thể sẽ có những chỉ tiêu mang tính trội và quan trọng
hơn những chỉ tiêu khác. Mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn và quyết định những
chỉ tiêu quan trọng nhất làm cho sản phẩm của mình mang sắc thái riêng, phân
biệt với những sản phẩm đồng loại trên thị trường. Hiện nay một sản phẩm được
coi là có chất lượng cao ngoài các chỉ tiêu an toàn đối với người sử dụng và xã
hội, môi trường ngày càng quan trọng, trở thành bắt buộc đối với các doanh
nghiệp. Đặc biệt những là sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đối với sức khoẻ và
cuộc sống của con người.
Ngoài ra, để đánh giá, phân tích tình hình thực hiện chất lượng giữa các bộ
phận, giữa các doanh nghiệp đối với hầu hết các loại sản phẩm ta còn có các chỉ
tiêu so sánh như sau:
+ Tỷ lệ sai hỏng để phân tích tình hình sai hỏng trong
sản xuất.
+ Dùng thước đo để tính, ta có công thức:
10
Tỷ lệ sai hỏng = x 100
+ Dùng thước đo giá trị để tính ta có công thức:
Tỷ lệ sai hỏng = x 100
Trong quản lý chất lượng sản phẩm người ta chủ yếu tính độ lệch chuẩn và
tỷ lệ so đạt chất lượng sản phẩm:
Độ lệch chuẩn:
Xi : giá trị số mẫu
: giá trị trung bình
n : số mẫu lấy ra
Tỷ lệ sản phẩm = x 100
+ Tỷ lệ đạt chất lượng nói chung được tính theo công thức
Tỷ lệ đạt chất lượng = x 100
Để sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó, doanh nghiệp phải xây dựng
tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, phải đăng ký và được các cơ quan quản lý chất
lượng sản phẩm Nhà nước ký duyệt. Tuỳ theo từng loại sản phẩm, từng điều
kiện của doanh nghiệp mà xây dựng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm . Chất
lượng sản phẩm của doanh nghiệp phải đạt mức chất lượng đã đăng ký, đó là cơ
sở kiểm tra, đánh giá, sản phẩm sản xuất.
II. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM:
Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau. Có thể
chia thành hai nhóm chủ yếu:
1. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp.
* Lực lượng lao động trong doanh nghiệp:
Đây là nhân tố có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng. Dù trình độ công
nghệ hiện đại tới đâu nhân tố con người vẫn được coi là nhân tố căn bản nhất tác
động đến chất lượng, các hoạt động chất lượng sản phẩm và các hoạt động dịch
vụ. Trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm, tính kỷ
luật, tinh thần hiệp tác phối hợp, khả năng thích ứng với sự thay đổi nắm bắt
thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp tác động trực tiếp đến chất
lượng sản phẩm. Quan tâm đầu tư phát triển và không ngừng nâng cao nguồn
11
nhân lực là nhiệm vụ quan trọng trong quản lý chất lượng của các doanh nghiệp.
Đó cũng là con đường quan trọng nhất nâng các khả năng cạnh tranh về chất
lượng của mỗi quốc gia.
* Khả năng về công nghệ, máy móc, thiết bị của doanh nghiệp.
Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ
bản có tác động mạnh mẽ nhất đến chất lượng sản phẩm. Mức độ chất lượng sản
phẩm trong mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiện đại, cơ cấu
tính đồng bộ, tình hình bảo dưỡng, duy trì khả năng làm việc theo thời gian của
máy móc thiết bị, công nghệ, đặc biệt là những doanh nghiệp tự động hoá cao,
dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt. Trình độ công nghệ của các doanh
nghiệp không thể tách rời trình độ công nghệ trên Thế giới. Muốn sản phẩm có
chất lượng cao, đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường
quốc tế mỗi doanh nghiệp cần có chính sách công nghệ phù hợp cho phép sử
dụng những thành tựu khoa học công nghệ của Thế giới, đồng thời khai thác tối
đa nguồn công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao với chi phí hợp lý.
* Vật tư nguyên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo nguyên vật liệu của
doanh nghiệp.
