Mở rộng hoạt động cho vay tại chi nhánh nhct cửa lò

  • 77 trang
  • file .docx
LỜI NÓI ĐẦU
Cho vay là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho các NHTM và là kênh
cung cấp vốn quan trọng không chỉ đối với bản thân DN mà còn đối với toàn bộ nền
kinh tế quốc dân. Nền kinh tế càng phát triển thì sự cạnh tranh của các DN càng trở nên
sâu sắc, các DN càng cần đến nguồn vốn để mở rộng hoạt động SXKD. Nước ta là một
nước đang phát triển lại đang trong quá trình hội nhập trong khi thị trường chứng khoán
mới bắt đầu phát triển, chính vì thế mà nguồn vốn của các NHTM lại càng trở nên quan
trọng hơn. Tuy nhiên, hoạt động cho vay của các NHTM trong thời gian vừa qua lại
chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu về vốn của các DN. Đặc biệt trong thời gian tới,
hoạt động của các NHTM nước ngoài được mở rộng, sự cạnh tranh giữa các NH sẽ diễn
ra rất gay gắt. Chính vì thế, các NHTM trong nước cần phải có nhiều đổi mới để phù
hợp với quá trình hội nhập.
NHCT Việt Nam là một NHTM quốc doanh đi tiên phong trong việc ứng dụng
công nghệ hiện đại và thương mại điện tử tại Việt Nam, có thị phần cho vay và đầu tư
chiếm 21%, có quan hệ đại lý với 735 NH lớn của 60 quốc gia trên khắp các châu lục.
Các sản phẩm của NHCT Việt Nam đã khắng định được uy tín, chất lượng đối với
không chỉ KH trong nước mà cong với cả các NH đại lý nước ngoài. Với mục tiêu đến
năm 2010 là “trở thành một NHTM chủ lực và hiện đại của Nhà nước, hoạt động kinh
doanh có hiệu quả, TC lành mạnh, có kỹ thuật công nghệ cao, kinh doanh đa năng,
chiếm thị phần lớn ở Việt Nam”, NHCT Việt Nam đã và đang có nhiều đổi mới theo
hướng nâng cao tính tự chủ cho các chi nhánh trực thuộc để tiến tới quá trình cổ phần
hóa trong năm 2008.
NHCT Cửa Lò là một chi nhánh cấp 1 trực thuộc NHCT Việt Nam vừa mới được
nâng cấp vào tháng 10/2006 vừa qua. Tuy hoạt động KD đã đạt được một số kết quả
song quy mô nhìn chung còn quá nhỏ bé chưa xứng với khả năng của NH cũng như tiềm
năng phát triển kinh tế của địa phương. Trong quá trình thực tập, được biết chiến lược
lâu dài của NHCT Việt Nam cũng như mục tiêu của NHCT Cửa Lò là mở rộng phạm vi
Luận văn tốt nghiệp 1 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
hoạt động, chính vì thế tôi quyết định chọn đề tài: “Mở rộng hoạt động cho vay tại chi
nhánh NHCT Cửa Lò” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu thành 3 chương:
Chương I: Hoạt động cho vay của các NHTM.
Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay tại chi nhánh NHCT Cửa Lò.
Chương III: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tại chi nhánh NHCT Cửa Lò.
Luận văn tốt nghiệp 2 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
CHƯƠNG I.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1. Khái niệm và vai trò của cho vay.
1.1. Khái niệm cho vay.
Thuật ngữ “tín dụng” (credit) xuất phát từ chữ Latinh là credo (tin tưởng, tín
nhiệm) trong quan hệ TC. Tín dụng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:
- xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ
thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp dịch chuyển quỹ từ người
cho vay sang người đi vay.
- trong một quan hệ TC cụ thể, tín dụng là một giao dịch về TS trên cơ sở có
hoàn trả giữa hai chủ thể. Ví dụ như một công ty thương mại bán hàng trả chậm cho một
công ty khác, trong trường hợp này người bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và
sau một thời gian nhất định theo thoả thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến
hơn cả là giao dịch giữa NH, các định chế TC với các DN và cá nhân thể hiện dưới hình
thức cho vay. Tức là NH cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời gian nhất định
người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi.
- tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế TC cung cấp cho
KH.
- trong một số ngữ cảnh, thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay. Ví
dụ, tín dụng ngắn hạn đồng nghĩa với cho vay ngắn hạn hoặc tín dụng tuần hoàn là một
loại cho vay cụ thể.
- trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của NH thì tín dụng được hiểu như
sau: tín dụng là một giao dịch về TS (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (NH và các
định chế TC khác) và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thể khác), trong đó bên cho
vay chuyển giao TS cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả
thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay
khi đến hạn thanh toán.
Luận văn tốt nghiệp 3 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
Tín dụng là loại TS chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM, phản ánh
hoạt động đặc trưng của NH. Tín dụng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Và theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, cho thuê TC, chiết khấu,
bảo lãnh và một số hoạt động khác theo quy định của NHNN. Cho vay là việc NH đưa
tiền cho KH với cam kết KH phải hoàn trả cả tiền gốc và lãi trong thời gian xác định.
KH phải cam kết sử dụng khoản tiền vay đúng mục đích đã thoả thuận với NH, không
trái quy định của PL và các quy định khác của NH cấp trên.
Đối với một khoản tiền cho vay, NH phải đối mặt với nhiều nguy cơ, có thể là do
KH cố tình không trả nợ, hoặc có thể là do bản thân KH cũng gặp phải những rủi ro
không lường trước được, hoặc cũng có thể là do những rủi ro chính từ phía NH như lãi
suất thị trường thay đổi quá nhanh, nền kinh tế bất ổn, tình hình an ninh chính trị không
ổn định… Ngoài ra, rủi ro trong hoạt động KD của các NHTM thường có hiệu ứng dây
chuyền, khi xảy ra rủi ro ở một NH thì nguy cơ đổ vỡ cả hệ thống NHTM của một quốc
gia là rất lớn. Chính vì thế mà hoạt động cho vay của các NHTM phải tuân theo những
quy tắc rất chặt chẽ và chịu sự giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước. Một trong
những biện pháp để hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các NHTM là thực hiện
nghiêm túc các nguyên tắc quản lý tiền cho vay:
1) Thực hiện đúng quy trình tín dụng.
