Miễn chấp hành hình phạt theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu địa bàn tỉnh đồng nai)

  • 107 trang
  • file .pdf
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Văn Thủy
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH
PHẠT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ................................................9
1.1 Nhận thức chung về các chế định có liên quan đến việc miễn chấp
hành hình phạt ................................................................................................9
1.2 Khái niệm các đặc điểm cơ bản và bản chất pháp lý hình sự của miễn
chấp hành hình phạt .....................................................................................14
1.2.1 Khái niệm miễn chấp hành hình phạt ..............................................................14
1.2.2 Các đặc điểm cơ bản và bản chất pháp lý hình sự của miễn chấp hành
hình phạt ........................................................................................................17
1.3 Phân biệt chế định miễn chấp hành hình phạt với các chế định pháp lý
hình sự khác có liên quan..............................................................................20
1.3.1 Với chế định hoãn chấp hành hình phạt ...........................................................20
1.3.2 Với chế định giảm mức hình phạt tù đã tuyên..................................................22
1.3.3 Với chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt ...............................................23
1.3.4 Với chế định miễn hình phạt............................................................................24
1.4 Các quy phạm của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về chế
định miễn chấp hành hình phạt (Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật
Bản và Cộng hòa Liên bang Đức ) ...............................................................25
1.4.1 Quy định trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga .............................................25
1.4.2 Quy định trong Bộ luật hình sự Trung Quốc .................................................31
1.4.3 Quy định trong Bộ luật hình sự Nhật Bản .....................................................34
1.4.4 Quy định trong Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức ............................36
Chương 2: CÁC QUY PHẠM VỀ CHẾ ĐỊNH MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH
PHẠT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI .........................................40
2.1 Vài nét về sự hình thành và phát triển của chế định miễn chấp hành hình
phạt trong pháp luật hình sự thực định Việt Nam từ sau Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 đến trước khi thông qua Bộ luật hình sự năm
1999 hiện hành ...............................................................................................40
2.1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến trước pháp
điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 ........................40
2.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 cho đến nay .....45
2.2 Các quy phạm của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành
về chế định miễn chấp hành hình phạt ......................................................47
2.2.1 Miễn toàn bộ hình phạt ..................................................................................47
2.2.2 Miễn chấp hành hình phạt do được đặc xá hoặc đại xá .................................51
2.2.3 Miễn chấp hành hình phạt trong trường hợp hoãn chấp hành hình phạt tù ...53
2.2.4 Miễn chấp hành hình phạt trong trường hợp tạm đình chỉ chấp hành
hình phạt tù.....................................................................................................58
2.2.5 Miễn chấp hành hình phạt bổ sung ................................................................61
2.2.6 Miễn chấp hành hình phạt tiền còn lại ...........................................................63
2.3. Thực tiễn áp dụng chế định miễn chấp hành hình phạt trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai ................................................................................................66
2.3.1 Khái quát hoạt động xét xử..............................................................................66
2.3.2 Đánh giá hoạt động xét xử và quyết định hình phạt ......................................68
2.3.3 Đánh giá tình hình áp dụng miễn chấp hành hình phạt trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai.........................................................................................................68
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG CỦA CHẾ ĐỊNH MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT ..................73
3.1 Giải pháp hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự thực định
hiện hành ......................................................................................................73
3.1.1 Quan điểm chỉ đạo và sự cần thiết phải sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự
năm 1999 ........................................................................................................73
