Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa việt nam

  • 24 trang
  • file .docx
Lời nói đầu
Kinh tế thị trường chính là: “của cải chung về sự phát triển của xã hội loài
người” nó luôn luôn là một vấn đề cần nghiên cứu về lý luận cũng như trong
thực tiễn trên phạm vi toàn thế giới. Quá trình vận động trong nền kinh tế thế
giới những năm gần đây đã khẳng định rằng việc lựu chọn mô hình kinh tế
thị trường có sự điều chỉnh của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay là hoàn
toàn đúng đắn và hợp lý.
Ở nước ta hiện nay, sự ra đời của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam gắn liền với công cuộc đổi mới do Đảng khởi
xướng và lãnh đạo. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề
lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ và phức tạp. Nó thể hiện mối quan hệ
chặt chẽ giữa việc nhận thức sâu sắc tính quy luật khách quan với phát huy
vai trò chủ động, sáng tạo của chủ thể là Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và
nhân dân lao động trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây là sự lựa chọn
con đường và mô hình phát triển của Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa
kinh tế đáp ứng yêu cầu "đi tắt, đón đầu" đang đặt ra như một yếu tố sống
còn. Sự hình thành tư duy của Đảng ta về nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là cả một quá trình tìm tòi thể nghiệm, phát triển từ thấp lên
cao, từ chưa đầy đủ, hoàn thiện tới ngày càng đầy đủ, sâu sắc và hoàn thiện.
Với đề tài: “Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền
kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Qua đề tài
này tôi mong muốn các bạn có thể hiểu rõ hơn về những xu hướng vận động
và phát triển của nền kinh tế thị trường, những bản chất và mâu thuẫn cơ bản
của nền kinh tế, của việc hình thành và xây dựng con người XHCN. Việc
nhận thức được thực chất của giai đoạn quá độ, chi phối được nó sẽ tránh
khỏi những sai lầm, chủ quan nóng vội duy ý chí hoặc khuynh hướng cực
đoan, máy móc sao chép tránh những sai lầm có thể xảy ra.
Mặc dù trong suốt quá trình làm đề tài tôi đã có nhiều cố gắng tìm hiểu và
tham khảo các tài liệu nhưng bài tiểu luận của tôi sẽ không tránh khỏi những
thiếu xót. Vì vậy sau khi đọc bài tiểu luận này tôi rất mong nhận được sự góp
ý của các bạn sinh viên, đặc biệt là sự góp ý của các thầy cô bộ môn để bài
tiểu luận của tôi được hoàn chỉnh
Trân thành cảm ơn!
Nội dung
I. Lý luận chung
Trong thế giới hiện thực, bất kỳ một sự vật hiện tượng nào cũng chứa đựng
trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính có khuynh hướng phát triển
ngược chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển hoá của các mặt trong những điều
kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn được giải quyết sự vật cũ
mất đi, sự vật mới hình thành. Sự vật mới làm nảy sinh các mặt đối lập và
mâu thuẫn mới. Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn
nhau để tạo thành sự vật mới hơn. Cứ như vậy mà các sự vật hiện tượng
trong thế giới khách quan thường xuyên phát triển và biến đổi không ngừng.
Vì vậy mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của sự phát triển.
1) Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến
Theo phép duy vật biện chứng tất cả các sự vật hiện tượng tồn tại trong thế
giới khách quan đều chứa đựng trong nó những mâu thuẫn. Sự hình thành và
phát triển của mâu thuẫn do cấu trúc tự thân vốn có bên trong của sự vật, hiện
tượng quy định. Mâu thuẫn tồn tại không phụ thuộc vào bất kỳ lực lượng siêu
nhiên nào, kể cả ý chí chủ quan của con người. Mỗi một sự vật, hiện tượng
đang tồn tại đều là một thể thống nhất được cấu thành bởi các mặt, các
khuynh hướng, các thuộc tính phát triển ngược chiều nhau, đối lập nhau. Sự
liên hệ tác động qua lại, đấu tranh chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau
tạo thành động lực bên trong của mọi quá trình vận động và phát triển khách
quan của chính bản thân của các sự vật và hiện tượng.