Nguyên vật liệu là một yếu tố tham gia trực tiếp vào việc cấu thành nên sản
phẩm. Những đặc tính của nguyên liệu sẽ được đưa vào sản phẩm, vì vậy chất
lượng nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra.
Không thể có chất lượng cao từ nguyên liệu có chất lượng tồi. Chủng loại, cơ
cấu, tính đồng bộ và chất lượng nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
sản phẩm. Ngoài ra chất lượng hoạt động của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất
lớn vào việc thiết lập được hệ thống cung ứng nguyên liệu thích ứng tạo trên cơ
sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài, tạo hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau giữa người
sản xuất và người cung ứng đảm bảo khả năng tổ chức cung ứng đầy đủ kịp
thời, chính xác đúng nơi cần thiết.
* Trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
Trình độ quản trị nói chung và trình độ quản trị chất lượng nói riêng là một
trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy nhanh tốc độ cải tiến hoàn thiện chất
12
lượng sản phẩm của các doanh nghiệp, các chuyên gia quản trị chất lượng đồng
tình cho rằng trong thực tế có tới 80 % những vấn đề về chất lượng là do quản
trị gây ra. Vì vậy nói đến quản trị chất lượng ngày nay người ta cho rằng trước
hết đó là chất lượng của quản trị.
Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, dây chuyền sản
xuất và người lao động dù ở trình độ cao nhưng nếu không biết tổ chức quản lý
hợp lý tạo ra sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu, các yếu tố của quá
trình sản xuất thì không thể tạo ra được sản phẩm có chất lượng cao được. Thậm
chí trình độ quản lý tồi còn làm giảm sút chất lượng sản phẩm, gây lãng phí
nguồn lực sản xuất dẫn đến giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu và cơ chế quản trị, nhận
thức, hiểu biết về chất lượng và trình độ chất lượng của cán bộ quản trị, Khả
năng xác định chính xác mục tiêu, chính sách chất lượng và chỉ đạo tổ chức thực
hiện chương trình, thực hiện kế hoạch chất lượng.
Chất lượng là vấn đề hết sức quan trọng do đó không thể phó mặc cho các
nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp phải coi chất lượng
là vấn đề thuộc trách nhiệm của toàn bộ doanh nghiệp.
2. Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
* Nhu cầu thị trường.
Nhu cầu là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng tạo lực hút,
định hướng cho cải tiến và hoàn thiện chất lượng sản phẩm. Cơ cấu, tính chất,
đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu tác động trực tiếp tới chất lượng
sản phẩm. Chất lượng sản phẩm có thể được đánh giá cao ở thị trường này
nhưng lại không cao ở thị trường khác. Điều đó đòi hỏi phải tiến hành nghiêm
túc, thận trọng trong công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích
môi trường kinh tế – xã hội, xác định chính xác nhận thức của khách hàng, thói
quen, truyền thống, phong tục, tập quán, văn hoá, mục đích sử dụng và khả năng
thanh toán... nhằm đưa ra những sản phẩm phù hợp với từng loại thị trường.
Thông thường khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu
cầu của người tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm đến chất lượng sản
13
phẩm cao. Nhưng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lượng sản
phẩm sẽ tâng cao, ngoài tính năng sử dụng còn cả giá trị thẩm mỹ... Người ta
chấp nhận mua với giá cao để có sản phẩm ưng ý.
Chính vì vậy, các nhà sản xuất phải sản xuất những sản phẩm có chất lượng
đáp ứng được nhu cầu thị trường. Lúc đó việc nâng cao chất lượng sản phẩm
mới đi đúng hướng.
* Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ.
Trong thời đại ngày nay không có sự tiến bộ kinh tế xã hội nào không gắn
liền với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới. Bắt đầu từ cuộc cách mạng
khoa học công nghệ lần thứ nhất, chủng loại, chất lượng sản phẩm không ngừng
thay đổi với tốc độ hết sức nhanh. Tiến bộ của khoa học công nghệ có tác dụng
như lực đẩy tạo khả năng to lớn đưa chất lượng sản phẩm không ngừng tăng lên.