3.1.2 Hoàn thiện chế định miễn chấp hành hình phạt .............................................74
3.2 Một số giải pháp khác ..................................................................................83
3.2.1 Tổng kết thực tiễn xét xử hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật hình sự .......83
3.2.2 Giải pháp tham gia của cơ quan tổ chức và gia đình vào việc giám sát
quản lý giáo dục người bị kết án ....................................................................87
3.2.3 Giải pháp tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trong tiếp nhận kinh
nghiệm lập pháp hình sự về miễn chấp hành hình phạt ..................................90
3.2.4 Giải pháp tăng cường kiểm tra giám sát ...........................................................92
KẾT LUẬN ..............................................................................................................94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................96
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự
CHHP Chấp hành hình phạt
TAND Toà án nhân dân
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm hình sự của Nghành TAND tỉnh
Đồng Nai từ năm 2008 đến năm 2012 .....................................................67
Bảng 2.2 Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm hình sự và quyết định hình phạt .........68
Bảng 2.3. Số liệu thống kê tình hình áp dụng miễn chấp hành hình phạt cụ thể .......... 70
Bảng 2.4. Tỷ lệ bị cáo được miễn chấp hành hình phạt từ năm 2008 đến 2012........... 71
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam và xem xét hoạt
động thực tiễn áp dụng pháp luật về miễn chấp hành hình phạt cũng như tình
hình nghiên cứu khoa học pháp lý trong lĩnh vực này hiện nay, tác giả thấy
rằng việc đi sâu nghiên cứu đề tài: “Miễn chấp hành hình phạt theo Luật hình
sự Việt Nam (trên cơ sở các số liệu địa bàn tỉnh Đồng Nai)” là đòi hỏi khách
quan, cần thiết vì các lý do sau:
Miễn chấp hành hình phạt là một trong những chế định quan trọng theo
Luật hình sự Việt Nam. Đây chính là cơ sở pháp lý nền tảng mang tính phổ
quát chung, liên quan đến nhiều chế định khác mà căn cứ vào những điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể các cơ quan tư pháp hình sự tham gia vào quá trình áp
dụng trong giai đoạn chấp hành hình phạt. Chấp hành hình phạt là kết quả của
sự lên án mang tính cưỡng chế Nhà nước đối với hành vi tiêu cực xâm hại đến
các lợi ích được pháp luật hình sự bảo vệ, nhưng tự thân nó miễn chấp hành
hình phạt lại thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo, mang giá trị nhân văn mà ở
đó, nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt trong chính sách hình sự của Nhà nước
luôn là sự kết hợp giữa việc trừng trị với khuyến khích người bị kết án quyết
tâm tự giáo dục mình mình để nhận lấy sự tha miễn đó.
Xuất phát từ vai trò thực tiễn chấp hành hình phạt, tình hình áp dụng
pháp luật về miễn chấp hành hình phạt trong thời gian qua cho thấy, một mặt
đã bảo đảm được mục đích, ý nghĩa của việc chấp hành hình phạt không chỉ
là sự kết hợp giữa các yếu tố trừng trị, cải tạo, giáo dục người phạm tội
hướng thiện mà quan trọng hơn với chính sách xã hội phù hợp đã giúp cho
người bị kết án sớm thích nghi, tái hòa nhập cộng đồng trong môi trường ổn
định, phòng ngừa việc tái phạm, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích Nhà nước,
1
xã hội và công dân. Mặt khác, bên cạnh việc xét xử thì việc miễn chấp hành
hình phạt còn là công việc thường xuyên của Tòa án, nên các quy định tại
các chế định nà y phải bảo đảm được đầy đủ về bản chất chính trị - pháp lý
của Nhà nước, điều kiện kinh tế - xã hội, giá trị văn hóa truyền thống của
dân tộc. Bởi vì, sau khi bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa
án, không còn một hình thức pháp lý nào khác để công dân thực hiện việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình [22, tr.253]. Do đó, việc tiếp thu,
ghi nhận những tiến bộ của nền văn minh nhân loại về quyền con người và
bảo vệ chúng ngay cả trong giai đoạn chấp hành hình phạt, nhất là những
quyền của nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người khuyết tật...
đó là từng bước nội luật hóa bằng các chính sách hình sự trong việc miễn
chấp hành hình phạt mà Nghị quyết số 48/NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ
Chính trị đã xác định, “cần xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức
thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về
quyền con người, quyền công dân” [20].
Pháp luật Việt Nam có nhiều quy định điều chỉnh về lĩnh vực này, song
các quy định đó đã tồn tại những mâu thuẫn về nội dung, chưa phù hợp với
thực tế. Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung theo Luật số
37/2009/QH12 ngày 19/6/2009 nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định trong
đó, nhà làm luật vẫn chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm miễn chấp
hành hình phạt; hoặc không mở rộng việc miễn hình phạt bổ sung ngoài hai
hình phạt cấm cư trú và quản chế; điều kiện áp dụng để miễn chấp hành hình
phạt còn thiếu, ít về đối tượng...Những bất cập nà y phần nào đã làm giảm tính
tích cực, chủ động trong việc áp dụng, ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam
trên trường quốc tế.