Quy trình tín dụng của NH được hiểu là quá trình trước, trong và sau khi cho vay.
Quá trình cho vay bắt đầu từ khi NH nhận được đơn yêu cầu vay vốn của KH, NH sẽ
tiến hành thu thập xử lý thông tin về KH để ra quyết định có đồng ý cho vay hay không,
nếu đồng ý thì mức cho vay là bao nhiêu, lãi suất, thời hạn và một số điều kiện khác,
nếu không đồng ý thì phải trả lời cho KH biết lý do. NH có thể tiến hành thu thập thông
tin về KH thông qua nhiều cách khác nhau như phỏng vấn trực tiếp, mua hoặc tìm kiếm
thông tin qua các trung gian và từ các báo cáo mà KH cung cấp. Sau khi thu thập thông
tin, NH cần tiến hành phân tích KH thông qua đánh giá về TS của KH, đánh giá các
khoản nợ và phân tích luồng tiền. Sau khi đánh giá đưa ra quyết định cho vay và tiến
hành các thủ tục pháp lý giải ngân cho KH, NH tiếp tục theo dõi việc sử dụng vốn của
KH: sử dụng tiền vay có đúng mục đích, đúng tiến độ hay không; quá trình SXKD có
Luận văn tốt nghiệp 4 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
thay đổi gì bất lợi không, có dấu hiệu thua lỗ hay lừa đảo không... Nếu các thông tin
phản ánh chiều hướng tốt cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo, ngược lại
thì NH cần tiến hành các biện pháp ngăn chặn kịp thời nguy cơ xảy ra rủi ro như thu hồi
nợ trước hạn, ngừng giải ngân, yêu cầu KH bổ sung thêm TS thế chấp, giảm số tiền
vay… trong từng trường hợp cụ thể. Thực hiện đúng quy trình tín dụng tạo điều kiện để
NH có thể đáp ứng tốt nhu cầu của KH đồng thời tạo được mối quan hệ tín dụng lâu dài.
2) Sàng lọc và giám sát.
Một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến sự vỡ nợ cho các NHTM đó là lựa
chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Lựa chọn đối nghịch xảy ra trước khi giao dịch được
thực hiện, khi những người đi vay có khả năng để lại hậu quả không mong muốn nhất
(tức là không trả được nợ) lại là những người tích cực tìm vay nhất và do vậy có nhiều
khả năng được lựa chọn để cho vay nhất. Rủi ro đạo đức xảy ra trong khi thực hiện giao
dịch, khi người đi vay thực hiện những hoạt động không đúng với ý đồ của NH và ít có
khả năng hoàn trả khoản vay. Lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức là do tình trạng
thông tin bất đối xứng gây ra.
Sàng lọc: Nhằm thực hiện việc sàng lọc một cách có hiệu quả, các NHTM phải
tập hợp thông tin tin cậy về những KH triển vọng, tiến hành phân tích, thẩm định một
cách có hiệu quả. KH là một yếu tố biến thiên trong mọi đề nghị cho vay. Với một KH
cá nhân, NH đặc biệt xem xét các khoản cho vay trong quá khứ có hoàn trả đúng thoả
thuận hay không. Với KH DN, bên cạnh việc quan tâm tới lịch sử các tài khoản, NH cần
đảm bảo KH là những người có kinh nghiệm trong công việc, có trình độ quản lý cần
thiết để điều hành DN và tái đầu tư lợi nhuận vào DN. Tuy rằng mọi đề nghị vay vốn
đều phải “tự mình đứng vững” - tức là phải đủ tốt để không cần một sự đảm bảo nào
nhưng NH vẫn thường yêu cầu KH phải thực hịên các biện pháp bảo đảm tiền vay.
Giám sát: Khi nhận được tiền vay của NH, người vay có thể sử dụng khoản tiền
cho vay vào những hoạt động KD mạo hiểm dẫn đến mất khả năng thanh toán. Chính vì
thế NH thường đưa ra các hợp đồng tín dụng trong đó quy định rõ những điều khoản
nhằm hạn chế người vay sử dụng tiền vay vào những hoạt động rủi ro. Trường hợp
Luận văn tốt nghiệp 5 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
người vay không tuân thủ những điều khoản ghi trong hợp đồng thì NH có thể thực hiện
cưỡng chế theo những điều khoản đã ghi trong hợp đồng.
3) Quan hệ khách hàng.
Một trong những nguyên lý quan trọng của việc quản lý NH đó là quan hệ lâu dài
với KH từ đó nắm bắt thông tin về KH một cách chính xác hơn. Nếu một KH có nhu
cầu vay tiền đã có một tài khoản hoặc các khoản cho vay khác với NH trong một thời
gian dài, thì NH sẽ dễ dàng biết nhiều thông tin về họ. Những số dư trong tài khoản séc
hay tiết kiệm sẽ cho NH biết về tiềm năng TC của KH hay việc hoàn trả các khoản vay
cũ cho NH biết được tư cách của KH. Quan hệ KH lâu dài không chỉ giúp NH giảm chi
phí thu thập thông tin cũng như chi phí giám sát mà còn giúp KH giảm chi phí lãi vay.
Vì vậy KH luôn cố gắng tránh những hoạt động rủi ro để không làm phật lòng NH. Như
vậy, quan hệ với KH lâu dài giúp NH có thể đối phó với những bất ngờ về rủi ro đạo
đức không thể lường trước được.
Các NHTM cũng xây dựng mối quan hệ lâu dài và tập hợp thông tin bằng cách
đưa ra hạn mức tín dụng cho KH. Việc cấp cho KH một hạn mức tín dụng vừa tạo điều
kiện thuận lợi trong hoạt động KD cho KH có nhu cầu vay vốn thường xuyên vừa giúp
NH có thể kịp thời đưa ra quyết định ngừng giải ngân nếu thấy có những dấu hiệu có thể
làm mất khả năng thanh toán của KH, đảm bảo an toàn cho khoản tín dụng mới. Lợi ích
của việc này đối với NH là ở chỗ, hạn mức tín dụng sẽ đưa đến một mối quan hệ lâu dài
và tạo điều kiện dễ dàng cho việc tập hợp thông tin.