Nhờ khả năng to lớn của tiến bộ khoa học công nghệ sáng chế những sản phẩm
mới, tạo ra và đưa vào sản xuất những công nghệ mới có các chỉ tiêu kinh tế kỹ
thuật cao hơn, thay thế nguyên vật liệu mới, tốt, rẻ hơn, hình thành phương pháp
và phương tiện kỹ thuật quản trị tiên tiến góp phần giảm chi phí nâng cao chất
lượng sản phẩm.
* Cơ chế quản lý chính sách của Nhà nước.
Khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp
phụ thuộc chặt chẽ vào cơ chế quản lý của Nhà nước. Cơ chế quản lý vừa là môi
trường vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và
nâng cao chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp. Thông qua cơ chế và các
chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi kích thích:
+ Tính độc lập, tự chủ sáng tạo trong cải tiến chất lượng của các doanh
nghiệp.
+ Hình thành môi trường thuận lợi cho huy động công nghệ mới, tiếp thu
ứng dụng những phương pháp quản trị chất lượng hiện đại.
+ Sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng, xoá bỏ sức ỳ, tâm lý ỷ lại, không
ngừng phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật hoàn thiện chất lượng.
* Điều kiện tự nhiên.
14
+ Khí hậu: Các doanh nghiệp cần quan tâm đến khí hậu, phân tích mức độ
ảnh hưởng khí hậu từng mùa đến từng loại sản phẩm của mình.
+ Bức xạ mặt trời: ảnh hưởng của các tia hồng ngoại trong ánh sáng của
mặt trời, những tia này có thể làm thay đổi về mùi vị màu sắc của sản phẩm.
+ Mưa, gió, bão: Làm cho sản phẩm bị ngấm nước, độ ẩm cao, quá trình ô
xy hoá mạnh hơn dẫn đến biến đổi chất lượng sản phẩm.
+ Vi sinh vật, côn trùng: Chủ yếu tác động vào một số loại sản phẩm tạo ra
quá trình lên men, phân huỷ làm cho sản phẩm nát rữa ố màu...
* Nhân tố kinh tế xã hội.
+ Các yếu tố kinh tế: Sự tác động của các qui luật kinh tế trong nền kinh tế
thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh.
+ Mức thu nhập của người tiêu dùng cao thì đòi hỏi sản phẩm có chất
lượng cao, nó đặc trưng cho những tiêu dùng ở khu vực đô thị và ngược lại.
+ Trình độ văn minh của người tiêu dùng cũng như thị hiếu của người tiêu
dùng. Ngày nay người tiêu dùng ưa thích những sản phẩm có chất lượng cao,
thuận tiện và dễ sử dụng.
III. CÁC NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG.
1. Khái niệm, bản chất và đặc điểm của quản trị chất lượng.
1.1. Khái niệm quản trị chất lượng.
Cũng giống như khái niệm về chất lượng sản phẩm, hiện nay có rất nhiều
định nghĩa khác nhau về quản trị chất lượng. Tuy nhiên những định nghĩa này có
nhiều điểm tương đồng và phản ánh được bản chất của quản trị chất lượng.
Khoa học quản trị chất lượng được phát triển và hoàn thiện liên tục thể hiện
ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lượng. Vào
những năm đầu của thế kỷ XX, chưa có khái niệm về quản trị chất lượng mà chỉ
có khái niệm kiểm tra chất lượng: Là việc ứng dụng các phương thức, các thủ
tục, các kiến thức đảm bảo để cho phép sản phẩm đang hoặc sẽ sản xuất phù hợp
với các yêu cầu trong các hợp đồng kinh tế bằng con đường hiệu quả nhất, kinh
tế nhất với sự tham gia của các chuyên gia.
15
Toàn bộ hoạt động quản trị doanh nghiệp bó hẹp trong lĩnh vực kiểm tra,
kiểm soát sản phẩm trong quá trình sản xuất ở các phân xưởng. Sự phát triển của
thị trường cùng với việc sản xuất ngày càng nhiều hàng hoá, tính chất cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp tăng lên rất nhanh. Sau những năm 1950, cung bắt đầu
lớn hơn cầu trên thị trường, các doanh nghiệp phải quan tâm tới chất lượng sản
phẩm nhiều hơn, khái niệm quản trị chất lượng bắt đầu xuất hiện. Phạm vi và
chức năng quản trị chất lượng được mở rộng hơn.