Vì vậy, định hướng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phát triển theo xu thế
chung của thời đại, chính là việc nghiên cứu rà soát pháp luật, chính sách đối
2
chiếu, so sánh với thông lệ quốc tế và các tiêu chuẩn về nhân quyền cũng như
mô hình hoạt động ưu việt trên thế giới để tham khảo đánh giá tìm giải pháp phù
hợp với điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam [8, tr.14]; xây dựng lại các quy phạm
pháp luật có tính khả thi hơn, minh bạch hơn là yêu cầu cấp thiết được đặt ra
trong giai đoạn hiện nay. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp
luật hình sự về miễn chấp hành hình phạt nói chung với mong muốn làm giàu
thêm về lý luận và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật; góp phần vào quá trình
xây dựng, hoàn thiện pháp luật hình sự trong thời gian tới.
Với nhận thức đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Miễn chấp hành
hình phạt theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở các số liệu địa bàn tỉnh Đồng
Nai)” làm Luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đến thời điểm hiện nay, tác giả đã biết đến công trình nghiên cứu khoa
học có liên quan đến vấn đề này, ở cấp độ Luận văn thạc sĩ luật học, có đề tài
của tác giả Trần Thị Thanh Thúy, Chế định miễn chấp hành hình phạt trong
Luật hình sự Việt Nam, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2012.
Bên cạnh đó, về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận khoa học Luật
hình sự có các công trình sau: TSKH.PGS Lê Văn Cảm, sách chuyên khảo
sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung),
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; TSKH.PGS Lê Văn Cảm, Hệ thống tư
pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, (sách chuyên
khảo), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009; Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam, tập thể tác giả do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội, 2002; TS. Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam, quyển 1
(Phần chung) NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009; ThS. Đinh Văn Quế:
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999, Phần chung, NXB Thành phố
Hồ Chí Minh, 2000; v.v...
3
Ngoài ra, còn có những bài báo khoa học đề cập đến miễn chấp hành
hình phạt của một số tác giả đã công bố như: ThS. Mai Bộ, Miễn chấp hành
hình phạt tù, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2005; PGS.TS Nguyễn Ngọc
Anh, Khái niệm đặc xá và một số khái niệm có liên quan đến đặc xá, Tạp chí
Tòa án nhân dân, số 10/2007; TS. Trịnh Quốc Toản, Hoàn thiện một số biện
pháp miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 1999 đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế - Luật,
số 24/2008; Nguyễn Văn Cừ, Hoàn thiện các quy định về miễn chấp hành
hình phạt, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2013; v.v...
Những công trình khoa học, bài viết trên đã tập trung nghiên cứu và
phát triển trong từng phạm vi nhất định; do đó, cần tiếp tục nghiên cứu để
đánh giá, đối chiếu so sánh và phân tích sâu về lý luận, quy định của pháp
luật thực định một cách có hệ thống từ đó đưa ra mô hình lý luận, kiến giải
lập pháp, hướng đến việc xây dựng, hoàn thiện các biện pháp miễn chấp
hành hình phạt.
Với tình hình nghiên cứu trên đây thì việc nghiên cứu đề tài: “Miễn
chấp hành hình phạt theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở các số liệu địa bàn
tỉnh Đồng Nai)” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết vừa có tính lý luận, vừa có
tính thực tiễn.
3. Mục đích nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về miễn
chấp hành hình phạt dưới góc độ lập pháp hình sự và áp dụng chúng trong thực
tiễn, từ đó Luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về
miễn chấp hành hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những
giải pháp nâng cao hiệu quả của chế định này trong thực tiễn áp dụng.
