Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc

  • 21 trang
  • file .doc
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
Mở đầu
I-/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ, là sự nhận thức về thế giới cuộc sống
con người và xã hội. Tác phẩm văn học dùng phương tiện ngôn từ để sáng tạo nên
những hình tượng về cuộc sống con người, quê hương, xử sở và đem lại cho người
đọc những rung cảm thực sự trong sáng. Trong nhà trường tiểu học ở Việt Nam đã coi
Tiếng Việt là một môn học trung tâm, làm nền móng các môn học khác.
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng đó là
hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học sinh. Tập đọc là một phân
môn của chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học. Đây là phân môn có vị trí đặc biệt
trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng đọc,
một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc tiểu học đầu tiên. Kỹ năng
đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức
(thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc
diễn cảm. Khi học sinh đọc tốt viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn học
khác một cách chắc chắn. Từ đó học sinh mới hoàn thành được năng lực giao tiếp
của mình. Những kỹ năng này không phải tự nhiên mà có. Nhà trường phải từng
bước hình thành và trường tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên. Nên việc
dạy học phải có định hướng, có kế hoạch từ lớp 1 đến lớp 5.
Đặc biệt đối với học sinh lớp 1 - lớp đầu cấp - việc dạy đọc cho các em thật
vô cùng quan trọng bởi các em có đọc tốt được ở lớp 1 thì khi học các lớp tiếp
theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao hơn của môn Tiếng Việt. Việc
dạy đọc ở lớp 1 cũng quan trọng bởi từ chỗ các em còn phải đọc đánh vần từng
tiếng đến việc đọc thông thạo được một văn bản là việc tương đối khó với các em
mà mục tiêu của giờ dạy Tiếng Việt là phải hướng đến giáo dục học sinh yêu
tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt.
Cũng như nhiều giáo viên lớp 1 khác, tôi suy nghĩ rất nhiều về cách dạy tập
đọc ở lớp 1. Đặc biệt là rèn cho học sinh không những chỉ đọc thông được văn
bản mà còn phải đọc đúng văn bản được đọc. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp
các em đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng trong từ, trong câu, đọc đúng ngữ điệu, biết
cách ngắt nghỉ hơi trong văn bản thơ, cũng như văn bản văn xuôi. Những băn
khoăn này chính là lý do tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho
học sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
II-/ MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Tập đọc là phân môn thực hành vì vậy nhiệm vụ của nó là hình thành kỹ
năng đọc cho học sinh. Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh. Tập
GV: Hoàng Thị Tố Nga 1
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
đọc góp phần làm giầu vốn kiến thức ngôn ngữ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu
cái thiện và cái đẹp, dạy cho các cách tư duy có hình ảnh.
Đặc điểm của dạy tập đọc lớp 1 chính là ở chỗ đây là bước chuyển tiếp từ
dạy “học vần” sang dạy “tập đọc” (ở lớp 2). Giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả
phương pháp học vần, cả phương pháp tập đọc. Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là
củng cố hệ thống âm vần đã đọc (nhất là các vần khó) đọc đúng tiếng, liền tiếng
trong từ, trong câu, đoạn, bài. Bước đầu biết cách ngắt hơi ở các dấu câu, biết lên
giọng và hạ giọng. Để làm tốt được những nhiệm vụ nêu trên, đề tài của tôi mục
đích đưa ra một số biện pháp để giúp học sinh đọc thông được văn bản và đọc
đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói riêng nhằm nâng cao chất lượng
của 1 giờ dạy tập đọc ở lớp 1.
III-/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng dạy đọc của lớp 1 ở trường tiểu học
hiện nay và HS ở trường Tiểu học Ngư Thuỷ Nam nói riêng.
IV-/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau :
- Phương pháp thu nhận tài liệu;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế;
- Dạy thực nghiệm;
- Trao đổi, toạ đàm với đồng nghiệp.
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 2
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
I-/ VỊ TRÍ, NHIỆM VỤ CỦA DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC
1. Vị trí của dạy đọc ở tiểu học
a. Khái niệm đọc:
Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh. Nó thể hiện bốn dạng hoạt động, tương ứng với
chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đọc là quá trình chuyển dạng thức chữ
viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành
tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa
không có âm thanh (ứng với đọc thầm)
b. Ý nghĩa của việc đọc
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, tư
tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn
đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp
thu nền văn minh của loài người, biết đọc con người sẽ có khả năng chế ngự một
phương tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của
người khác, thông hiểu tư tưởng tình cảm của người khác, đặc biệt khi đọc các tác
phẩm văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung
động tình cảm, đọc chính là học, học nữa học mãi, đọc để tự học, học cả đời. Vì
những lý lẽ trên dạy đọc có ý nghĩa to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi
cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ
phải đọc để học. Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong
giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập các môn học khác. Nó tạo ra hứng
thú và động cơ học tập. Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh
thần học tập cả đời. Nó là một khả năng không thể thiếu được của con người văn
minh.
2. Nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học
Phân môn học vần cũng thực hiện nhiệm vụ dạy đọc nhưng mới dạy đọc ở
mức độ sơ bộ nhằm giúp học sinh sử dụng bộ mã chữ âm. Việc thông hiểu văn
bản chỉ đặt ra ở mức độ thấp và chưa có hình thức chuyển thẳng từ chữ sang
nghĩa (đọc thầm). Như vậy, tập đọc với tư cách là một phân môn tiếng Việt tiếp
tục những thành tựu dạy học mà học cần đạt được, nâng lên một mức đầy đủ hoàn
chỉnh hơn.
Tập đọc là một phân môn thực hành nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 3
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát,
trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn
gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này được hình thành trong 2 hình
thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Vì vậy, trong dạy đọc không thể xem nhẹ
yếu tố nào.
Ngoài ra việc đọc còn có những nhiệm vụ khác đó là làm giàu kiến thức về
ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn hoá cho học sinh, phát triển ngôn ngữ và tư
duy, giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ cho các em.
II-/ NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC
1. Cơ sở tâm lý, sinh lý của việc dạy đọc :
Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình đọc,
nắm bản chất của kỹ năng đọc. Đặc điểm tâm lý sinh lý của học sinh khi đọc hay
cơ chế của đọc là cơ sở của việc dạy học.
- Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với
nhau, là việc sử dụng bộ mã gồm hai phương diện. Một mặt đó là quá trình vận
động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành nhưng
dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Thứ hai đó là sự vận động của tư tưởng, tình
cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng,
các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung những gì
được đọc.
- Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt hoạt động của các cơ
quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc.
- Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ "đọc" được sử dụng trong nhiều
nghĩa : theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc
(tức là việc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh), theo nghĩa rộng,
đọc được hiểu là kỹ thuật đọc của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài). ý nghĩa
hai mặt của thuật ngữ đọc được ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phương
pháp dạy học. Từ đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai - đọc được xem như
là một hoạt động lời nói.
Để có giờ tập đọc đạt kết quả tốt người giáo viên phải nắm được đặc điểm
tâm sinh lý của học sinh mình nắm được đặc điểm yêu cầu, bản chất kỹ năng cơ
chế đích cần đạt được của tiết dạy tập đọc. Trên cơ sở đó sử dụng phương pháp
cho phù hợp.
2. Cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc
Phương pháp dạy tập đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học. Nó
liên quan mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính âm,
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 4
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
chính tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học), vấn đề nghĩa của từ, của câu,
đoạn, bài (thuộc từ vựng học, ngữ nghĩa học), vấn đề dấu câu, các kiểu câu…
Không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tính tuỳ tiện
và không đảm bảo hiệu quả dạy học.
a. Vấn đề chính âm trong tiếng Việt
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ có giá trị và hiệu quả về
mặt xã hội. Vấn đề chuẩn mực phát âm tiếng Việt đang là vấn đề thời sự, có nhiều
ý kiến khác nhau. Nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau như chuẩn hoá ngôn
ngữ, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mục đích của việc xây dựng chính âm.
b. Vấn đề ngữ điệu của Tiếng Việt
Ngữ điệu là một trong những thành phần của ngôn điệu. Ngữ điệu là yếu tố
gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo thành lời nói.
Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng. Ngữ điệu tiếng Việt, như các ngôn
ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng
(cao độ), sự nhấn giọng (cường độ), sự ngừng giọng (trường độ) và sự chuyển
giọng (phối hợp cả trường độ và cường độ).Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học
sinh biết làm chủ những yếu tố này.
c. Cơ sở lý thuyết cơ bản, phong cách học và văn học của dạy đọc
Việc dạy đọc không thể dựa trên lý thuyết về văn bản những tiêu chuẩn để
phân tích, đánh giá một văn bản (ở đây muốn nói đến những bài đọc ở tiểu học)
nói chung cũng như lý thuyết để phân tích, đánh giá các tác phẩm văn chương nói
riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc hiểu cho học sinh
phải dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá một văn bản tốt: tính chính xác, tính
đúng đắn và tính thẩm mỹ. Việc luyện đọc cho học sinh phải dựa trên những hiểu
biết về đặc điểm ngôn ngữ văn học, tính hình tượng, tính tổ chức cao và tính hàm
súc, đa nghĩa của nó. Tất cả những vấn đề trên đều thuộc phạm vi nghiên cứu của
lý thuyết văn học. Vì vậy ta dễ dàng nhận thấy phương pháp dạy tập đọc không
thể không dựa trên những thành tựu nghiên cứu của lý thuyết văn bản nói chung
và nghiên cứu văn học nói riêng.