4) Thế chấp tài sản và số dư bù.
Như đã nói ở trên, mọi đề nghị vay vốn đều phải “tự mình đứng vững”, nhưng
trong nhiều trường hợp NH vẫn yêu cầu KH phải có TSĐB khi nhận tín dụng, bởi vì KH
luôn phải đối mặt với rủi ro trong KD, có thể mất khả năng trả nợ cho NH. Những biến
cố không mong đợi có thể gây cho NH những tổn thất lớn. Yêu cầu TSĐB, NH muốn có
được nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất là thu nhập từ hoạt động KD không đảm
bảo trả được nợ. Có 3 yêu cầu đối với bất cứ loại đảm bảo nào để được NH chấp nhận
đó là: dễ định giá, dễ cho NH quyền được sở hữu hợp pháp, dễ tiêu thụ hay thuận tiện
cho việc tiêu thụ và nếu giá trị vật đảm bảo tăng lên theo thời gian thì càng tốt. Thông
Luận văn tốt nghiệp 6 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
thường NH chia TSĐB thành hai loại: TS thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của KH
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba cho KH; TS được hình thành từ chính nguồn tài trợ của
NH.
Những bắt buộc về TSĐB đối với khoản tiền vay là một trong những công cụ
quan trọng để hạn chế rủi ro, làm giảm bớt hậu quả lựa chọn đối nghịch do nó có thể
giảm các tổn thất của người vay không trả được nợ. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng
TSĐB chỉ mang tính bảo hiểm chứ không phải NH dựa vào đó để cho KH vay. Thông
thường khi rủi ro xảy ra, NH phải tiến hành phát mại TS, nhưng TS phát mại thường
khó bán trên thị trường vì nhiều lý do và thủ tục để được phát mại TS cũng phức tạp,
mất nhiều thời gian. Hơn nữa, một NH nếu đăng báo phát mại TS nhiều cũng làm giảm
uy tín của NH đó trên thị trường, KH sẽ nhận thấy khả năng quản lý yếu kém của NH,
hình ảnh của NH đó sẽ bị mờ đi, hoạt động huy động vốn vì thế mà sẽ không thu hút
được KH và ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NH. Thông thường, NH phải đứng
trước lựa chọn là một DA có tính khả thi nhiều khi không có đủ TSĐB nhưng một DA
có đủ TSĐB nhiều khi lại không khả thi. Như vậy, lựa chọn bất kỳ một DA nào cũng có
nguy cơ xảy ra rủi ro cho NH. Do đó NH phải xác định được mức độ rủi ro mà mình có
thể chấp nhận để lựa chọn DA thích hợp.
Trong một số trường hợp NH không đòi hỏi đảm bảo dưới hình thái hàng hoá hay
bảo lãnh. Các loại đảm bảo này đều gắn liền với thủ tục phức tạp, không có lợi cho NH
lẫn KH. Hơn nữa, NH dự tính, nếu rủi ro xảy ra cho KH thì tổn thất cũng chỉ chiếm một
phần giá trị của món vay. Trong trường hợp này NH có thể yêu cầu đảm bảo bằng tiền
gửi ký quỹ (số dư bù). Đảm bảo bằng ký quỹ thủ tục đơn giản, tuy nhiên lại làm đọng
vốn của KH và trong trường hợp món vay lớn, ngân quỹ của KH nhỏ hoặc cần thiết để
lưu chuyển, tỷ lệ ký quỹ cao hơn thì hình thức này lại không phù hợp.
5) Hạn chế tín dụng.
Một phương pháp giúp cho các NHTM đối phó với lựa chọn đối nghịch và rủi ro
đạo đức là hạn chế tín dụng. Hạn chế tín dụng có 2 dạng: thứ nhất diễn ra khi NH từ
chối bất kỳ một yêu cầu vay vốn nào của KH, thứ hai diễn ra khi NH sẵn lòng cho vay
nhưng hạn chế dưới mức mà KH mong muốn.
Luận văn tốt nghiệp 7 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
6) Vốn ngân hàng và tính tương hợp.
Trong các nguyên tắc đã đề cập ở trên, tất cả chỉ nhằm hạn chế rủi ro cho bản
thân các NHTM. Song trên thực tế thì ngay cả NH cũng có thể gây ra rủi ro cho người
gửi tiền. Do vậy, làm thế nào để những người gửi tiền có thể tin rằng NH – nơi họ gửi
tiền sẽ trả tiền lãi, vốn hoặc các dịch vụ mà NH đã hứa. Để giải quyết vấn đề này có 3
cách:
Thứ nhất: Vốn tự có của NHTM. NH sẽ mất mát nhiều hơn khi xảy ra phá sản
nếu lượng vốn tự có lớn và do vậy NH sẽ phải cố gắng thực hiện những hoạt động thích
hợp để có lợi nhuận và thanh toán đủ cho người gửi tiền. NH thực hiện cung cấp những
thông tin như những người gửi tiền mong đợi và những người có tiền sẵn lòng gửi tiền
vào NH như NH mong muốn.
Thứ hai: Đa dạng hoá. Bất kỳ hoạt động KD nào cũng chứa đựng rủi ro nhất là
trong lĩnh vực KD tiền tệ như các NHTM. Chính vì thế mà NH muốn thu hút được KH
gửi tiền phải chứng minh cho họ thấy được độ rủi ro hợp lý trong các hoạt động KD của
mình bằng cách đa dạng hoá danh mục cho vay. Việc đa dạng hoá là một nguyên lý
quan trọng của việc quản lý NH bởi vì nó làm cho quan hệ giữa NH với những người
gửi tiền trở thành tương hợp ý muốn. Tuy vậy, NH cần phải cân đối các lợi ích và chi
phí giữa việc đa dạng hoá và chuyên môn hoá.
