Một số cơ hội thách thức mà ngành dệt may gặp phải và các giải pháp cơ bản để thúc đẩy quá trình hội nhập của ngành dệt may việt nam sang thị trường mỹ

  • 13 trang
  • file .docx
MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình tất yếu đối với các nước lạc
hậu muốn trở thành các nước có nền sản xuất lớn. Sự cất cánh của bốn con rồng
Châu á đều có quá trình tích lũy thông qua ngành dệt may và xuất khẩu dệt may.
Đối với Việt Nam, ngành công nghiệp dệt may có vị trí to lớn trong tiến trình
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mười năm qua, ngành dệt may đã có
bước phát triển mạnh mẽ trở thành ngành xuất khẩu đứng thứ hai sau dầu thô,
song vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng gia công. Làm gì để ngành dệt may Việt
Nam có thể cất cánh? Đó là một câu hỏi không chỉ riêng ngành dệt may mà cả
chính phủ phải quan tâm.
Để đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam, vấn đề đặt
ra cho toàn ngành cần thiết phải nghiên cứu tiếp cận và thâm nhập thị trường
tiềm năng, mở rộng các thị trường hiên có. Đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam sang Hoa Kì, Việt Nam không chỉ đạt được sự tăng trưởng ổn định về
ngoại thương mà còn phải thực hiện chiến lược đa dạng hoá thị trường xuất
khẩu. Vì vậy trong bài viết này em xin trình bày: "Một số cơ hội thách thức
mà ngành dệt may gặp phải và các giải pháp cơ bản để thúc đẩy quá trình
hội nhập của ngành dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ".
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.
Ngành sản xuất sản phẩm dệt may nước ta đã có truyền thống lâu đời,
nhưng ngành vẫn chỉ dừng ở trình độ sản xuất thủ công nghiệp và phổ biến là
“làng nghề”. Quá trình chuyển hóa từ sản xuất thủ công lên sản xuất công nghiệp
mới chỉ đựoc ghi nhận khoảng 1 thế kỉ với tác nhân là sự chuyển giao công nghệ
từ Châu Âu. Sự phát triển chính thức của ngành công nghiệp dệt may bắt đầu
khi khu công nghiệp Đông Nam á được thành lập năm 1889. Sau chiến tranh thế
giới thứ hai, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam mới thực sự phát triển cả về
quy mô và tốc độ, nhưng chủ yếu thuộc khu vực kinh tế quốc doanh.
Từ năm 1975 cho đến năm 1991 ngành công nghiệp dệt may cả nước vẫn
chủ yếu dựa vào thiết bị cũ được chuyển giao từ Trung Quốc, Liên Xô và các
nước Đông Âu. Sản phẩm đều nhằm phục vụ nhu cầu nội địa là chính.
Từ năm 1991 đến nay công cuộc đổi mới nền kinh tế nước ta đã mở ra
thời kì phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp dệt
may. Sự phát triển của ngành công nghiệp này được ghi nhận trên nhiều phương
diện, trước hết là sự đổi mới về thiết bị và công nghệ, tiếp đến là sự phát triển về
quy mô của các doanh nghiệp nhà nước và sự tham gia nhanh chóng của khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế tư nhân, cuối cùng là sự thâm
nhập và phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm dệt may.
Mặc dù phát triển chậm hơn so với các nứoc láng giềng Châu á, ngành dệt
may Việt Nam đã phát triển một cách đầy ấn tượng trong những năm gần đây về
công suất cũng như kim ngạch xuất khẩu. Ngành đã có thể tự khẳng định mình là
một lĩnh vực quan trọng trong quá trình phát triển công nghiệp của đất nước.
Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc tăng từ 90 triệu USD năm 1990 lên 1,35 tỉ
USD năm 1997 và tạo ra khoảng 20 % tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Dệt
may được coi là một trong các ngành có lợi thế nhất của Việt Nam bởi nó sử
dụng nhiều lao động, mang về nhiều ngoại tệ cho đất nước, chỉ đứng thứ hai sau
dầu khí. Năm 2001 giá trị xuất khẩu của ngành đã đạt được 2,1 tỉ USD, tao công
ăn việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động. Đến năm 2002 kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may đạt được 2,7 tỷ USD, tăng 37% so với 2001. Mục tiêu đến năm
2005 kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may phải đạt 4-5 tỷ USD và đến năm 2010
sẽ là 8-10 tỷ USD, thu hút 2,5 đến 3 triệu lao động. Những thành tựu trên đã đạt
được chính trong bối cảnh ngành phải gia nhập vào một thị trường rất nhiều đối
thủ cạnh tranh gay gắt. Phát triển tốt ngành dệt may đồng nghĩa vơí việc hội
nhập vào khu vực và thế giới một cách hiệu quả hơn bởi chính những đặc điểm
toàn cầu của nó.