Theo quan điểm phương tây cho rằng: Quản lý chất lượng là một hệ thống
hoạt động có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong những tổ chức trên
một đơn vị kinh tế chịu trách nhiệm triển khai các thông số chất lượng, duy trì
chất lượng đã đạt được và nâng cao mức chất lượng thoả mãn hoàn toàn nhu cầu
của người tiêu dùng.
Theo quan điểm của người Nhật: Quản lý chất lượng là hệ thống các biện
pháp công nghệ sản xuất tạo điều kiện sản xuất kinh tế nhất những sản phẩm
hoặc dịch vụ có chất lượng thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng với chi phí
thấp nhất.
Vào những năm của thập kỷ 70, sự cạnh tranh tăng lên đột ngột đã buộc
các doanh nghiệp phải nhìn nhận lại và thay đổi quan niệm về quản trị chất
lượng. Để thoả mãn khách hàng các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở khâu sản
xuất mà phải quan tâm đến chất lượng ngay cả sau khi đã bán sản phẩm ra thị
trường. Quản trị chất lượng đã mở rộng tới tất cả các lĩnh vực từ sản xuất đến
tiêu dùng trong toàn bộ đời sống của sản phẩm. Những thay đổi trong cách nhìn
và phương pháp quản trị chất lượng trong hàng loạt các doanh nghiệp lớn trên
thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, Nhật và các nước Châu Âu phát triển đã tạo ra một
cuộc cách mạng về chất lượng sản phẩm trên thế giới. Người ta đã biết đến quản
trị chất lượng theo phương pháp hiện đại dưới những cái tên quen thuộc phổ
biến rộng rãi ở Nhật và phương tây như quản trị chất lượng đồng bộ (TQM).
Theo quan điểm của phương tây: TQM là một hệ thống có hiệu quả thống
nhất hoạt động của các bộ phận khác nhau, chịu trách nhiệm triển khai, duy trì
mức chất lượng đạt được, nâng cao mức chất lượng để sử dụng và sản xuất sản
16
phẩm ở mức kinh tế thoả mãn hoàn toàn nhu cầu của người tiêu dùng với vai trò
kiểm tra quan trọng của các chuyên gia.
Theo quan điểm của Nhật: TQM là một hoạt động tập thể đòi hỏi sức lực
của các nhóm công nhân, các cá nhân với sự tham gia của các hãng, các công ty
và việc quản lý mang tính chất toàn diện. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò của
các cá nhân, cho rằng các cá nhân có vai trò quyết định đến từng khâu của quản
lý chất lượng sản phẩm.
Đặc điểm lớn nhất của TQM là một thay đổi triết lý trong quản trị kinh
doanh. Chất lượng là số một chứ không phải là lợi nhuận nhất thời. Khẩu hiệu
“chất lượng là số 1” có khía cạnh đạo đức của nó là đi cùng với tổ chức kinh
doanh có trách nhiệm, đạo đức với xã hội. Tuy nhiên đây không phải là mục tiêu
trực tiếp của TQM mà là cách tiếp cận quản lý dựa trên việc đặt chất lượng là số
một. TQM là một phương pháp đảm bảo tính lợi nhuận bền vững trong thời gian
dài hạn. Vì vậy TQM dành ưu tiên cho những đòi hỏi của khách hàng bằng đề
xuất những sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn cùng với nó là việc giảm chi
phí nhưng cố gắng giảm chi phí sau khi yêu cầu về chất lượng đã đạt.
Ngoài ra còn có các phương pháp: quản trị chất lượng rộng rãi toàn Nhà
máy (CWQM), quản trị chiến lược chất lượng (SQM). Đó là những phương
pháp tiếp cận có hệ thống nhằm thiết lập và thực hiện những mục tiêu về chất
lượng trong toàn Nhà máy.