Thứ ba: Việc điều hành của Chính phủ. Để bảo vệ lợi ích của người gửi tiền,
Chính phủ thường đưa ra các quy định buộc NHTM phải tiến hành đa dạng hoá và quy
định tỷ lệ tối đa mà NHTM có thể nhận tiền gửi dựa trên vốn tự có của nó. Đồng thời,
Chính phủ cũng đặt ra quy định về tỷ lệ tối thiểu mà NH có thể cho vay so với số tiền
gửi huy động được. Việc điều hành của Chính phủ là một phương cách khiến cho mối
quan hệ của một KH với những người gửi tiền trở thành tương hợp ý muốn. Tuy nhiên
sự điều hành của Chính phủ chỉ ở tầm vĩ mô để đảm bảo quyền tự chủ cho các NHTM.
1.2. Vai trò của cho vay.
 Đối với ngân hàng.
Tiền vay là khoản nợ đối với người vay nhưng là TS đối với NH và nó mang lại
thu nhập cho NH. So với các TS khác, nhìn chung tiền cho vay kém lỏng hơn bởi vì
Luận văn tốt nghiệp 8 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
chúng không thể chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản cho vay mãn hạn. Các
khoản tiền cho vay cũng có xác suất vỡ nợ cao hơn so với những TS khác. Do thiếu tính
lỏng và khả năng vỡ nợ cao nên các NHTM thu được nhiều lợi nhuận nhất từ các khoản
cho vay. Như vậy, ta có thể thấy cho vay là khoản mục có khả năng mang lại nhiều thu
nhập nhất nhưng cũng chứa đựng nhiều nguy cơ rủi ro nhất cho các NHTM.
Rủi ro từ hoạt động cho vay là rất lớn chính vì thế nó có vai trò quyết định đối
với sự tồn tại và phát triển của các NHTM. Rủi ro nếu xảy ra sẽ làm giảm thu nhập dự
tính và có thể gây thua lỗ thậm chí là dẫn đến sự phá sản của NH. Cho vay ảnh hưởng
rất lớn đến chiến lược hoạt động của NH như dự trữ, đầu tư…
 Đối với nền kinh tế.
Nguồn vốn của NH là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ
đối với sự phát triển của bản thân các DN mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Sự hoạt động và phát triển của các công ty, các DN đều gắn liền với các dịch vụ TC do
các NHTM cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng. Có thể nói
rằng, không có một DN nào hoạt động tốt, muốn tồn tại vững chắc trên thương trường
mà không phải vay vốn NH. Trong quá trình hoạt động, các DN thường vay NH để đảm
bảo nguồn TC cho các hoạt động SXKD, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các DA mở
rộng hoặc đầu tư chiều sâu của DN. Nguồn vốn của NH giúp DN có thể đa dạng hoá
nguồn vốn huy động cho hoạt động SXKD của mình. Bên cạnh đó, nguồn vốn vay NH
còn có ưu thế so với vốn cổ phần đó là lãi vay NH sẽ được tính vào chi phí, có thể giúp
DN tiết kiệm thuế.
Đối với KH là cá nhân, hộ gia đình không chỉ được NH cung cấp nguồn vốn
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, phục vụ đời sống hàng ngày như mua sắm, xây dựng
nhà cửa, phương tiện đi lại, đi du học… mà các hoạt động SXKD cũng được NH hỗ trợ
rất lớn. Trong giai đoạn hiện nay, với lợi thế quy mô nhỏ bé nên dễ thay đổi, dễ thích
nghi với những biến động của thị trường cũng như những thay đổi, tiến bộ nhanh chóng
của khoa học công nghệ, khu vực kinh tế dân doanh cũng đang có những bước phát triển
mới góp phần không nhỏ vào sự phát triển của kinh tế đất nước. Chính vì nhận thức
được điều này nên nhiều NHTM đã rất quan tâm để hỗ trợ về vốn cho khu vực này mặc
Luận văn tốt nghiệp 9 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
dù chưa thể đáp ứng được nhu cầu về vốn của họ. Đối với KH là cá nhân, hộ gia đình thì
các NH thường áp dụng đa dạng các hình thức cho vay hơn so với các đối tượng khác,
tạo điều kiện để những KH này có thể tiếp cận nguồn vốn NH dễ dàng hơn.
Nguồn vốn vay của NH là một bộ phận không thể thiếu của thị trường TC, là
kênh huy động vốn quan trọng của các DN. Trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay khi
mà thị trường vốn còn chưa thực sự phát triển, thị trường chứng khoán mới bắt đầu đi
vào hoạt động thì có thể nói nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn quan trọng hàng đầu đối
với các DN cũng như các cá nhân thực sự muốn phát triển KD bền vững. Chính vì thế
thị trường tín dụng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với không chỉ sự phát triển của
nền kinh tế đất nước mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường TC vốn
đang có nhiều yếu kém của nước ta.
2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại.
Có nhiều cách để phân loại các hình thức cho vay nhưng ở đây ta chỉ xét
cách phân loại cho vay theo thời gian (bao gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung
và dài hạn) và phân loại theo yêu cầu có đảm bảo hay không (bao gồm cho vay có
đảm bảo và cho vay không có đảm bảo).
2.1. Cho vay ngắn hạn.
Cho vay ngắn hạn là nghiệp vụ tín dụng có thời hạn cho vay dưới 12 tháng, nhằm
tài trợ cho TS lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, DN, hộ sản
xuất. Nghiệp vụ này được các NH áp dụng trong những trường hợp sau:
- tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước bằng cách mua trái phiếu do kho bạc
phát hành. Đây là hình thức cho vay khá an toàn bới vì khả năng hoàn trả của Nhà nước
là rất cao.
- đáp ứng nhu cầu thanh khoản đối với các tổ chức tín dụng như các NH, các
công ty TC, quỹ tín dụng… bắng cách cho vay trực tiếp trên thị trường liên NH hoặc
cho vay gián tiếp thông qua nắm giữ chứng khoán. Các khoản cho vay này chủ yếu dựa
trên uy tín của người vay, số ít dựa trên bảo lãnh của bên thứ ba hoặc dựa trên cầm cố
chứng khoán thanh khoản cao.
Luận văn tốt nghiệp 10 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
- tài trợ nhu cầu vốn tăng thêm cho SXKD của các DN. Đây là đối tượng KH
chiếm số lượng đông nhất và là đối tượng KH chiến lược mà tất cả các NHTM đều
hướng tới. Phần lớn các khoản vay này đều phải có đảm bảo bằng thế chấp hoặc cầm cố
TS.