Dệt may là sản phẩm đa dạng, nhiều chủng lọai và nhu cầu liên tục tăng
lên cùng với xu thế tăng trưởng kinh tế. Mức sống càng cao đòi hỏi phải ăn mặc
càng đẹp, hơn thế nữa sản phẩm lai gọn nhẹ. Mỗi quốc gia đều có những phong
tục tâp quán khác nhau nên thị hiếu về cách ăn mặc cũng khác nhau. Vì vậy
nghiên cứu tìm hiểu kĩ đặc điểm này giúp cho mặt hàng xuất khẩu của ta ngày
càng phong phú, đa dạng hơn.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM
VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KÌ.
1.Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ.
Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ được kí kết ngày 13/7/2000 đã chính thức
có hiệu lực mở ra nhiều cơ hội cho quan hệ thương mại song phương,trong đó
mở ra nhiều cơ hội cho việc xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị
trường Mỹ. Mỹ là một thị trường khổng lồ với dân số trên 270 triệu, GDP hơn
10.000 tỷ USD mỗi năm, trong đó 80% được dành cho tiêu dùng. Mỹ là một nền
kinh tế có sức mua lớn nhất thế giới. Hàng năm, Mỹ nhập khẩu hơn 1000 tỷ
USD, chiếm khoảng 1/5 tổng kim ngạch nhập khẩu toàn thế giới. Mặt khác, Mỹ
không những là một thị trường khổng lồ mà còn có sức chi phối và ảnh hưởng
rất lớn đến thị trường thế giới cũng như các tổ chức thương mại và tài chính
quốc tế.
Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công tương đối rẻ, có nhiều
ngành nghề truyền thống trong đó có ngành dệt may, nên có khả năng và lợi thế
trong sản xuất ngành hàng này. Đây là mặt hàng mà thị trường Mỹ có nhu cầu rất
lớn và họ đã mất lợi thế so sánh trong mặt hàng này.
Kể từ khi lệnh cấm vận được bãi bỏ, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang Mỹ liên tục tăng nhanh. Nếu năm 1994, kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của
Việt Nam sang Mỹ là 50,4 triệu USD thì năm 2001 là 1.065,3 triệu USD, tăng
gấp 11 lần so với năm 1994, làm cho tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ tăng
lên7,26% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Đến năm 2003, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu hàng may mặ lớn
thứ 7 trên thị trường Mỹ với tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,48 tỷ USD tăng 161%
về giá trị và 131% về sản lượng so với năm 2002. Theo số liệu thống kê Nhập
khẩu từ cơ quan Hải quan Mỹ, thứ tự các quốc gia xuất khẩu hàng may mặc vào
Mỹ : đứng đầu là Trung Quốc với KNXK 11,6 tỷ USD chiếm 15% thị phần, tiếp
đó là Mexico, Pakistan, Ân Độ, Campuchia, Brazil, Việt Nam.
Hiện nay, Mỹ nhập khẩu hàng dệt may chủ yếu là từ Đài Loan, Hồng
Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc. Những nước này chiếm 1/2 khối lượng hàng dệt
may nhập khẩu vào Mỹ. Hiện nay Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ đã có hiệu
lực, mức thuế suất hàng may mặc giảm từ 51,1% xuống còn 10,3%. Nếu tới đây
Việt Nam được hưởng mức thuế suất này thì chắc chắn kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may sang Mỹ sẽ gia tăng mạnh mẽ.
2.Những cơ hội của ngành dệt may khi thâm nhập vào thị trường Mỹ.