Quan niệm chung nhất, khá toàn diện và được chấp nhận rộng rãi hiện nay
do tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (ISO) đưa ra như sau: “quản trị chất
lượng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản trị chung nhằm xác
định chính sách chất lượng mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng
những phương tiện như lập kế hoạch, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng
và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng ”.
1.2. Bản chất và đặc điểm của quản trị chất lượng.
Có thể hiểu quản trị chất lượng là việc ấn định mục tiêu, đề ra nhiệm vụ và
tìm con đường đạt tới mục tiêu một cách hiệu quả nhất. Mục tiêu của quản trị
chất lượng trong các doanh nghiệp là đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp nhu
17
cầu của khách hàng với chi phí tối ưu. Đó chính là sự kết hợp giữa nâng cao
những đặc tính kinh tế – kỹ thuật hữu ích của sản phẩm đồng thời với giảm lãng
phí và khai thác mọi tiềm năng để mở rộng thị trường. Thực hiện tốt công tác
quản trị chất lượng sẽ giúp doanh nghiệp phản ứng với nhu cầu thị trường, mặt
khác góp phần giảm chi phí trong hoạt độnh sản xuất kinh doanh.
Quản trị chất lượng phải được thực hiện thông qua một cơ chế nhất định
bao gồm hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn đặc trưng về kinh tế - kỹ thuật biểu thị
mức độ thoả mãn nhu cầu thị trường một hệ thống tổ chức điều khiển và hệ
thống chính sách khuyến khích phát triển chất lượng. Chất lượng được duy trì,
đánh giá thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê trong quản trị chất
lượng.
Thực chất quản trị chất lượng là một tập hợp các hoạt động của các chức
năng quản trị như hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh. Nói cách khác
quản trị chất lượng chính là chất lượng của quản trị. Đó là việc hoạt động tổng
hợp về kinh tế, kỹ thuật, xã hội và tổ chức. Chỉ khi nào toàn bộ các yếu tố về
kinh tế, xã hội công nghệ và tổ chức xem xét đầy đủ trong mối quan hệ thống
nhất ràng buộc với nhau trong hệ thống chất lượng mới có cơ sở để nói rằng chất
lượng sản phẩm sẽ được đảm bảo.
Trước đây, trong doanh nghiệp công nghiệp người ta thường coi công tác
quản lý chất lượng sản phẩm là một chức năng riêng của phòng KCS, các cán bộ
nhân viên của phòng này thường xuyên giám sát, thanh tra, kiểm tra, đo lường
chất lượng sản phẩm. Từ đó phân loại chất lượng, gạt bỏ những sản phẩm không
phù hợp với yêu cầu. Đó là một quan niệm gây lãng phí vì nó làm cho doanh
nghiệp đầu tư thời gian và vật liệu vào những sản phẩm hoặc dịch vụ mà không
phải bao giờ cũng đảm bảo được. Việc thanh tra sau khi sản xuất xong là một
điều tốn kém, không đáng tin cậy và phi kinh tế.
Quản trị chất lượng hiện đại cho rằng vấn đề chất lượng sản phẩm được đặt
ra và giải quyết trong phạm vi toàn bộ hệ thống bao gồm tất cả các khâu, các
quá trình từ nghiên cứu thiết kế đến chế tạo phân phối và tiêu dùng sản phẩm.
18
Quản trị chất lượng là một quá trình liên tục mang tính hệ thống thể hiện sự gắn
bó chặt chẽ giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài.
Nhiệm vụ của quản trị chất lượng là xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng
trong doanh nghiệp. Trong đó:
+ Nhiệm vụ đầu tiên là xác định cho được các yêu cầu chất lượng phải đạt
tới ở từng giai đoạn nhất định. Tức là phải xác định được sự thống nhất giữa
thoả mãn nhu cầu thị trường với những điều kiện môi trường kinh doanh cụ thể
với chi phí tối ưu.
+ Nhiệm vụ thứ hai là duy trì chất lượng sản phẩm: bao gồm toàn bộ những
biện pháp, phương pháp nhằm đảm bảo những tiêu chuẩn đã được quy định
trong hệ thống (theo thiết kế, theo các tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành và
tiêu chuẩn của chính bản thân doanh nghiệp...)