Các DN, các công ty và hộ sản xuất muốn được vay vốn đều phải làm đơn trình
bày với NH kế hoạch sử dụng tiền vay. Qua đó, NH tiến hành phân tích tín dụng, xác
định hiệu quả sử dụng vốn vay, rủi ro, khả năng và nguồn trả nợ cùng các điều khoản có
liên quan. Trong trường hợp người vay không lập kế hoạch từ trước, NH sẽ tính toán
nhu cầu cho vay cho từng phương án để tính số tiền cần vay. Nếu trường hợp NH không
phân tích được phương án vay do thông tin không đầy đủ, không chính xác hoặc rủi ro
lớn thì NH có thể quyết định số tiền cho vay dựa trên TSĐB.
Đối với nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, NH có thể áp dụng nhiều hình thức khác
nhau như cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có
hoặc không cần đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển.
2.2. Cho vay trung và dài hạn.
Cho vay trung và dài hạn là nghiệp vụ tín dụng có thời hạn cho vay lần lượt là từ
12 đến 60 tháng và trên 60 tháng. Các NHTM thường thực hiện cho vay trung và dài
hạn trong những trường hợp sau:
- tài trợ cho nhu cầu mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua
công nghệ… của các DN. Hiện nay với tốc độ phát triển nhanh của khoa học công nghệ,
để tồn tại và phát triển nhu cầu vốn trung và dài hạn của các DN ngày càng có xu hướng
tăng nhanh.
- phục vụ cho hoạt động đầu tư phát triển của Nhà nước. Hoạt động đầu tư phát
triển của Nhà nước ngày càng có vai trò quan trọng, tạo điều kiện để xây dựng cơ sở hạ
tầng, hỗ trợ các DN phát triển.
- tài trợ cho nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện
vận chuyển… của người tiêu dùng.
NH có thể áp dụng các hình thức cho vay sau:
Luận văn tốt nghiệp 11 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
 Mua trái phiếu: nhằm tài trợ cho quá trình hình thành TS cố định của các DN,
NH mua trái phiếu trung và dài hạn của DN. Khi mua trái phiếu, NH tính toán đến các
yếu tố như kỳ hạn và khả năng chuyển đổi của trái phiếu, lãi suất trái phiếu, tình hình
TC của DN, các kế hoạch tương lai…
 Cho vay theo DA:
Khi KH có kế hoạch mua sắm, xây dựng TSCĐ… nhằm thực hiện DA nhất định
thì có thể xin vay NH. Khi đó NH yêu cầu KH phải xây dựng DA, thể hiện mục đích, kế
hoạch đầu tư cũng như quá trình thực hiện DA. Phân tích và thẩm định DA là cơ sở để
NH quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của DN.
DA bao gồm nhiều yếu tố như phân tích thị trường, nguồn nhân lực, địa điểm.
công nghệ, quy trình sản xuất, phân tích TC… trong đó phân tích TC là mối quan tâm
hàng đầu của NH. NH còn đặc biệt quan tâm tới thời gian và các nguồn có thể dùng để
trả nợ cho NH nên trong những trường hợp không phải là DA mới, NH luôn phân tích
TC người vay kết hợp với phân tích DA. Một DN có tình hình TC lành mạnh là cơ sở
quan trọng để NH quyết định cho vay bởi vì các nguồn thu khác của người vay có thể sẽ
trở thành nguồn trả nợ cho NH bên cạnh nguồn thu của DA.
Trong trường hợp quy mô tín dụng lớn, nếu NH là người cấp tín dụng duy nhất
thì rủi ro sẽ rất cao. Vì thế, việc có nhiều bên tham gia cấp tín dụng sẽ san sẻ rủi ro cho
NH. Đây gọi là hình thức cho vay đồng tài trợ, tuy có thể san sẻ rủi ro cho NH nhưng lại
đòi hỏi NH phải phân tích kỹ các nguồn và chủ tài trợ.
Việc cho vay theo DA thường được kết hợp với các hình thức cấp tín dụng khác
như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hợp đồng… Các DA thường cần nguồn vốn lớn,
NH cần có thời gian huy động vốn và trả lãi huy động, do vậy NH thường yêu cầu KH
phải trả phí trong trường hợp trả trước hạn, phí cam kết trả một phần chi phí huy động
vốn của NH trong trường hợp đã ký hợp đồng tín dụng nhưng thực tế lại không vay.
 Cho vay tiêu dùng: nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền
như nhà cửa, phương tiện vận chuyển… Do nhu cầu tiêu dùng ngày càng gia tăng mạnh
mẽ, người tiêu dùng có thu nhập đều đặn, ổn định bên cạnh đó nhiều công ty TC cạnh
Luận văn tốt nghiệp 12 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
tranh với NH trong cho vay làm cho thị phần cho vay các DN của NH bị giảm sút nên
NH buộc phải mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng để tăng thu nhập.
NH có thể cho vay trực tiếp đối với người mua hoặc thông qua tài trợ cho các DN
bán lẻ hàng lâu bền, các công ty xây dựng để các DN này bán hàng trả góp.
Tuy nhiên, cho vay tiêu dùng có rủi ro rất cao do người vay có thể gặp những rủi
ro bất ngờ không thể lường trước như ốm đau, mất việc… Vì thế đây là loại cho vay có
mức lãi suất cao nhất và NH thường yêu cầu người vay phải mua một số loại bảo hiểm
nhất định.
2.3. Cho vay có đảm bảo.
KH luôn phải đối đầu với rủi ro trong KD, có thể mất khả năng trả nợ cho NH,
gây ra những tổn thất lớn cho NH. Chính vì thế, phần lớn các khoản vay của NH đều
phải có TSĐB. TSĐB có thể thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của KH hay của bên bảo
lãnh, hoặc TS được hình thành từ nguồn tài trợ của NH. NH có thể chấp nhận các loại
TS sau để làm đảm bảo cho các khoản vay:
- đảm bảo bằng hàng hóa trong kho như nguyên, nhiên vật liệu, sản phẩm… Khi
nhận các TS này, NH phải tính đến khả năng kiểm soát hàng hóa đảm bảo, tính thị
trường của hàng hóa đảm bảo, khả năng bảo quản, định giá hàng hóa đảm bảo và hàng
hóa phải được bảo hiểm.