Theo các chuyên gia kinh tế, ngành dệt may Việt Nam đang đứng trước
những thời cơ hết sức thuận lợi. Thời cơ đầu tiên phải kể đến là chính phủ đã phê
duyệt chiến lược phát triển ngành dệt may đến năm 2010 và ban hành một số cơ
chế chính sách hỗ trợ ngành dệt may tăng tốc và xuất khẩu. Thời cơ thứ hai là
sau sự kiện 11/9/2001 thế giưới đánh giá Việt Nam là một nước ổn định và đây
là điều kiện để thu hút các nhà đầu tư Mỹ vào Việt Nam. Các tập đoàn lớn của
Mỹ như JC Penny, Nike đã chính thức quan hệ với các doanh nghiệp may Niệt
Nam may quần áo thể thao xuất khẩu sang Mỹ. Thời cơ thứ ba là hiệp định
thương mại Việt – Mỹ đã được kí kết như vậy thị trường được mở rộng. Chính
những thời cơ thuận lợi này đã mở ra nhiều cơ hội cho ngành dệt may Việt Nam
phát triển.
Cơ hội đầu tiên là xu hướng chuyển dịch vốn và công nghệ thế giới diễn
ra mạnh mẽ. Xu hướng này chuyển dịch từ những nước không có lợi thé so sánh
sang các nước có lợi thế so sánh, trong đó có Việt Nam. Ngành may mặc cũng
nằm trong xu thế này, chuyển sản xuất từ các nước phát triển và đang phát triển
ở trình độ cao sang các nước đang phát triển ở trình độ thấp. Một lí do cơ bản dễ
nhận thấy là giá lao động ngày càng cao làm tăng chi phí giá thành, ảnh hưởng
đến sức cạnh tranh của ngành. Vì vậy, các nước phát triển và đang phát triển ở
trình độ cao muốn tập trung vào những ngành có công nghệ tiên tiến, mang lại
hiệu quả cao hoặc đầu tư sang các nước có trình độ thấp (có lợi thế về lao động)
để thu được nhiều lợi nhuân hơn. Nhiều nước từ xuất khẩu hàng may mặc đã trở
thành nước nhập khẩu về may mặc như Singapore, Braxin, Achentina…Điều này
đã trở thành cơ hội cho các nước xuất khẩu hàng may mặc như nước ta.
Cơ hội thứ hai là xu hướng chuyển đơn đặt hàng nhập khẩu của các doanh
nghiệp từ các bạn hàng truyền thống là các quốc gia có nền an ninh không ổn
định như Pakistan, Thổ Nhĩ Kì, Indonexia,… sang Trung Quốc, Thái Lan, Việt
Nam. Tuy nhiên để biến cơ hội này thành hiện thực thì vấn đề đặt ra là các doanh
nghiệp Việt Nam phải nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng, mẫu mã, giá
cả, dịch vụ bán hàng và sau bán hàng…với các đối thủ cạnh tranh chính như
Trung Quốc, Thái Lan.
Cơ hội tiếp theo khi tham gia hội nhập là mở rộng thị trường. Mở rộng
quan hệ thương mại có nghĩa là ngoài việc mở rộng các thi trường truyền thống:
Nhật Bản, EU.. còn tạo điều kiện cho ngành dệt may nước ta thâm nhập vào các
thị trường mới đầy tiềm năng như: Nam Mỹ, Châu Phi..
Ngành dệt may Việt Nam đã có một số thuận lợi từ trước khi hiệp định
thương mại Việt – Mỹ có hiệu lực, trong hoàn cảnh mới ngành dệt may lại có
thêm những thuận lợi mới.Từ trước đến nay hàng dệt may Việt Nam có giá cả
thấp, nay lại được hưởng thuế suất ưu đãi từ phái Mỹ sau khi hiệp định Việt –
Mỹ có hiệu lực. Đây là một thuận lợi lớn vì tại thị trường Mỹ này, người dân có
thói quen mua bất cứ thứ gì được bán giảm giá và hiếm khi mua hàng chưa được
chiết khấu. Trong thực tế, giá hàng may mặc ở Mỹ đã giảm tới 60% trong thập kỉ
qua. Điều này bắt buộc các doanh nghiệp Mỹ phải tìm kiếm nguồn cung cấp
mới, chi phí thấp hơn nhưng chất lượng vẫn được duy trì. Việt Nam với lợi thế
giá cả hàng may mặc rẻ và thuế quan đối với hàng dệt may xuất khẩu giảm từ
40% xuống còn 20% theo hiệp định thương mại Việt Mỹ, đã trở thành một sự
lựa chọn.