III-/ TỔ CHỨC DẠY ĐỌC THÀNH TIẾNG Ở TIỂU HỌC
1. Chuẩn bị cho việc đọc
Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi ngồi đọc cần
phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30-35
cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Ở lớp, khi được cô
giáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay.
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 5
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
Trước khi nói về việc rèn đọc đúng, cần nói về tiêu chí cường độ và tư thế
khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng. Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc
thành tiếng, người đọc một lúc đóng hai vai: một vai - và mặt này thường được
nhấn mạnh - là người tiếp nhận thông tin bằng chữ viết; vai thứ hai là người trung
gian để truyền thông tin đưa văn bản viết đến người nghe. Khi giữ vai thứ hai
này, người đọc đã thực hiện việc tái văn bản. Vì vậy, khi đọc thành tiếng, người
đọc có thể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cho cả hai. Đọc cùng với phát
biểu trong lớp là hai hình thức giao tiếp trước đám đông đầu tiên của trẻ em nên
giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công, tạo cho các em
sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng, các em phải tính đến người nghe. Giáo
viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ cho mình cô giáo mà để
cho tất cả các bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn để cho tất cả những người này
nghe rõ. Nhưng như thế không có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên. Để luyện cho
học sinh đọc quá nhỏ "lí nhí", giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng nào bạn
ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên nên cho học sinh đứng trên
bảng để đối diện với những người nghe. Tư thế đứng đọc phải vừa đàng hoàng,
vừa thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay.
2. Luyện đọc đúng
a. Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác,
không có lỗi. Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc đúng
phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là không
đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các
âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu).
b. Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị tiếng
Việt.
- Đọc đúng các phụ âm đầu: TD có ý thức phân biệt để không đọc: “nàm
việc”, “khoẻ khắn” mà phải đọc là “làm việc” ,“khỏe khoắn”.
- Đọc đúng các âm chính: TD có ý thức phân biệt để không đọc “iu tin,
chai riệu” mà phải đọc “ưu tiên, chai rượu”.
- Đọc đúng các âm cuối: TD có ý thức không đọc: “luông luông” mà phải
đọc “luôn luôn”.
- Đọc đúng bao gồm cả đọc tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điều câu.
Khi dạy đọc đúng giáo viên cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp
giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc không được tách một từ ra làm
hai. TD không ngắt hơi.
“Với em gái bé
Phải người / lớn cơ”
- Ông già bẻ gãy từng chiếc đũa một / cách dễ dàng. Không tách giới từ
với danh từ đi sau nó.
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 6
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
Thí dụ không đọc:
“Như con chim chích
Nhảy trên / đường vàng”
Không tách động từ, hệ từ “là” với danh từ đi sau nó.
Thí dụ: không đọc
Cá heo là / tay bơi giỏi nhất của biển
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu
hơn ở dấu chấm, đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở
cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu cảm.
Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ giọng khi đọc bộ phận giải
thích của câu.
Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.
3. Luyện đọc nhanh
a) Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) là nói đến phẩm chất đọc
về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a, ngắc ngứ. Vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau
khi đã đọc đúng.
Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn (nhiệm vụ này phần dạy đọc
của phân môn học vần phải đảm nhận), đọc không ê a, ngắc ngứ, không vừa đọc
vừa đánh vần. Về sau tốc độ đọc phải đi song song với việc tiếp nhận có ý thức
bài đọc. Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ đọc
nhanh nhưng để cho người nghe hiểu kịp được. Vì vậy, đọc nhanh không phải là
đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng
với tốc độ của lời nói. Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn nhiều.
b) Biện pháp luyện đọc nhanh
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu
để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn,
bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc. Ngoài ra, còn có
biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của thầy, của bạn để
điều chỉnh tốc độ. Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng cho
trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định tốc như thế nào còn phụ thuộc
vào độ khó của bài đọc.