Mâu thuẫn là một hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và
tư duy của của con người, giữa các giai cấp đối kháng như chủ nô và nô lệ,
nông dân và địa chủ, tư sản và vô sản. Hoạt động kinh tế mẫu cũng mang tính
phổ biến, chẳng hạn như cung cầu, tích luỹ và tiêu dùng… trong tư duy của
con người cũng có mâu thuẫn như chân lý và sai lầm…
Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến khi sự vật kết thúc, trong
mỗi sự vật, có thể có rất nhiều mâu thuẫn hình thành, vì sự vật trong cùng
một lúc có rất nhiều mặt đối lập. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác
được hình thành. Ăng- ghen chỉ ra rằng chính sự vận động đơn giản nhất của
vật chất cũng là một mâu thuẫn. Vật chất tồn tại ở hình thức vận động cao
hơn, mâu thuẫn càng thể hiện rõ nét hơn. Nó gắn liền với sự vật, xuyên suốt
quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của sự vật. Đó chính là những
thuộc tính quy định tính khách quan và phổ biến của mâu thuẫn.
2) Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nhau.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là một trong những quy
luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. V.I. Lênin đã gọi là quy luật hạt
nhân của phép biện chứng vì nó đề cập đến vấn đề quan trọng nhất của phép
biện chứng là nguồn gốc của sự phát triển.
 Thế nào là mặt đối lập
Mặt đối lập là những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng, những
yếu tố có xu hướng biến đổi trái ngược nhau trong cùng một sự vật, hiện
tượng.
Bất kỳ sự vật nào cũng được tạo thành từ nhiều bộ phận với những thuộc tính
khác nhau mà còn có những mặt đối lập nhau tạo thành các mâu thuẫn. Bởi vì
trong các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan không phải chỉ tồn tại
trong nó hai mặt đối lập, mà có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập chỉ có
những mặt đối lập nào tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật như một
chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ, phủ
định và chuyển hoá với nhau (sự chuyển hoá này tạo thành nguồn gốc, động
lực đồng thời quy định cả bản chất, khuynh hướng phát triển của sư vật) hai
mặt đối lập như vậy được gọi là hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn.
 Sự thống nhất của các mặt đối lập
Sự thống nhất của các mặt đối lập được hiểu với nghĩa là hai mặt đối lập
nương tựa vào nhau, quy định lẫn nhau, mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia
làm tiền đề cho sự tồn tại của mình. Sự thống nhất của các mặt đối lập là điều
kiện không thể thiếu được cho bất kỳ sự vật, hiện tượng nào. Sự thống nhất
này là do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật, hiện tượng tạo nên
 Đấu tranh của các mặt đối lập
Phát triển là đấu tranh giữa các mặt đối lập. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là
sự tác động qua lại theo hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó.
Đấu tranh không chỉ là xung đột, đụng độ, thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối
lập. Sự đa dạng, phong phú về hình thức đấu tranh của các mặt đối lập phụ
thuộc vào lĩnh vực tồn tại cũng như điều kiện trong đó diễn ra cuộc đâu tranh
giữa các mặt đó. Lênin cho rằng: “Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập bài trừ
lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”
Sự đấu tranh của các mặt đối lập diễn ra từ thấp đến cao, trải qua nhiều giai
đoạn. Khi mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ sự xung khắc gay
gắt, người ta gọi đó là những liện hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều
nhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển, thì hai mặt ấy mới hình
thành bước đầu của mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn phát triển
đến giai đoạn xung đột gay gắt nó biến thành đối lập. Nếu hội đủ các điều
kiện cần thiết, hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau. Sau khi mâu thuẫn được
giải quyết, sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ được thay thế bằng sự thống
nhất của hai mặt đối lập mới. Hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hoá
tạo thành mâu thuẫn. Đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi
không ngừng từ thấp đến cao
 Sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đều dẫn đến sự chuyển hoá
giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến một trình
độ nhât định, hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến sự chuyển hoábài trừ
và phủ định lẫn nhau. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của các mặt đối lập
thường diễn ra một cách tự phát. Còn trong xã hội, chuyển hoá của các mặt
đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua các hoạt động có ý thức của con
người. Chuyển hoá các mặt đối lập chính là lúc các mâu thuẫn được giải
quyết. Đó là quá trình diễn biến rất phức tạp với nhiều hình thức phong phú.