4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn đã đặt ra những nhiệm vụ chủ
yếu sau:
Trên cơ sở kết quả tổng hợp các quan điểm của các tác giả về miễn
chấp hành hình phạt, luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề chung về
miễn chấp hành hình phạt như:
- Nhận thức chung về các chế định có liên quan đến việc miễn chấp hành
hình phạt; khái niệm, các đặc điểm cơ bản và bản chất pháp lý hình sự của miễn
chấp hành hình phạt; phân biệt chế định này với các chế định có liên quan như
hoãn chấp hành hình phạt; giảm mức hình phạt tù đã tuyên, tạm đình chỉ chấp
hành hình phạt; miễn hình phạt và rút ra những kết luận;
- Khái quát về sự hình thành và phát triển của chế định miễn chấp hành
hình phạt trong pháp luật hình sự thực định Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 đến trước khi thông qua Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành để
rút ra những nhận xét, đánh giá;
- Nghiên cứu các quy phạm của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
hiện hành về chế định miễn chấp hành hình phạt; thực tiễn áp dụng chế
định miễn chấp hành hình phạt trên địa bàn tỉnh Đồng Nai để rút ra những
nhận xét đánh giá;
- Nghiên cứu các quy phạm của pháp luật hình sự một số nước trên
thế giới về chế định miễn chấp hành hình phạt để so sánh đối chiếu, đưa ra
những kết luận.
Trên cơ sở các nghiên cứu đó, đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn
thiện các quy phạm pháp luật hình sự thực định hiện hành; hướng dẫn của thực
tiễn xét xử; thực tiễn áp dụng chế định miễn chấp hành hình phạt trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai và một số giải pháp khác.
5
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một Luận văn thạc sĩ, tác giả không thể giải quyết
hết được một cách toàn diện những vấn đề có liên quan trong hệ thống pháp
luật Việt Nam về miễn chấp hành hình phạt (mà chế định án treo là một trường
hợp cụ thể đó vì tính chất rộng lớn của nó); tác giả tập trung nghiên cứu phân
tích quy định pháp luật về lĩnh vực này trong Luật hình sự Việt Nam và thực tiễn
áp dụng, trên cơ sở các số liệu xét xử của địa bàn tỉnh Đồng Nai để chỉ ra một
số tồn tại hạn chế, các nguyên nhân chủ yếu để đưa ra giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả áp dụng.
Luận văn cũng có tham khảo những bài học kinh nghiệm lập pháp một
số nước khi nghiên cứu về miễn chấp hành hình phạt.
4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu và thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận
biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước
pháp quyền; về chính sách hình sự; về vấn đề cải cách tư pháp.
Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả vận dụng các phương pháp nghiên
cứu như: Phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học Luật hình sự; phương
pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp nghiên cứu so sánh, đối chiếu.
Ngoài ra, đề tài còn áp dụng các phương pháp thống kê, hệ thống hóa các vấn
đề được nghiên cứu để tổng hợp các tri thức khoa học Luật hình sự và luận
chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong Luận văn.
5. Những điểm mới và đóng góp của Luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương
diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu có hệ thống ở cấp độ
6
một Luận văn thạc sĩ luật học về miễn chấp hành hình phạt, trong đó đã giải
quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn trong Luật hình sự Việt
Nam. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học về miễn chấp hành hình phạt để xây
dựng nên khái niệm chung, đồng thời chỉ ra các đặc điểm cơ bản và bản chất
pháp lý hình sự của miễn chấp hành hình phạt. Lấy đó làm tiêu chí để phân biệt
miễn chấp hành hình phạt với các chế định có liên quan như như hoãn chấp
hành hình phạt; giảm mức hình phạt tù đã tuyên; tạm đình chỉ chấp hành hình
phạt; miễn hình phạt;
- Nghiên cứu và chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của quá trình hình
thành và phát triển về miễn chấp hành hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam
từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến trước khi thông qua Bộ luật
hình sự năm 1999;
- Nghiên cứu, đánh giá tình hình áp dụng miễn chấp hành hình phạt trên
địa bàn tỉnh Đồng Nai; chỉ ra những tồn tại, hạn chế và những nguyên nhân
cơ bản đó;
Trên cơ sở đối chiếu, so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam và
các nước trên thế giới, cùng với kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn,
Luận văn đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực
định; nâng cao hiệu quả áp dụng miễn chấp hành hình phạt trong giai đoạn xây
dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam.