IV-/ MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC Ở LỚP 1
- Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có tác dụng hình thành phát triển ngôn
ngữ cho học sinh. Tiếng Việt gồm nhiều phân môn: Tập đọc, từ ngữ, ngữ pháp,
chính tả, tập làm văn. Phân môn tập đọc có vị trí quan trọng. Dạy tốt phân môn
này đáp ứng một trong 4 kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Kỹ năng đọc nhanh, chính
xác, rõ ràng, rành mạch và diễn cảm nhờ đó học sinh có những hiểu biết văn học
ngôn ngữ và ngược lại.
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 7
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
Đối với học sinh lớp 1, các em bắt đầu chuyển từ giai đoạn học vần sang
tập đọc vì vậy giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả phương pháp học vần, cả phương
pháp tập đọc. Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là củng cố hệ thống âm vần đã học
(nhất là các vần khó), đọc đúng và trơn tiếng, đọc liền từ, đọc cụm từ và câu: tập
ngắt nghỉ (hơi) đúng chỗ trong câu. Hiểu các từ thông thường, hiểu được ý diễn
đạt đã đọc (độ dài câu khoảng 10 tiếng). Bên cạnh nhiệm vụ ôn vần cũ, học vần
mới học sinh còn được phát triển vốn từ, tập nói câu đơn giản.
V-/ VÀI NÉT VỀ PHÂN MÔN TẬP ĐỌC Ở LỚP 1
- Cấu trúc chung: Phân môn tập đọc gồm 42 bài được bắt đầu từ tuần 5 của
học kỳ II (có 14 tuần dạy tập đọc, mỗi tuần có 3 bài, mỗi bài dạy trong 2 tiết).
- Nội dung: Các bài tập đọc xoay quanh 3 chủ đề: Nhà trường, gia đình,
thiên nhiên đất nước.
- Bài tập đọc lớp 1 gồm có các phần:
+ Văn bản đọc
+ Những từ khó cần lưu ý
+ Các câu hỏi (bài tập) để ôn luyện âm, vần
+ Luyện nói: nói về một vấn đề hoặc nhìn tranh để diễn đạt.
VI-/ NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH RÈN ĐỌC
- Quá trình tìm hiểu thực tế, nhìn chung mỗi giờ tập đọc đều có 2 phần lớn
tìm hiểu nội dung bài và luyện đọc, hai phần này có thể tiến hành cùng một lúc,
đan xen vào nhau, cũng có thể tách rời nhau tuỳ từng bài và từng giáo viên. Song
dù dạy theo cách nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ tương hỗ, khăng khít .
Như vậy phần luyện đọc có vai trò quan trọng, học sinh đọc tốt sẽ giúp các em
hoàn thành được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của chính bản thân mình vừa
bồi đưỡng tâm hồn tình cảm, phát triển tư duy.
Trong quá trình rèn đọc giáo viên cần rèn luyện một cách linh hoạt các
phương pháp khác nhau để phù hợp với đặc trưng của phân môn và phù hợp với
nội dung của bài dạy. Quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc trước hết giáo viên
phải sử dụng phương pháp làm mẫu. Nghĩa là giáo viên làm mẫu cho học sinh
nghe, yêu cầu giọng đọc của giáo viên phẩi chuẩn, diễn cảm thể hiện đúng nội
dung, ý nghĩa của bài học để học sinh bắt trước đọc theo. Sau đó giáo viên phải
kết hợp phương pháp luyện đọc theo mẫu, luyện đọc đúng, đọc chính xác các phụ
âm đầu, âm chính, âm cuối, dấu thanh. Đọc đúng tiết tấu, ngắt hơi nghỉ hơi đúng
chỗ, đúng ngữ điệu câu. Từ đó hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm để biểu đạt đúng ý
nghĩa và tình cảm mà tác giả mong muốn và gửi gắm trong bài tập đọc.
- Trong quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc, giáo viên cần đổi mới
phương pháp giảng dạy, luôn lấy học sinh làm trung tâm.
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 8
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
- Ngoài ra để phần rèn đọc đạt kết quả tốt thì cần phải có các yếu tố khác
như cơ sở vật chất đầy đủ, đồ dùng học tập.
- Bên cạnh các yếu tố trên trong giảng dạy phân môn tập đọc giáo viên còn
phải chú ý đến một số nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc phát triển lời nói
+ Để giờ tập đọc đạt kết quả cao thì phải bảo đảm nguyên tắc phát triển tư
duy, phát huy tính tích cực, chủ đạo của học sinh.
Như vậy để học sinh đọc tốt môn tập đọc đặc biệt là vấn đề rèn đọc đúng
cho học sinh lớp 1 chúng ta cần đảm bảo tốt các phương pháp và nguyên tắc trên.