Thông thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phương thức: Một là, mặt
đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về
phương diện chất của sự vật. Chẳng hạn, lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất trong xã hội phong kiến đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành
nên quan hệ sản xuất mới – quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng
sản xuất mới ở trình độ hơn. Hai là, cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau
để hình thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Tóm lại: thực chất của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
là: Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng
tạo thành mâu thuẫn. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là động
lực bên trong của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và
sự ra đời của cái mới.
Vì vậy, Thứ nhất, mâu thuẫn chỉ có thể được giải quyết khi có đủ những điều
kiện chín muồi. Trong hoạt động thực tiễn phải xác định đúng trạng thái chín
muồi của mâu thuẫn, chuẩn bị đầy đủ những điều kiện, phương tiện và tổ
chức lực lượng để giải quyết mâu thuẫn. Không được giải quyết mâu thuẫn
một cách tuỳ tiện, nóng vội khi chưa có đủ những điều kiện cần thiết. Thứ
hai, mọi mâu thuẫn chỉ có thể được giải quyết bằng con đường đấu tranh dưới
những hình thức, biện pháp khác nhau. Do đó đòi hỏi chủ thể phải có quan
điểm lịch sử cụ thể trong việc phân tích và giải quyết mâu thuẫn.
3) Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật mâu thuẫn.
- Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến hình thành từ những cấu
trúc và thuộc tính bên trong vốn có tự thân của tất cả các sự vật hiện tượng
trong bản thân thế giới khách quan. Do vậy trong quá trình hoạt động thực
tiễn phải biết phân tích mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận thức
được bản chất, khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
- Sự vật khác nhau thì mâu thuẫn cũng khác nhau, mỗi sự vật đều có nhiều
mâu thuẫn, mỗi mâu thuẫn lại có đặc điểm riêng của nó; quá trình phát triển
của một mâu thuẫn, ở mỗi giai đoạn của nó lại có những đặc điểm riêng. Do
đó, phải biết phân tích cụ thể các mâu thuẫn và tìm cách giải quyết cụ thể
từng loại mâu thuẫn đó.
- Cần nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn. Đó là sự đấu tranh giữa
hai mặt đối lập diễn ra theo quy luật phá vỡ cái cũ để thiết lập cái mới cái tiến
bộ hơn. Vì vậy, trong đời sống xã hội, mọi hành vi đấu tranh cần được được
coi là chân chính vì nó thúc đẩy sự phát triển.
II – QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT
NAM
1) Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là phù hợp với
xu hướng khách quan trong nền kinh tế
Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường mà ở đó
việc sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai, được quyết định thông qua thị
trường. Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các
doanh nghiệp đều biểu hiện thông qua hoạt động mua bán hàng hoá dịch vụ
trên thị trường.
Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải
là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là sự
nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong
thời đại ngày nay. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình
kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một kiểu kinh tế
thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Cũng có thể nói
kinh tế thị trường là "cái phổ biến", còn kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là "cái đặc thù" của Việt Nam, phù hợp với điều kiện và đặc điểm
cụ thể của Việt Nam.
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá. Nó
nằm trong tiến trình phát triển lịch sử khách quan về kinh tế trong xã hội loài
người. Đồng thời nó không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà
là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại.
Còn cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ cơ bản vận động dưới
sự chi phối của các quy luật thị trường. Trong đó quy luật giá trị giữ vai trò
chi phối và trong môi trường cạnh tranh nhằm phục vụ mục tiêu lợi nhuận.
Nhân tố cơ bản của cơ chế thị trường là cung, cầu và giá cả thị trường
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu
theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức
đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua
phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với
phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây
dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Cũng có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu
tổ chức kinh tế của một xã hội đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh
tế còn ở trình độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn hướng tới chế độ xã
hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức,
có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, được định hướng cao về mặt xã hội, hạn chế tối đa những khuyết tật
của tính tự phát thị trường, nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của đại đa số nhân
dân và sự phát triển bền vững của đất nước.
Như vậy lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
không phải đơn giản là sự trở về với phương thức chuyển nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, mà điều quan trọng có ý nghĩa quyết
định là phải chuyển sang nền kinh tế hiện đại, văn minh nhằm mục tiêu từng
bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật
phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi
sau, cho phép các nước này giảm thiểu được những đau khổ và rút ngắn được
con đường đi của mình tới chủ nghĩa xã hội trên cơ sở sử dụng được ưu thế
cũng như hạn chế được những khuyết điểm của hai cơ chế: kế hoạch và thị
trường.