Với ý nghĩa khoa học đó, thiết nghĩ đề tài sẽ là một tài liệu khoa học bổ
ích dành cho những ai quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu trong lĩnh vực này.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của Luận văn gồm 3 chương:
7
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về miễn chấp hành hình phạt theo
Luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Các quy phạm về chế định miễn chấp hành hình phạt trong
Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của chế
định miễn chấp hành hình phạt
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Nhận thức chung về các chế định có liên quan đến việc miễn chấp
hành hình phạt
Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, ở bất kỳ xã hội có giai cấp nào,
để duy trì, bảo đảm trật tự xã hội thì việc quy định trách nhiệm pháp lý và
hình phạt cũng nhằm mục đích chung là trấn áp , đe dọa sẽ trấn áp đối với
người phạm tội bằng những hình thức tác động khác nhau tùy thuộc vào bản
chất của Nhà nước đó . Chính vì vậy , mỗi một hệ thống pháp luật đều dựa
trên những yêu cầu chính trị để đặt ra và xác định các hành vi phạm tội đồng
thời quy định một số loại hình phạt đối với người phạm tội. Các hình phạt đó
có thể từ buộc phải xin lỗi cho đến tử hình nhưng trong mọi trường hợp
người phạm tội phải hiểu rằng họ đã hành động sai trái, do đó, phải gánh
chịu hậu quả [52, tr.98].
Hình phạt, theo C. Mác không phải là một cái gì khác ngoài phương
tiện tự vệ của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó. Với
tính cách là hình thức phổ biến và chủ yếu nhất của trách nhiệm hình sự, hình
phạt luôn hàm chứa yếu tố trừng trị và luôn động chạm trực tiếp đến quyền và
lợi ích của người phạm tội. Mặt khác, nhìn từ yêu cầu phòng ngừa tội phạm,
hình phạt phải hàm chứa cả yếu tố cải tạo giáo dục người phạm tội [30, tr.74].
Hình phạt theo Điều 26 BLHS Việt Nam, chính là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích
của người phạm tội, được Tòa án quyết định trong bản án có hiệu lực pháp
luật. Với tư cách là chủ thể của giai cấp thống trị, Nhà nước thông qua pháp
luật, áp đặt ý chí lên toàn xã hội nhằm bảo vệ lợi ích cố hữu của giai cấp mình
9
bằng trách nhiệm pháp lý; nghĩa là, đã gắn kết giữa trách nhiệm hình sự do thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội với hậu quả pháp lý bất lợi bằng biện pháp
cưỡng chế hình sự. Do đó, tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất của trách nhiệm
hình sự được biểu hiện bằng quyết định hình phạt trong bản án kết tội để đảm
bảo đạt được mục đích “không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo
dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các
quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình
phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm” [26, Điều 27].
Với phương châm “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết
hợp với giáo dục, thuyết phục...”, “khuyến khích người phạm tội lập công
chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng, hòa nhập với
cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội” [56, tr.103] mà thông qua
đó, còn có tác dụng ngăn ngừa tội phạm, tác động đến ý thức công dân tuân
thủ và thực hiện đúng pháp luật. Chính vì vậy, M.Anxel’M rất đúng khi đã
viết: “Điều quan trọng là chúng ta phải quy định hình phạt làm sao để bản
thân nó có tính giáo dục, cải tạo người phạm tội… Điều cần thiết là làm sao
để chức năng tái hòa nhập người phạm tội vào cộng đồng xã hội được nhận
thức là chức năng chủ yếu của hình phạt và việc thực hiện chức năng này phải
khác với việc thực hiện chức năng giáo dục đơn giản và thứ yếu của sự trừng
phạt thích đáng mà những người theo trường phái kinh điển mới hiện đại đã
nêu ra” [31, tr.53-54].
Như vậy, bản án hình sự chính là kết quả cuối cùng của một trình tự thủ
tuc tố tụng khi chín h thức tuyên bố hành vi của mô ̣t người pha ̣m mô ̣t tô ̣i nào
đó quy đinh
̣ trong B LHS và kèm theo nó là hình phạt . Do đó, “để đảm bảo
công lý, công bằng xã hội hình phạt mà Tòa án quyết định áp dụng đối với
người phạm tội phải được người đó nghiêm chỉnh chấp hành. Chính vì vậy,
10
Điều 136 Hiến Pháp năm 1992 quy định: “Các bản án và quyết định của Toà
án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân
tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”
[32, tr.222-223]. Khi bản án có hiệu lực pháp luật về nguyên tắc, người phạm
tội phải chấp hành toàn bộ hình phạt mà Tòa án quyết định trong bản án thì
mục đích của hình phạt mới đạt được và như vậy “trừng trị là nội dung, là
thuộc tính của hình phạt, đồng thời, nó là cách thức tác động để giáo dục, cải
tạo người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm. Nếu không có trừng trị thì không
có hình phạt. Nó là tiền đề để đạt mục đích phòng ngừa tội phạm…mục đích
trực tiếp của hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có
ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và quy tắc của cuộc sống và xã
hội, không phạm tội mới” [37, tr.49].