Chương II
THỰC TRẠNG DẠY HỌC
Qua trao đổi với các giáo viên đã từng dạy lớp 1 lâu năm ở trường sở tại và
các trường ở địa phương khác tôi đã có những nhận xét chung về thực trạng dạy
học như sau:
I-/ TÌNH HÌNH GIẢNG DẠY CỦA GIÁO VIÊN
1. Quan điểm của giáo viên về giờ tập đọc
Nhìn chung giáo viên tiểu học đều rất coi trọng giờ tập đọc. Giáo viên ở
các lớp đầu cấp cho rằng phần luyện đọc từ, đọc câu là quan trọng hơn còn ở các
lớp cuối cấp thì cho rằng phần luyện đọc và phần tìm hiểu bài quan trong như
nhau. Nhưng nhìn chung 70% giáo viên khẳng định việc luyện đọc quan trọng
hơn còn về thời gian phân bố trong giờ luyện đọc thì 80% số giáo viên cho rằng
thời gian luyện đọc là nhiều hơn còn 20% cho rằng thời gian của 2 phần này như
nhau.
2. Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong phần rèn đọc
Hiện nay ở tiểu học, về vấn đề rèn đọc cho học sinh, giáo viên sử dụng
phương pháp dạy học cụ thể là: phương pháp làm mẫu, phương pháp luyện đọc
theo mẫu, phương pháp luyện tập củng cố, phương pháp hỏi đáp (đặt câu hỏi để
học sinh tự tìm và phát hiện từ khó, cách ngắt nhịp câu dài…) và phương pháp
đóng vai (đối với văn kể chuyện).
* Thực trạng phần rèn đọc ở lớp 1
Qua tìm hiểu và dự giờ ở lớp 1 tôi thấy hiện nay nhìn chung giờ tập đọc
được tiến hành theo trình tự sau:
Tiết 1:
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 9
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
1. Kiểm tra bài cũ
Học sinh đọc lại bài của tiết trước và trả lời một số câu hỏi ứng với nội
dung bài học.
2. Bài mới:
a. Giới thiệu bài:
- Giáo viên chép sẵn bài đọc lên bảng lớp
- Giáo viên đọc mẫu, học sinh theo dõi
b. Hướng dẫn học sinh luyện đọc
* Luyện đọc tiếng, từ
Giáo viên kể chân những tiếng từ mà SKG yêu cầu  cá nhân học sinh đọc
* Luyện đọc câu
Giáo viên đưa ra những câu thơ, văn ngắt nhịp, ngắt giọng sẵn và đọc mẫu
sau đó học sinh đọc theo cô. Khi cá nhân học sinh đọc các em khác nghe và nhận
xét bạn.
* Luyện đọc đoạn
Giáo viên nêu bài đọc chia thành……đoạn…... sau đó cho học sinh đọc nối
tiếp đoạn cho đến hết bài.
* Luyện đọc cả bài:
Cá nhân học sinh đọc  các em khác nhận xét
3. Ôn vần:
- Dựa vào các câu hỏi và bài tập của SGK.
+ Tìm tiếng có chứa vần cần ôn
+ Nói câu chứa tiếng có vần cần ôn
4. Củng cố: Ghép từ thành câu
Tiết 2
4. Tìm hiểu bài và luyện nói
a. Tìm hiểu bài
- Học sinh đọc trong SGK
+ Cá nhân học sinh đọc từng đoạn và giáo viên nêu câu hỏi ứng với nội
dung của từng đoạn để học sinh trả lời.
+ Giáo viên giảng giải thêm về nội dung, kết hợp giải nghĩa từ.
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 10
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
b. Luyện đọc (mức độ đọc hay)
- Giáo viên nêu cách đọc hay: giọng đọc, nhấn giọng, ngắt giọng
- Giáo viên đọc mẫu lần 2
- Học sinh đọc (cá nhân  đồng thanh)
c. Luyện nói
- Học sinh nhìn vào tranh hoặc ảnh của SGK để luyện nói về những chủ đề
mà bài đọc yêu cầu.
5. Củng cố – dặn dò
Dặn dò học sinh đọc lại bài nhiều lần và chuẩn bị bài sau
Sau một thời gian tiến hành tìm hiểu điều tra thực trạng, tôi rút ra một
số kết luận sau:
- Giờ tập đọc có vị trí quan trọng ở tiểu học.
- Giáo viên nhận thức được ý nghĩa của việc tập đọc và nhiệm vụ chính
của dạy đọc.
- Trong giờ tập đọc giáo vien còn làm mẫu nhiều mà chưa để các em tự
phát hiện ra cách đọc. Giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh sửa
phát âm sai do học sinh nói ngọng hoặc do tiếng địa phương.