 Các ưu thế của nền kinh tế thị trường:
- Nó kích thích việc áp dụng tiến bị khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao
động nâng cao trình độ sản xuất. Kinh tế thị trường lấy lợi nhuận làm
đông lực cho mọi hoạt động. Để thu giữ được nhiều lợi nhuận đòi hỏi
các nhà doanh nghiệp phải thường xuyên áp dụng kỹ thuật mới, hợp lý
hoá sản xuất làm cho năng suất lao động xã hội và năng suất lao động cá
biệt tăng lên.
- Kinh tế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh
chóng. ở đây tồn tại nguyên tắc ai đưa được hàng hoá ra thị trường trước
tiên sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Mặt khác nếu nhận thức được sản
phẩm của mình không có người mua hay lượng cầu đang giảm dần,
người sản xuất sẽ không sản xuất nữa. Điều đó dẫn đến sự tiết kiệm hao
phí lao động xã hội. Vì vậy kinh tế thị trường luôn diễn ra sự đổi mới
- Trong kinh tế thị trường có nhiều hàng hoá và dịch vụ, đó là một nền
kinh tế dư thừa chứ không phải là một nền kinh tế thiếu hụt. Do vậy, nền
kinh tế thị trường tạo điều kiện vật chất để thoả mãn ngày càng tốt hơn
nhu cầu vật chất, văn hoá và sự phát triển toàn diện của con người
 Bên cạnh những ưu thế của nền kinh tế thị trường cũng có những khuyết
tật chẳng hạn như: thường xảy ra tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp, phân
hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trường , tiêu cực và các tệ nạn xã hội phát
triển…
Để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế thị
trường nhà nước cần phải có sự can thiệp vào nền kinh tế để đảm bảo sự ổn
định, công bằng và hiệu quả. Trên thế giới đã từng tồn tại rất nhiều mô hình
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước như: Kinh tế thị trường
theo kiểu tự do của Mỹ, mô hình kinh tế thị trường ở Nhật Bản, mô hình
Kinh tế thị trường ở các nước Bắc Âu, ở Cộng hoà liên bang Đức…
Vậy một câu hỏi đặt ra mô hình nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN là gì? Kinh tế thị trường XHCN là một kiểu tổ chức, một kiểu vận
hành nền kinh tế mà một mặt tuan theo những quy luật kinh tế thị trường,
mặt khác dựa trên cơ sở bản chất và nguyên tắc của CNXH được chi phối
bởi nguyên tắc, bản chất của CNXH trên cả ba mặt của nền kinh tế: Sở hữu,
quản lý và phân phối. Đặc trưng chủ yếu của mô hình kinh tế này là: kinh tế
công hữu, kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác là chủ thể và kinh tế quốc
hữu làm chủ đạo. Chủ thể là nói về quy mô, mặt định lượng là chính. Chủ
đạo là nói về vai trò dẫn đường soi nối đi, mặt định tính là chính. Kinh tế cá
thể, kinh tế tư doanh cùng kinh tế doanh nghiệp nước ngoài được coi là
thành phần kinh tế bổ sung cần thiết…Về phân phối, thực hiện phân phối
theo lao động là chính, các hình thức phân phối khác là bổ sung. Mở rộng
một cách hợp lý khoảng cách trong thu nhập, nhưng không phân hoá theo
hai cực, từng bước thực hiện mục tiêu đẩy lùi nghèo đói cùng nhau làm
giàu.