Lợi thế của ngành dệt may nước ta, đặc biệt là ngành may xuất khẩu đang
có những lợi thế cần phải nhanh chóng tận dụng thời cơ đó để khai thác. So với
các nước Asian, Việt Nam có đội ngũ lao động trình đội van hóa khá có khả
năng tiếp thu nhanh khoa học kĩ thuật, công nghệ hiện đại. Hơn nưa ,giá công lao
động Việt Nam rẻ nhất khu vực Châu á từ 0,16-0,35 USD/ giờ so với 0,32 USD/
giờ của Indonexia, 0.37 USD/ giờ của Pakistan, 0,58 USD/ giờ của Ân Độ, 0,70
USD/ giờ của Trung Quốc, 1,13 USD/giờ của Malaysia, 1,18 USD/ giờ của Thái
Lan, 3,16 USD/ giờ của Singapore.
3. Những khó khăn và thách thức của ngành dệt may may Việt Nam khi
thâm nhập vào thị trường Mỹ.
Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế quốc tế, cơ hội luôn đi liền với thách
thức và khó khăn. Do trình độ phát triển còn kém hiệu quả và khả nămg cạnh
tranhcòn chưa cao, tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới là phải đương đầu với
cạnh tranh gay gắt của những đối thủ mạnh hơn ta nhiều trong cả thị trường nội
địa và thế giới. Đó là những khó khăn lớn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam.
Hiện nay, sản xuất nguyên liệu ở Việt Nam mới chỉ dáp ứng được 10%
nhu cầu bông và sợi, sản xuất phụ liệu trong nước còn rất yếu, giá thành lại cao,
các doanh nghiệp chủ yếu phải nhập nguyên liệu nên không chủ động được trong
tổ chức sản xuất. Do vậy khi thực hiện các hợp đồng lớn các doanh nghiệp Việt
Nam gặp rất nhiều khó khăn.
Một trở ngại khác là lượng công nhân dệt may đang thiếu, năng suất lao
động của công nhân thấp. Lượng công nhân lành nghề không đủ, các doanh
nghiệp dệt may hầu hết tuyển người qua các trung tâm môi giới việc làm.
Hơn nữa công tác thiết kế mẫu mốt còn yếu, chưa được chú trọng, mặc dù
nước ta có một đội ngũ các nhà thiết kế mẫu trẻ, giàu năng lực, thế nhưng mâu
mã thiết kế chưa thực sự đi vào đời sống, chủ yếu còn nặng về trình diễn, còn
thời trang hàng ngày phần lớn lại sưu tập từ các catalogue nước ngoài, khâu thiết
kế còn ngèo nàn, chưa xây dựng được thương hiệu mang nét đặc trưng và đạt
tầm cỡ quốc tế. Đó cũng là một trong các nguyên nhân khiến hàng dêt may Việt
Nam dù có ưư thế nhưng vẫn chưa thể tự chủ để phát triển và hội nhập với
thương trường quốc tế.
Việt Nam tham gia hôi nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện các cơ chế
của một nền kinh tế thị trường đang trong quá trình hình thành ở nước ta. Hệ
thống lụât pháp của nước ta đang trong quá trình hoàn thiện. Nhiều chính sách
liên quan đến mở cửa thị trường và điều tiết quan hệ kinh tế đối ngoại còn thiếu
hoặc chưa phù hợp với quy định và thông luật quốc tế. Mặt khác, Việt Nam tham
gia hội nhập chậm hơn so vơí các nước khác trong khu vực. Trong khi các nước
muốn đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư với quy mô sâu rộng
hơn thì Việt Nam lại rất cần đủ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước , bên
cạn đó kiến thức của ta về hôi nhập kinh tế cũng như các vấn đề liên quan còn có
rất nhiều hạn chế bất cập.
Theo các chuyên gia đã khuyến cáo là ngành dệt may cũng gặp phải những
thách thức không nhỏ. Ngoài sức ép cạnh tranh ngày càng lớn trong diều kiện
hạn chế về kinh nghiệm tiép cận thị trường, sự thông thạo luật pháp phương thức
và công nghệ kinh doanh theo thông lệ quốc tế…các doanh nghiệp còn phải chấp
nhận sự thua thiệt trong đối xử quốc gia. Điều này xuất phát từ thực tế là giữa
Việt Nam và Hoa Kì vẫn chưa đạt được một hiệp định song phương về dệt may.