- Trong giờ tập đọc nhất là khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú ý
đến học sinh yếu vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian, làm giảm
tiến độ của tiết dạy.
Chương III
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Từ việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của việc dạy đọc là
nhận thấy nếu dạy như đại trà hiện nay thì chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu dạy
đọc ở tiểu học. Do vậy dể khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm
hiện có ở thực tế. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp hướng dẫn học sinh
rèn đọc đúng để nâng cao hiệu quả của giờ tập đọc ở lớp 1 nói riêng và ở tiểu học
nói chung. Đó là:
1. Đọc mẫu:
- Bài đọc mẫu của giáo viên chính là cái đích mẫu hình thành kỹ năng đọc
của giáo viên, phải đảm bảo chất lượng đọc chuẩn, đọc đúng rõ ràng, trôi chảy và
diễn cảm. Giáo viên yêu cầu lớp ổn định trật tự tạo cho học sinh tâm lý nghe đọc,
hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh đọc thầm theo. Khi đọc giáo viên đứng ở
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 11
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
vị trí bao quát lớp, không đi lại, cầm sách mở rộng, thỉnh thoảng mắt phải dừng
sách nhìn lên học sinh nhưng không để bài đọc bị gián đoạn.
- Đối với học sinh lớp 1 giai đoạn đầu (khoảng 2  3 bài đầu) giáo viên
chép bài đọc lên bảng rồi học sinh theo dõi cô đọc ở trên bảng, nhưng ở giai đoạn
sau giáo viên nêu yêu cầu học sinh theo dõi bài ở sách giáo khoa để tạo cho các
em có thói quen làm việc với sách.
2. Hướng dẫn đọc
Sách giáo khoa tập đọc lớp 1 chủ yếu có 2 dạng bài:
- Dạng thơ, chủ yếu là thể thơ 4 – 5 tiếng
- Dạng văn xuôi
Cụ thể là trong 42 bài đọc thì có:
- 23 bài dạng văn xuôi
- 19 bài dạng thơ
Việc hướng dẫn đọc đúng được thể hiện trong tiết 1
a. Luyện đọc từ ngữ
Đối với lớp 1 dù ở bất kỳ dạng bài nào văn xuôi hay thơ thì trước khi
luyện đọc đúng toàn bài bao giờ học sinh cũng được ôn luyện âm vần. Trong
phần này các em ôn luyện vần trên cơ sở luyện đọc những từ khó, hay nhầm lẫn
khi đọc có ở trong bài. Để thực hiện được tốt phần này, ngoài việc cần lựa chọn
thêm những từ ngữ khác mà học sinh trong lớp mình hay nhầm lẫn hoặc phát âm
sai để cho các em luyện đọc. Trong thực tế, hàng ngày lên lớp tôi vẫn thực hiện
điều này.
Thí dụ: Bài “Hoa Ngọc Lan”
Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc các từ sau
“ Hoa lan, lá dày, lấp ló”
Khi dạy, dựa vào tình hình đọc của lớp ngoài những từ trên tôi đã tìm thêm
một số từ ngữ khác cần luyện đọc đúng đó là các từ ngữ: “xanh thẫm, nụ hoa,
cánh xoè ra duyên dáng, ngan ngát, toả khắp vườn, khắp nhà…” Sở dĩ tôi đã lựa
chọn thêm những từ ngữ này bởi vì thực tế ở lớp tôi dạy vần còn một số ít em đọc
chưa tốt, các em hay nhầm lẫn vần, phụ âm đầu và dấu thanh. Cụ thể như:
Từ Học sinh đọc nhầm
Xanh thẫm Xăn thấm
Nụ hoa Lụ hoa
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 12
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
Cánh xoè ra duyên dáng Cánh xèo ra duyên dáng
Ngan ngát Ngan ngác
Toả khắp vườn, khắp nhà Toả khắc vườn, khắc nhà
Giáo viên cũng nên để cho học sinh tự nêu những từ mà các em cảm thấy
khó đọc trong khi phát âm.