Đại hội Đảng lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ mô hình
của nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với
mục tiêu: phát triển kinh tế để đạt tới một xã hội giàu mạnh, công bằng, dân
chủ, văn minh. Đó là một nền kinh tế mà kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ
đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc cho nền kinh tế quốc dân. Đây là một trong những yếu tố cơ bản
đảm bảo cho nền kinh tế thị trường giữ vững định hướng XHCN. Các thành
phần kinh doanh theo pháp luật đều là một bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Các thành phần kinh doanh
theo pháp luật đều là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế
thị trường rất quan trọng, trong việc tăng trưởng kinh tế kết hợp đảm bảo
thực hiện công bằng, dân chủ và văn minh
2)Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay đang ở giai đoạn chuyển tiếp
từ nền kinh tế tập trung, hành chính bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị
trường. Thực chất của bước chuyển ấy trước hết là ở sự đổi mới các quan hệ
sở hữu. Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu tương
đối đồng nhất với hai hình thức nhà nước và tập thể, hiện nay cùng với hình
thức chủ đạo là sở hữu Nhà nước nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hình
thức sở hữu khác. Những hình thức đó trong thực tiễn vận hành của nền kinh
tế không hẳn đã đồng bộ với nhau, song về tổng thể, chúng là những bộ phận
khách quan của nền kinh tế có khả năng đáp ứng đầy đủ và năng động của
nền kinh tế thị trường. Điều đó có ý nghĩa đối với việc xác định đặc điểm của
nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta có lẽ vẫn là sự thừa nhậ xu hướng
trong sự vận động của nó. Tiếp tục đổi mới và hoạt động có hiệu quả kinh tế
nhà nước thực sự trong toàn bộ nền kinh tế để trên cơ sở đó, giải quyết các
vấn đề xã hội ở tầng vĩ mô sao cho tăng trưởng kinh tế không trở nên mâu
thuẫn gay gắt với trật tự bình thường của xã hội,
Đảng ta không coi cơ chế thị trường là liều thuốc vạn năng và vì vậy
không khuyến khích phát triển nó về mọi phương diện. Bởi lẽ việc tuyệt đối
hoá vai trò của nền kinh tế thị trường sẽ rơi vào một sai lầm nguy hiểm từ
phía khác. Kinh tế thị trường tuy có điểm mạnh nhưng bản thân nó vốn có
những giới hạn, những khuyết tật mang tính bưóng bỉnh, hơn thế nữa quan hệ
thị trường còn là môi trường thuận lợi để phát sinh nhưng tiêu cực và tệ nạn
xã hội. Thực tiễn 20 năm đỏi mới cho thấy, bên cạnh tác động tích cực là cơ
bản, những tác động tiêu cực do mặt trái của kinh tế thị trường gây ra cũng
hết sức nghiêm trọng,đặc biệt trên phương diện tư tưởng đạo đức, lối sống do
cách làm ăn thuần tuý chạy theo lợi nhuận đã dẫn đến các hình thức lừa đảo,
hối lộ, trốn thuế, nợ nần khó trả do thương mại hoá một cách tràn nan, xâm
nhập vào lĩnh vực dễ thương tổn như y tế, văn hoá ,giáo dục… đã làm cho
giá trị đạo đức, tinh thần bị băng hoại và xuống cấp, đồng tiền đã chi phối
quan hệ giữ người với người; sự phân hoá giàu nghèo và bất công xã hội có
nhiều hướng tăng lên, lối sống ích kỷ, thực dụng có nguy cơ ngày càng tăng.
Bởi vậy, Đảng ta chỉ rõ “ vận dụng cá hình thức và phương pháp quản lí
nền kinh tế thị trường là để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ mục đích
xây dựng CNXH chứ không theo con đường tư bản chủ nghĩa ‘’.
Cũng phải thừa nhận rằng các vấn đề nói trên dù ít hay nhiều cũng là các
vấn đề của bản thân cơ chế quản lí. Trong nền kinh tế hiện nay của nước ta,
cơ chế quản lí đang là giai đoạn hình thành nên thường là không đồng bộ và
thiếu hụt. Chúng ta chưa thực sự tạo ra môi trường an toàn và ổn định cho
sản xuất và kinh doanh . Cở sở pháp lí của các hoạt động kinh tế còn có nhiều
bất cập. Các hoạt động tài chính ngân hàng, phân cấp quản lí… còn nhiều bất
hợp lí. Do vậy trong một số vụ án kinh tế, cơ chế quản lí đôi khi vừa là thủ
phạm , vừa là nạn nhân của kinh tế thị trường.