Do vậy cho dù hiệp định được thực thi thì hàng dệt may cao cấp vào thị trường
Mỹ vẫn phải chịu mức thuế cao gấp 10 lần so với mức thuế ưu đãi tối huệ quốc
cho đến khi nào hai bên kí được hiệp định song phương trên lĩnh vực này.
Hiện nay Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO nên Mỹ vẫn có thể
đưa ra các biện pháp hạn ngạch thuế quan để hạn chế về số lượng đến thời điểm
hiệp định dệt may ATC quy định trong khuôn khổ đàm phán song phương về
việc Việt Nam gia nhập WTO tới đây.
Ngoài ra, Mỹ còn có những yêu cầu hết sức khắt khe trong nguồn gốc và
chất lượng sản phẩm. Trong hồ sơ kèm hợp đồng xuất khẩu hàng sang Mỹ của
các công ty dệt may luôn phải có những yêu cầu cứng minh xem vải được mua ở
đâu, phải có biên bản giám định độ co rút, độ phai mầu, độ độc hại… Báo cáo
chi tiết sản xuất của từng công nhân , từng chuyền, thẻ kiểm tra làm việc của
từng công nhân…Về thông số, có mã hàng quy định tiêu chuẩn kích thước 1 inch
đúng 7 mũi chỉ… Ngoài ra thi trường Mỹ đòi hỏi chất lượng hàng và điều kiện
vật chất về nhà xưởng rất chặt chẽ (đáp ứng các tiêu chuẩn SA 8000, ISO
9000…) Những yêu cầu đó khiến cho việc xuất hàng sang Mỹ trở thành một thử
thách không dễ vượt qua đối với các doanh nghiệp dệt may. Chính vì thế, có
người đã nói: “Xuất hàng sang Mỹ cũng như đi vào chiếc bình, bầu rộng nhưng
cổ hẹp”.
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG MỸ.
Cùng với sự phát triển của đất nước, sự phát triển của ngành công nghiệp
dẹt may trở thành một ngành xuất khẩu chủ lực, là một trong những mục tiêu
quan trọng hàng đầu của ngành dệt may Việt Nam trên con đường hội nhập quốc
tế. Và để tăng cường xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ một cách vững chắc cần
thực hiện một số giải pháp có tính chiến lược và đột phá.
Trước hêt các doanh nghiệp cần tìm hiểu thị trường dệt may của Mỹ, đồng
thời tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, thu hút FDI của Mỹ để hiện
đại hóa thiết bị, nâng cao chất lượng hàng, quảng cáo khuếch trương sản phẩm,
hạ giá thành, thường xuyên đổi mới mẫu mã kiểu dáng. Và từ đó từng bước tạo
dựng tên tuổi, uy tín của thương hiệu hàng dệt may Việt Nam trên thị trường Mỹ.
Các doanh nghiệp cần phải lựa chon phương thức thâm nhập thị trường
Mỹ có hiệu quả, chuyển nhanh từ gia công sang xuất khẩu trực tiếp hoặc đầu tư
trực tiếp sang Mỹ. Ta cần tìm hiểu các chính sách của chính phủ Mỹ về sản
phẩm dệt may. đặc biệt khi xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ, các doanh nghiệp cần
chú trọng đến các vấn đề có liên quan đến môi trường, đạo đưc lao động, cơ chế
thanh toán, nhãn hiệu hàng hóa, quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ.
Đấy là các vần đê mà các doanh nghiệp cần phải thực hiện, còn về phía
Nhà nước cũng cần có một số giải pháp để giải quyết những vấn đề nhằm thúc
đẩy việc khai thác một thị trường đầy tiềm năng như Mỹ.
Nhà nước cần phải có những biện pháp phát triển các vùng nguyên liệu
và có những chính sách khuyến khích đầu tư để tạo nguồn nguyên liệu cho
ngành nhằm tạo sự ổn cho việc sản xuất.
Ngoài ra nhà nước cần tăng cường xúc tiến thương mại trên thị trường
Mỹ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam. Xây dựng hệ thống và cơ chế
cung cấp thông tin về thị trường dệt may Mỹ cho các doanh nghiệp trong nước.