Thí dụ: Bài “Chú công”
SGK chỉ yêu cầu luyện đọc từ “nâu gạch, rẻ quạt, rực rỡ, lóng lánh”
nhưng các em học sinh lớp 1 đã nêu ra được 2 từ mà các em cho là khó đọc đó là:
“màu sắc, xoè tròn” vì khi đọc dễ bị lẫn “màu sắc” với “mầu sắc”, “xoè tròn”
với “xèo tròn”
Khi cho các em luyện đọc từ ngữ, giáo viên nên kết hợp phân tích tiếng để
giúp học sinh nhớ lại những âm vần đã học. Tuy nhiên chúng ta cần tập trung gọi
những học sinh đọc còn yếu, song để giúp những em này đọc được đúng thì việc
gọi một số em giỏi đọc thật to, thật chính xác là một việc làm không thể thiếu bởi
vì các em yếu sẽ bắt chước các bạn để đọc và như vậy các em sẽ có ý thức tự sửa
hơn. Sau đó cả lớp sẽ đồng thanh những từ ngữ này. Cần tăng cường cho các em
nhận xét nhau đọc, đúng hay say, nếu sai thì ở đâu, các em có thể tự sửa lại cho
bạn. Nếu học sinh không làm được việc đó, giáo viên phải kịp thời uốn nắn sửa
sai ngay cho các em. Nhất thiết phải có khen chê kịp thời.
- Không chỉ luyện đọc đúng từ trong giờ tập đọc mà trong các tiết tăng
cường Tiếng Việt tôi cũng luôn đưa ra những bài tập phân biệt phụ âm đầu và vấn
đề giúp các em phát âm tốt hơn.
Thí dụ: Dạng bài tập điền vần hoặc điền phụ âm đầu
+ Bài tập 1: Điền l hay n
….o…..ắng , …o…ê , ….í….ẽ , ….áo…ức
+ Bài tập 2: Điền r, d, gi
… ộn….ã , …..ập ….ờn , tháng…..iêng
+ Bài tập 3: Điền s, x
…ản …uất , …anh….anh , …o….ánh
…ung phong , ….ừng…ững
+ Bài tập 4: Điền vần ăc, ắt hay ăp
m….. trời , m….. áo , đôi m……
kh……… nơi , th……. nến
+ Bài tập 5: Điền vần anh hay ăn
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 13
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
ch..… len , c…… đẹp , c…… nhà
m…. khoẻ , bức tr…….
.v..v và còn nhiều bài tập khác dạng như trên. Sau khi học sinh điền xong
giáo viên phải yêu cầu và kiểm tra các em đọc. Nếu các em đọc sai giáo viên phải
kịp thời uốn nắn ngay. Phần luyện đọc từ nếu giáo viên làm tốt, hướng dẫn học
sinh đọc kỹ sẽ giúp cho các em đọc tròn bài đọc tốt hơn.
b. Đọc đúng: dạng thơ
Thơ là tiếng nói của tình cảm, là sự phản ánh con người và thời đại một
cách cao đẹp, thơ rất giàu chất trữ tình. Vì vậy khi đọc thơ cần thể hiện được tình
cảm của tác giả gửi gắm trong từ, từng dòng thơ, nhịp thơ để truyền cảm xúc đến
người nghe. Vì vậy đọc thơ phải đọc đúng dòng thơ, vần thơ, thể thơ để thể hiện
sắc thái, tình cảm. Do vậy khi dạy những bài đọc thơ ở giai đoạn đầu tôi thường
chép lên bảng các câu thơ cần chú ý ngắt giọng rồi hướng dẫn
Thí dụ: Bài “Tặng Cháu”
Vở này / ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu / gọi là
Mong cháu / ra công mà học tập
Mai sau / cháu giúp nước non nhà
Học sinh sẽ được luyện đọc từng câu rồi đọc nối tiếp nhau cho đến hết bài.
Giáo viên có thể cho các em dùng ký hiệu đánh dấu vào sách để khi đọc không bị
quên.
Đến giai đoạn sau (khoảng từ giữa học kỳ II trở đi) tôi đã để học sinh nhìn
vào sách và nêu cách ngắt giọng của mình ở từng câu thơ (vì những bài thơ của
lớp 1 thường là ngắn nên công viẹc này cũng không chiếm quá nhiều thời gian
trong tiết dạy). Nếu học sinh nói đúng giáo viên công nhân ngay và cho các em
đánh dấu luôn vào sách. Nếu học sinh nói sai giáo viên sửa lại cho học sinh.
Thí dụ 1: Bài “Mẹ và cô”
Học sinh thường ngắt nhịp như sau:
Buổi sáng / bé chào mẹ
Chạy tới ôm / cổ cô
Buổi chiều / bé / chào cô
Rồi sào / vào lòng mẹ
Mặt trời / mọc / rồi lặn
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 14
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
Trên đôi chân / lon ton
Hai chân trời / của con
Là mẹ / và cô giáo
Tôi đã sửa lại những câu học sinh sai và nêu cho các em thấy tại sao ngắt
nhịp như vậy lại là sai.