- đảm bảo bằng TSCĐ như nhà máy, trang thiết bị sản xuất, quyền sử dụng đất…
Các nhân tố tác động tới việc chấp nhận TS làm đảm bảo cho các khoản tài trợ: quyền
sở hữu hợp pháp hoặc quyền thuê lâu dài, tính thị trường của TSĐB và bảo hiểm cho TS
cố định.
- đảm bảo bằng các hợp đồng chi trả của người thứ ba. Khi nhận loại TS này làm
đảm bảo, NH tính đến các nhân tố: khả năng chi trả của người thứ ba, khả năng thực
hiện hợp đồng với người thứ ba của KH và các cam kết có khả năng chuyển nhượng.
- đảm bảo bằng chứng khoán: quản lý chứng khoán thuận tiện đối với NH nhưng
NH phải xét đến tính an toàn cũng như tính thanh khoản của chứng khoán.
- đảm bảo bằng bảo lãnh của bên thứ ba phải dựa vào uy tín và TSĐB của người
bảo lãnh.
Luận văn tốt nghiệp 13 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
- đảm bảo bằng số dư bù: là loại đảm bảo có lợi cho cả NH lẫn KH do thủ tục khá
đơn giản.
Có hai nghiệp vụ đảm bảo là cầm cố và thế chấp:
- cầm cố là hình thức mà người vay phải chuyển quyền kiểm soát TSĐB sang cho
NH trong thời gian cam kết. Cầm cố thích hợp với những TS mà NH có thể kiểm soát
và bảo quản tương đối chắc chắn nhưng không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của
người vay. NH thường yêu cầu khi xét thấy việc KH nắm giữ TSĐB là không an toàn
cho NH, đó là những TS mà KH dễ bán, dễ chuyển nhượng.
- thế chấp: là hình thức mà người vay chỉ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở
hữu hoặc sử dụng các TSĐB cho NH nắm giữ trong thời gian cam kết. Đây là hình thức
phổ biến hơn, đặc biệt là đối với DN và người tiêu dùng.
2.4. Cho vay không có đảm bảo.
Là hình thức cho vay dựa trên uy tín của bản thân KH tuy nhiên nó chiếm tỷ lệ
rất nhỏ trong hoạt động cho vay của các NHTM. Như đã nói ở trên, bất kỳ một DN nào
cũng luôn phải đối mặt với rủi ro trong KD nhất là trong môi trường cạnh tranh ngày
càng gay gắt giữa các DN như hiện nay, chính vì thế NH thường chỉ áp dụng cho vay
không có đảm bảo đối với các KH lớn, có uy tín và có quan hệ lâu dài với NH.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
3.1. Nhân tố từ phía ngân hàng.
Thứ nhất: Chính sách tín dụng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản nhất, giữ vị trí quan trọng nhất và có quy
mô lớn trong hoạt động của NH. Với tầm quan trọng và quy mô lớn, hoạt động này
được thực hiện theo một chính sách rõ ràng, được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều
năm, đó là chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng là cơ sở cho hoạt động tín dụng của
NH. Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh cho vay của một NH, và là tài liệu hướng
dẫn chung cho cán bộ tín dụng và nhân viên NH, tăng cường chuyên môn hóa trong
phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng, nhằm hạn chế rủi
ro và tăng khả năng sinh lời. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng: nhu cầu
tín dụng của KH; khả năng sinh lời và rủi ro tiềm ẩn của KH; các chính sách của Chính
Luận văn tốt nghiệp 14 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
phủ và NHNN như chính sách ưu đãi, chính sách tỷ giá…; quy mô, kết cấu, tính ổn định
của các khoản tiền gửi, khả năng vay mượn của NH, quy mô chủ sở hữu…
Mỗi NH tự xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng dựa trên những quy
định của NHNN và tình hình thực tế của NH. Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố
liên quan đến lãi suất cho vay, hạn mức tín dụng đối với KH, phương thức cho vay,
TSĐB…mọi hoạt động cho vay đều phải tuân theo chính sách tín dụng do đó nó có ảnh
hưởng rất lớn tới hoạt động cho vay của một NH. Để mở rộng hoạt động tín dụng thì
NH phải xây dựng cho mình một chính sách tín dụng đúng đắn, linh hoạt, phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế.
Thứ hai: Quy trình tín dụng.
Quy trình tín dụng là việc quy định các bước cụ thể phải thực hiện trong quá
trình cho vay, từ khi nhận được hồ sơ xin vay của KH cho đến khi thu hết nợ kết thúc
hợp đồng. Do đó, để mở rộng và nâng cao chất lượng của khoản vay thì NH cần xây
dựng một quy trình tín dụng hợp lý sao cho vừa bảo đảm thực hiện món vay vừa an toàn
khoản vay, tạo điều kiện thuận lợi cho KH tránh những thủ tục không cần thiết.
 Quy trình tín dụng thường bao gồm 4 bước sau:
Bước 1: Phân tích trước khi cấp tín dụng.
Đây là bước quan trọng nhất, quyết định chất lượng của phân tích tín dụng. Nội
dung chủ yếu là thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến KH bao gồm năng lực sử
dụng vốn vay và uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận và nguồn ngân quỹ, quyền sở hữu các
TS và các điều kiện kinh tế khác có liên quan đến người vay. Nội dung phân tích bao
gồm: đánh giá TS của khách hàng, đánh giá các khoản nợ, phân tích luồng tiền và các
điều kiện kinh tế. NH cần quan tâm tới các yếu tố cấu thành nên TS của KH như ngân
quỹ, các chứng khoán có giá, hàng hoá trong kho, TS cố định… là những nguồn có thể
dùng để trả nợ cho NH. Đối với các khoản nợ thì NH xem xét về thời gian của các
khoản nợ đó, vị trí của NH trong danh sách chủ nợ vì nếu NH giữ vị trí quan trọng nhất
thì sẽ dễ dàng thu được nợ hơn ở các vị trí khác. Ngoài ra, NH cũng xem xét các khoản
nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo và các loại nợ khác. Trong quá trình phân tích này, NH
Luận văn tốt nghiệp 15 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
thường sử dụng các tỷ lệ đo thanh khoản, tỷ lệ đo khả năng tạo lợi nhuận, tỷ lệ đo khả
năng tài trợ bằng vốn tự có, tỷ lệ đo rủi ro để đánh giá KH.