Là một trong những chế định quan trọng trong Luật hình sự Việt Nam,
miễn chấp hành hình phạt cùng với các chế định khác như: Giảm mức hình
phạt đã tuyên; hoãn chấp hành hình phạt tù và tạm đình chỉ chấp hành hình
phạt tù với tư cách là những biện pháp tha miễn trong Luật hình sự không
những góp phần phản ánh nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự mà còn
thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự với
những giá trị xã hội cao quý nhất [14, tr.710-713].
Xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của Luật hình sự, Tòa án có quyền
miễn, giảm, hoãn và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt đối với người phạm tội
khi thấy rằng thực sự họ đã ăn năn hối cải, quyết tâm cải tạo, nhanh chóng tái
hòa nhập cộng đồng và như vậy, Nhà nước đã tiết kiệm việc trấn áp ở giai
đoạn này. Nhưng “căn cứ để miễn chấp hành hình phạt là tính không hợp lý,
không cần thiết hoặc không có khả năng chấp hành hình phạt do người bị kết
án đã hết nguy hiểm cho xã hội hoặc do tính chất nguy hiểm cho xã hội của
11
nhân thân người phạm tội, do trạng thái sức khỏe của người phạm tội hoặc có
tình tiết khác” [6, tr.536]. Và do đó, GS.TSKH Lê Văn Cảm rất đúng khi cho
rằng: “Các chế định về chấp hành hình phạt là những biện pháp cưỡng chế về
thi hành án hình sự liên quan đến việc chấp hành hình phạt phản ánh nguyên
tắc nhân đạo của luật hình sự, cũng như Luật thi hành án hình sự Việt Nam và
được áp dụng trong từng trường hợp cụ thể tương ứng đối với người bị kết án
khi có các căn cứ và những điều kiện nhất định do pháp luật hình sự quy
định” [14, tr.789].
Phụ thuộc rất lớn vào quan điểm chính trị, điều kiện lịch sử, truyền
thống pháp luật mà mỗi một quốc gia, dân tộc tự lựa chọn và tìm ra giải pháp
tối ưu cho mình trong việc “xây dựng trật tự xã hội trên cơ sở nhấn mạnh sự
phù hợp giữa trật tự xã hội với các chuẩn mực văn hóa trong hành vi xử
sự...từ chỗ thừa nhận trật tự xã hội dưới những quan điểm chiến lược khác
nhau, các quốc gia phát triển những phương thức, công cụ khác nhau để hành
xử với các công dân có hành vi xử sự không đúng” [52, tr.228]; bằng cách áp
dụng “mục tiêu trừng phạt, ngăn chặn, tái hòa nhập và làm mất năng lực phạm
tội của kẻ tội phạm” [52, tr.229].
Xuất phát từ địa vị pháp lý và phương pháp tiếp cận trong xử lý chuyển
hướng cải tạo người phạm tội trên thế giới như vậy, nên việc phân hóa, lựa
chọn trong quyết định hình phạt và chấp hành hình phạt ở mỗi nơi mỗi khác.
Như Australia và Hoa Kỳ, hình phạt áp dụng cải tạo dựa vào cộng đồng là
phổ biến ở một số Bang như là giải pháp được ưu tiên lựa chọn (như á n treo,
lao động công ích và tạm tha trước thời ha ̣n có cam kết). Một số nước khác lại
lựa chọn phạt tiền thay cho tù giam, bằng việc để người phạm tội tự cải tạo
mà không sử dụng nhà tù, làm giảm đáng kể số người vào tù bằng cách áp
dụng cơ chế hình “phạt tiền theo ngày” hoặc “hoãn thi hành hình phạt” như
12
Đức hay Thụy Điển và gia tăng số người ra tù bằng việc tha tù có điều kiện
cho người bị kết án như Áo, Thụy Điển, Canada, Ba Lan...[52, tr.242-251].