Thí dụ: Câu “chạy tới ôm cổ cô” ngắt nhịp như trên là sai vì “ôm cổ cô”là
một cụm từ liền nhau, nếu ngắt giọng ở sau chữ “cổ” thì cụm từ đó sẽ bị tách ra
và nghĩa của nó sẽ không rõ ràng. Hay câu “Buổi chiều bé chào cô” cũng tương
tự tôi đã sửa cách đọc bài thơ trên như sau:
Buổi sáng / bé chào mẹ
Chạy tới / ôm cổ cô
Buồi chiều / bé chào cô
Rồi / sà vào lòng mẹ
Mặt trời mọc / rồi lặn
Trên đôi chân lo ton
Hai chân trời / của con
Là mẹ / và cô giáo
c. Đọc đúng: dạng văn xuôi
Tương tự như ở thơ, giáo viên cần chú trong rèn cho các em biết ngắt, nghỉ
hơi cho đúng. Cần phải dựa vào nghĩa và các dấu câu để ngắt hơi cho đúng. Khi
đọc không được tách một từ ra làm hai, tức là không ngắt hơi trong một từ. Đối
với học sinh lớp 1 giáo viên cũng chưa nên hỏi nhiều quá về việc tại sao các em
lại ngắt giọng như vậy mà nếu thấy đúng thì giáo viên công nhận ngay, còn nếu
sai thì sửa cho các em và giải thích để các em thấy rõ hơn
Thí dụ 1: Bài “Trường em”
Câu dài trong bài cần hướng dẫn cách ngắt nghỉ hơi là:
“Ở trường / có cô giáo hiền như mẹ / có nhiều bè bạn thân thiết như anh em /”
Tôi đã chép câu này lên bảng và hướng dẫn cách ngắt hơi như trên (vì đây
là bài đầu tiên trong chương trình tập đọc nên tôi hướng dẫn luôn cách đọc).
Thí dụ 2: Bài “Đầm sen”
Học sinh đã phát hiện ra câu dài trong bài là ngắt giọng như sau:
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 15
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
“Suốt mùa sen / sáng sáng lại có những người ngồi trên thuyền nan / rẽ lá /
hái hoa”
Tôi đã bổ sung thêm cách nghỉ hơi cho các em như sau:
“Suốt mùa sen , / sáng sáng / lại có những người ngồi trên thuyền nan / rẽ
lá / hái hoa //”
Tôi giải thích ta ngắt ở sau từ “sáng sáng” để nhấn mạnh thêm về thời gian
mà con người đi thăm đầm sen.
Đối với những bài có lời thoại, giáo viên phải hướng dẫn kỹ học sinh cách
lên giọng cuối câu hỏi và xuống giọng cuối câu kể (câu trả lời)
Cũng như thơ, sau khi sửa xong lỗi ngắt giọng cho học sinh, giáo viên phải
gọi nhiều em đọc, các học sinh khác nghe và nhận xét bạn đọc.Việc luyện đọc
cho học sinh đọc đúng từ, câu sẽ giúp cho việc đọc đoạn, bài được trôi chảy, lưu
loát hơn và học sinh nắm chắc được cách đọc đúng văn bản được học mà không
phải tình trạng học vẹt.
Để tiết học nhẹ nhàng, không nhàm chán mà lại nhiều em được luyện đọc
thì giáo viên phải tổ chức đọc theo nhiều hình thức khác nhau như đọc cá nhân,
đọc theo nhóm, theo tổ hoặc đồng thanh. Những hình thức này còn giúp giáo viên
kiểm soát được khả năng đọc của toàn thể học sinh trong lớp.
d. Luyện đọc củng cố và nâng cao
Để giúp học sinh đọc bài một cách chắc chắn, giáo viên cần dành thời gian
để luyện đọc củng cố và nâng cao. Muốn vậy giáo viên phải luôn trau dồi kiến
thức, luôn thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp với sự phát triển của xã
hội. Trong giờ học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức để học sinh tự tìm
ra kiến thức.
Chương IV
DẠY THỰC NGHIỆM
Qua quá trình thực tập tốt nghiệp tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở
một số lớp 1. Sau đây là bài tập đọc mà tôi xin trình bày giáo án trong đề tài
đó là bài “Mẹ và cô”khi dạy bài này tôi đã áp dụng những biện pháp nêu trên
để rèn đọc cho học sinh đạt kết quả tốt.
Dưới đây là nội dung giáo án đó
Môn: Tập đọc
Tiết số: 1 Tuần: 4
Tên bài dạy: Mẹ và cô
GVTH: Hoàng Thị Tố Nga 16