Nhiệm vụ thứ ba là cải tiến chất lượng: Nhiệm vụ này bao gồm quá trình
tìm kiếm, phát hiện đưa ra tiêu chuẩn mới cao hơn hoặc đáp ứng tốt hơn những
đòi hỏi của khách hàng trên cơ sở đánh giá liên tục cải tiến những quy định, tiêu
chuẩn cũ, hoàn thiện lại tiêu chuẩn hoá tiếp, chất lượng sản phẩm của doanh
nghiệp sẽ không ngừng hoàn thiện.
Quản trị chất lượng phải được thực hiện ở mọi khâu, mọi cấp, mọi quá
trình. Nó vừa có ý nghĩa chiến lược vừa mang tính tác nghiệp. ở cấp cao nhất
của doanh nghiệp luôn thực hiện quản trị chiến lược chất lượng. Cấp phân
xưởng và các bộ phận thực hiện quản trị tác nghiệp chất lượng và ở từng nơi làm
việc cuả mỗi người lao động thực hiện quá trình tự quản trị chất lượng. Tất cả
các bộ phận, các cấp đều có trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn và lợi ích trong
quản trị chất lượng của doanh nghiệp.
2. Nội dung của công tác quản trị chất lượng.
Quản trị chất lượng sản phẩm là một hoạt động sâu rộng bao trùm từ khâu
đầu đến khâu cuối thông qua công tác kiểm tra.
2.1. Quản trị chất lượng trong khâu thiết kế.
Đây là phân hệ đầu tiên trong quản trị chất lượng. Những thông số kinh tế
kỹ thuật thiết kế đã được phê chuẩn là tiêu chuẩn chất lượng quan trọng mà sản
19
phẩm sản xuất ra phải tuân thủ. Chất lượng thiết kế sẽ tác động trực tiếp tới chất
lượng của mỗi sản phẩm. Để thực hiện mục tiêu đó những nhiệm vụ quan trọng
cần thực hiện như sau:
- Tập hợp, tổ chức phối hợp giữa các nhà thiết kế, các nhà quản trị
marketing, tài chính, tác nghiệp, cung ứng để thiết kế sản phẩm. Chuyển hoá
những đặc điểm nhu cầu của khách hàng thành đặc điểm sản phẩm. Thiết kế là
quá trình nhằm đảm bảo thực hiện những đặc điểm của sản phẩm đã xác định để
thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Kết quả của thiết kế là các quá trình, đặc
điểm sản phẩm, các bản đồ thiết kế và lợi ích của sản phẩm đó.
- Đưa ra các phương án khác nhau về đặc điểm sản phẩm có thể đáp ứng
các nhu cầu khách hàng. Đặc điểm của sản phẩm có thể lấy từ sản phẩm cũ hay
cải tiến những đặc điểm cũ cho phù hợp với đòi hỏi mới hay từ nghiên cứu thiết
kế ra những sản phẩm hoàn toàn mới.
- Thử nghiệm và kiểm tra các phương án nhằm chọn ra phương án tối ưu.
- Quyết định những đặc điểm sản phẩm đã lựa chọn. Các đặc điểm của sản
phẩm thiết kế phải đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
+ Thích hợp với khả năng.
+ Đảm bảo tính cạnh tranh.
+ Tối thiểu hoá chi phí.
- Phân tích về kinh tế: Là quá trình đánh giá mối quan hệ giữa lợi ích mà
các đặc điểm của sản phẩm đưa ra với chi phí cần thiết để tạo ra chúng. Phân
chia từng chức năng thành các đặc điểm cụ thể và ước tính chi phí cho từng đặc
điểm đó, ở đây phương pháp đồ thị thường được áp dụng rộng rãi nhất.
- Những chỉ tiêu cần kiểm tra là:
+ Trình độ chất lượng sản phẩm.
+ Chỉ tiêu tổng hợp về tài liệu thiết kế, công nghệ và chất lượng chế
thử.
+ Hệ số khuyết tật của sản phẩm chế thử, chất lượng cho sản xuất
hàng loạt.
20