Pháp điển hóa lần thứ nhất bằng việc thông qua BLHS năm 1985, các chế
định về: (i) giảm thời hạn chấp hành hình phạt chính (Điều 49); (ii) giảm thời
hạn chấp hành hình phạt bổ sung; (iii) giảm thời hạn và miễn việc chấp hành
hình phạt trong trường hợp đặc biệt (Điều 51) được ghi nhận như một chế
định độc lập. Pháp điển hóa lần thứ hai BLHS năm 1999, bằng việc hệ thống
hóa và phát triển trên cơ sở sự kế thừa của các chế định này. Đó là, lần đầu tiên
chính thức ghi nhận trong Phần chung BLHS đại xá, đặc xá là một trong các
trường hợp miễn chấp hành hình phạt (Điều 57); đồng thời, xây dựng lại chế
định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà BLHS năm 1985 không quy
định (trừ trường hợp được hoãn đối với quân nhân phạm tội ít nghiêm trọng tại
Điều 69) từ quy định tại các Điều 231 và 232 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988
như là những chế định độc lập, mà trước đó chúng được quy định rải rác trong
các văn bản pháp luật khác nhau. Cũng như chế định miễn chấp hành hình phạt,
các chế định này đã phản ánh tính cưỡng chế trong giai đoạn thi hành án hình sự
của Nhà nước đối với người thực hiện tội phạm đã có bản án kết tội có hiệu lực
thi hành. Tuy nhiên, các chế định có liên quan đến “miễn chấp hành hình phạt
cũng mới chỉ được quy định trực tiếp hoặc gián tiếp tại một số điều luật riêng
lẻ trong BLHS, chưa được ghi nhận tại một chương riêng như các chế định
khác về tội phạm, hình phạt” [34, tr.2-3].
Các chế định này nằm trong hệ thống các chế định về chấp hành hình
phạt, vai trò của nó thể hiện trong mối liên hệ tác động qua lại với nhau là điều
kiện, tiền đề cho việc miễn chấp hành hình phạt. Do đó, giải quyết tốt vấn đề
chấp hành hình phạt và áp dụng đúng đắn chế định này trong thực tiễn sẽ là điều
kiện thuận lợi cho Tòa án bảo vệ hiệu quả lợi ích của Nhà nước và công dân
trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
13
1.2 Khái niệm các đặc điểm cơ bản và bản chất pháp lý hình sự của
miễn chấp hành hình phạt
1.2.1 Khái niệm miễn chấp hành hình phạt
Trong hệ thống các biện pháp tha miễn quy định theo BLHS Việt Nam,
mỗi một chế định đều có vị trí, vai trò, đặc điểm và hậu quả pháp lý khác nhau.
Miễn chấp hành hình phạt đã được ghi nhận ngay trong lần pháp điển hóa lần
thứ nhất thông qua BLHS năm 1985; đến BLHS năm 1999 tiếp tục được bổ sung
và hoàn thiện trên cơ sở kế thừa và phát triển từ chế định này cho phù hợp với
thực tiễn áp dụng pháp luật của đất nước.
Tuy nhiên, về phương diện lập pháp hình sự thì chế định này chưa được
quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện, có tính hệ thống khoa học. Có thể nhận
thấy, qua hai lần pháp điển hóa Luật hình sự nhưng nhà làm luật vẫn chưa xây
dựng và đưa ra khái niệm miễn chấp hành hình phạt làm cơ sở pháp lý cho việc
áp dụng vào thực tiễn.
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự các nước theo trường phái pháp luật
Châu âu lục địa như Liên bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc hoặc Cộng hòa Liên
bang Đức...vẫn chưa đưa ra khái niệm miễn chấp hành hình phạt trong BLHS
của mình. Do đó, việc tiếp cận những kinh nghiệm trong nghiên cứu và xây
dựng pháp luật từ các nước nói chung và hệ thống pháp luật tiên tiến trên thế
giới nói riêng vẫn còn đó những khác biệt về điều kiện chính trị - pháp lý, sự
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đã hình thành nên chính sách hình
sự riêng biệt về vấn đề này.
Ở nước ta, khi nói đến khái niệm miễn chấp hành hình phạt thì quan điểm
giữa các nhà luật học vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau:
Quan điểm thứ nhất, PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng “Miễn chấp
hành hình phạt là không buộc người đã bị kết án phải chấp hành toàn bộ hoặc
14