Bước 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa người nhận tài trợ (KH)
và NH, với nội dung chủ yếu là NH cam kết cấp cho KH một khoản tín dụng (hoặc hạn
mức tín dụng) trong một khoảng thời gian và lãi suất nhất định. Hợp đồng tín dụng là
văn bản mang tính pháp lý xác định quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín
dụng, đồng thời phải tuân thủ các điều khoản của các Luật, Quy định. Nội dung chính
của hợp đồng tín dụng bao gồm: các thông tin về KH như tên, tuổi, địa chỉ, tư cách pháp
nhân (nếu có), mục đích sử dụng vốn vay; số lượng tín dụng tức là số tiền mà NH cam
kết cấp cho KH; lãi suất, phí, thời hạn tín dụng, các loại đảm bảo, điều kiện và kỳ hạn
giải ngân, điều kiện thanh toán và các điều kiện khác như thoả thuận giữa NH và KH về
phong toả TS, điều kiện và phương thức phát mại TS…
Bước 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng.
Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết, NH phải có trách nhiệm cấp tiền (hoặc
thanh toán tiền hàng) cho KH như thoả thuận. Kèm theo việc cấp tín dụng, NH kiểm
soát KH: sử dụng tiền vay có đúng mục đích, đúng tiến độ hay không, quá trình SXKD
có những thay đổi bất lợi gì, có dấu hiệu lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ… Quá trình này
cho phép NH thu thập thêm các thông tin về KH. Nếu các thông tin phản ánh chiều
hướng tốt, cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo. Ngược lại, khi chất lượng
khoản vay bị đe doạ, NH cần có biện pháp xử lý kịp thời. NH được quyền thu hồi nợ
trước hạn, ngừng giải ngân, nếu bên vay vi phạm hợp đồng tín dụng. NH có thể yêu cầu
KH bổ sung TS thế chấp, giảm số tiền vay… khi thấy cần thiết để đảm bảo an toàn tín
dụng. Tài trợ gắn liền với kiểm soát KH giúp NH ngăn chặn các ý đồ sử dụng tiền vay
không đúng mục đích của KH. Đây cũng là quá trình NH thu thập thêm thông tin bổ
sung cho các thông tin ở bước 1 và ra quyết định cụ thể nhằm ngăn chặn kịp thời các
khoản tín dụng xấu.
Bước 4: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới.
Luận văn tốt nghiệp 16 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
Quan hệ tín dụng kết thúc khi NH thu hồi hết nợ gốc và lãi. Các khoản tín dụng
đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn. Trường hợp khách
hàng cố tình lừa đảo NH, cố tình nợ nần dây dưa, hoặc làm ăn yếu kém không còn
phương cách cứu vãn, NH áp dụng phương án thanh lý, tức là sử dụng các biện pháp có
thể được để thu hồi nợ, bao gồm phong toả và bán các TS thế chấp, tước đoạt các khoản
tiền gửi… Trường hợp KH có khó khăn về TC, song vẫn kiên quyết tìm cách khắc phục
để trả nợ, NH thường áp dụng phương án khai thác, bao gồm gia hạn nợ, giảm lãi hoặc
cho vay thêm.
Thứ ba: Công tác huy động vốn.
Bản chất của NH là đi vay để cho vay, do vậy muốn thực hiện hoạt động cho vay
thì trước hết phải thực hiện huy động vốn. NH muốn mở rộng và nâng cao chất lượng
của khoản vay thì nguồn vốn mà NH huy động được phải đủ lớn về số lượng và đảm
bảo về chất lượng. Để huy động được vốn lớn NH phải đa dạng hóa các hình thức huy
động như: huy động tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các loại giấy tờ có
giá…Nếu một NH huy động được vốn lớn và lãi suất đầu vào thấp thì khả năng mở rộng
cho vay của NH đó sẽ cao. Huy động vốn là cơ sở hoạt động tín dụng đối với các thành
phần kinh tế trong nền kinh tế.
Thứ tư: Chính sách lãi suất.
Lãi suất mà NH đưa ra để cho vay chính là một phần chi phí của các DN vay
vốn, là giá cả của khoản vay. Vì vậy lãi suất là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn đối với
nhu cầu sử dụng vốn của các DN nói riêng và các KH vay vốn NH nói chung. Do đó, để
mở rộng cho vay thì các NH phải đưa ra được một chính sách lãi suất phù hợp với điều
kiện phát triển trong từng giai đoạn, sao cho vừa bảo đảm được mục tiêu mà NH đề ra
vừa khuyến khích được các KH sử dụng vốn vay từ NH. Hiện nay, NHNN đã cho phép
các NHTM được cho vay theo lãi suất thoả thuận, do vậy các NH có thể sử dụng nó như
một công cụ tốt để thu hút KH. Chẳng hạn đối với KH có quan hệ tín dụng thường
xuyên thì NH có thể áp dụng mức lãi suất thấp hơn mức bình thường. Việc sử dụng
chính sách lãi suất linh hoạt vừa thu hút được KH, đem lại lợi ích cho NH đồng thời nó
cũng đem lại lợi ích cho người sử dụng vốn.
Luận văn tốt nghiệp 17 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
Thứ năm: Các phương thức cho vay.
Hiện nay theo quy định của NHNN thì các NHTM được áp dụng nhiều phương
thức cho vay đối với KH. Tuy nhiên trên thực tế thì các NHTM vẫn chưa đa dạng hoá
các hình thức cho vay nhất là phương thức cho vay theo hạn mức và cho thuê TC vẫn
còn chưa được thực hiện rộng rãi. Việc mở rộng hơn nữa các hình thức cho vay đối với
KH là cơ hội để NH có thể hạn chế rủi ro đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để KH có thể
tiếp cận được nguồn vốn của NH.
3.2. Nhân tố từ phía khách hàng.
Để có thể vay được vốn của NH thì trước hết KH phải thoả mãn được điều kiện
vay vốn. Trong đó điều kiện quan trọng nhất là TSĐB và phương án sử dụng vốn vay
của KH, tỷ lệ vốn tự có của KH. TSĐB là nguồn trả nợ thứ hai cho NH khi có rủi ro xảy
ra, chính vì thế NH luôn quan tâm đến yếu tố này, không chỉ ở tính chất hợp pháp của
TSĐB mà còn ở giá trị của nó so với nhu cầu vay vốn của KH. Các điều kiện về tỷ lệ
vốn tự có của KH cũng rất quan trọng và tuỳ từng trường hợp mà NH quy định tỷ lệ cụ
thể nhưng thường không dưới 30%. Đây là điều kiện làm hạn chế rất lớn đến khả năng
có thể vay được vốn NH bởi vì các DN thường thiếu TSĐB, nếu có đủ thì lại thiếu các
giấy tờ quan trọng, còn các cá nhân thì lại chỉ được dùng quyền sử dụng đất để thế chấp
cho những khoản vay phục vụ SXKD còn các khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng
đang tăng nhanh thì lại chưa được dùng quyền sử dụng đất để thế chấp.
Ngoài ra, KH đến vay vốn NH nhất là các DN nhiều khi chưa đáp ứng được điều
kiện rất quan trọng mà NH đặt ra đó chính là các vần đề liên quan đến việc chứng minh
nguồn trả nợ cho NH. Chẳng hạn như rất ít các DN có khả năng trình bày rõ ràng các đề
xuất vay vốn cho các DA đầu tư hoặc phương án SXKD bởi vì phần lớn các chủ DN
chưa được đào tạo đầy đủ kiến thức về TC tín dụng. TSĐB chỉ là nguồn trả nợ thứ hai
khi nguồn trả nợ thứ nhất là từ thu nhập của hoạt động SXKD không đảm bảo trả được
nợ, chính vì thế chứng minh cho NH thấy được tính khả thi của các phương án, DA có
thể nói là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với KH. Ngoài ra các phương án KD của KH
chưa đủ hấp dẫn để có thể thu hút vốn của NH. Chính vì thế mà các NHTM ngần ngại
cho vay đối với những đối tượng KH này.
Luận văn tốt nghiệp 18 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
Mức độ tín nhiệm về TC và thương hiệu trong hoạt động của DNVVN chưa cao
là một trong những lý do khiến các NH ngần ngại trong việc cho các DN vay, nhất là
các khoản vay dài hạn. Phía NH tuy nới rộng cánh cửa cho DN qua hình thức cho vay
theo các phương án KD, vay tín chấp… nhưng vẫn còn hạn chế. Hiện nay, đối với các
khoản vay trung và dài hạn, các NH quy định mức vốn cho DN vay căn cứ trên cơ sở
chênh lệch giữa tổng nhu cầu vốn cần thiết hợp lý của DA với vốn huy động khác và
vốn tự có tham gia đầu tư vào DA của DN tối thiểu ở mức 30%. Chẳng hạn, quy định
vốn tự có tối thiểu 10% đối với các DA cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất và hợp lý
hoá sản xuất. Các DN hiện nay thiếu nhân lực đủ tầm để lập các DA khả thi vay vốn và
cũng có DN coi nhẹ khâu này. Vì thế, đã làm giảm mức độ tín nhiệm của NH đối với
DN. Mặt khác, việc thiếu minh bạch trong TC của DNVVN cũng là một trở ngại lớn
cho chính họ. Về phía DN, cần phải thay đổi cách thức quản trị DN; thực hiện công tác
kế toán theo chuẩn mực kế toán thống kê của Nhà nước; thực hiện kiểm toán hàng năm
để minh bạch tình hình TC … Đây là các điều kiện tiên quyết để DN tiếp cận vốn vay
NH. Mặt khác, việc thay đổi cách thức quản lý cũng sẽ giúp DN nâng cao hiệu quả phát
triển KD, nhất là trong bối cảnh các DN phải đương đầu với môi trường cạnh tranh ngày
một khốc liệt hơn.
3.3. Các nhân tố khách quan bên ngoài.
Ngoài những nhân tố xuất phát từ phía NH hay bản thân KH thì còn có những
yếu tố khách quan bên ngoài ảnh hưởng tới cơ chế chính sách của NH hoặc hiệu quả sử
dụng vốn của KH chẳng hạn như môi trường KD của KH, cơ chế chính sách của Nhà
nước hay sự cạnh tranh giữa các NHTM…
Môi trường KD là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả
hoạt động KD của KH. Môi trường KD thuận lợi sẽ là cơ hội để KH mở rộng hoạt động
KD và NH sẽ dễ dàng đầu tư vốn cho đối tượng KH này. Ngược lại nếu KD không
thuận lợi thì không những hoạt động KD của KH gặp khó khăn mà còn không thu hút
được nguồn vốn của NH.
Cơ chế chính sách của Nhà nước không chỉ là nhân tố ảnh hưởng đến chính sách
tín dụng của các NHTM mà còn ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của KH. Chẳng hạn
Luận văn tốt nghiệp 19 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C
như chính sách của Nhà nước hỗ trợ sự phát triển của các DNVVN sẽ tạo điều kiện cho
các DN này mở rộng hoạt động KD, có môi trường KD thuận lợi, từ đó có thể tiếp cận
được với nguồn vốn của KH.
Ngoài ra, một số nhân tố khác như sự cạnh tranh của các NH khác cũng ảnh
hưởng đến hoạt động cho vay. Sự cạnh tranh có thể làm cho một số NH giảm doanh số
cho vay, giảm thị phần… Chính vì thế mà các NHTM sẽ thực hiện chính sách KH theo
hướng mở rộng hơn, tạo điều kiện để KH dễ dàng tiếp cận nguồn vốn của NH hơn.
Luận văn tốt nghiệp 20 Dương Thị Hiền – Ngân hàng 45C