Rõ ràng là cơ chế vận hành của nền kinh tế nước ta đang trong quá trình
tiến tới một cơ chế thị trường đích thực, văn minh, nhưng hiện tại vẫn còn
mang dấu ấn của cơ chế cũ. Cơ chế quản lí kinh tế mới bước đầu đã hình
thành nhưng chưa đồng bộ, đang ở giai đoạn sơ khai, mang nhiều yếu tố tự
phát, đặc biệt vẫn còn mang dấu ấn của cơ chế kinh tế cũ. Cơ chế quản lý
kinh tế mới bước đầu đã hình thành nhưng chưa đồng bộ, đang ở giai đoạn sơ
khai, mang nhiều yếu tố tự phát, đặc biệt vẫn còn yếu kém về cả chính sách
lẫn pháp lý hướng dẫn nền kinh tế. Công tác tài chính, ngân hàng, giá cả, xây
dựng… đã đổi mới nhưng chưa theo kịp đòi hỏi trong thực tiễn.
Khác với cơ chế hành chính quan niêu bao cấp, cơ chế thị trường với quy luật
khách quan vốn có của nó, thường biểu hiện ra như là một cơ chế tự phát
hơn, tự nhiên hơn và nằm xa sự chi phối của con người hơn. Bởi vậy, việc
nắm các yếu tố tự phát, tự giác của nền kinh tế hiểu được phương thức và tìm
ra được phương pháp kiểm soát thích hợp là điều hết sức có ý nghĩa. Hiện
nay, chúng ta đã thực sự làm chủ được những tác động tự giác, cũng như
những tác động tự phát của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên bên cạnh đó
cũng có quá nhiều hiện tượng và quá trình mà chúng ta còn buông lỏng sự
kiểm soát hoặc chưa thực sự có khả năng kiểm soát sự vận động của chúng.
Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước việc chúng ta bắt đầu
sử dụng thị trường như là một công cụ, một phương thức để đảm bảo tăng
trưởng
Trong giai đoạn quá độ đi lên CNXH, để tạo nên sức sống cho nền kinh tế
của mình, trong điều kiện thế giới đang bị cuốn vào xu thế toàn cầu hoá lắm
thuận lợi và nhiều khó khăn, Việt Nam ta đang áp dụng cơ chế thị trường
theo định hướng XHCN.
Chúng ta áp dụng cơ chế kinh tế thị trường với mục đích tận dụng ưu thế
truyền thống của hình thái kinh tế này là huy động mọi nguồn lực xã hội,
phát huy mọi năng lực sản xuất để xây dựng cơ sở căn bản bền chắc cho nền
kinh tế nước nhà.
Phát triển nền kinh tế thị trường, chúng ta mới có khả năng tạo cho đất nước
một sức mạnh vật chất xứng đáng và điều kiện cải tạo một cách căn bản mức
sống của nhân dân và vị thế quốc gia trong bảng xếp hạng phát triển của thế
giới, nhằm thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh
Thực tiễn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới cho chúng ta thấy, sản xuất
hàng hoá cùng với nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường không đối lập với CNXH. Nền kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH
là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là sản phẩm của nền văn minh
nhân loại, là cơ hội để cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị
trường rõ ràng là xu thế phát triển khách quan và tất yếu đối với công cuộc
xây dựng CNXH ở nước ta.
Như vậy, cơ chế thị trường ở nước ta tuy đã hình thành, nhưng còn ở giai
đoạn sơ khai, còn mang nhiều yếu tố tự phát. Cơ chế, chính sách kinh tế
chậm đổi mới, cải cách hành chính còn chậm chạp đang là trở ngại cho đổi
mới và phát triển kinh tế. Tại hội thảo khoa học về kinh tế thị trường, Hội
đồng lý luận Trung ương nhận định rằng: "Chúng ta đã chuyển một bước
quan trọng sang kinh tế thị trường, nhưng chưa kết thúc bước chuyển đó. Do
vậy, còn đan xen nhưng yếu tố của nền kinh tế chuyển đổi. Những yếu tố của
nền kinh tế thị trường văn minh còn ít hơn là những yếu tố sơ khai".
Thành tựu của 20 năm đổi mới vừa qua đều có tác dụng làm cho chúng ta
quen dần với các quan hệ hàng hoá. Hàm lượng kinh tế trong các hoạt động
xã hội ngày càng được chú ý. Tuy nhiên, mặc dù đã trải qua một số năm cải
cách, đổi mới song nền kinh tế nước ta vẫn đang trong quá trình chuyền từ cơ
chế quản lý hành chính – bao cấp sang cơ chế thị trường. Đó là quá trình mà
cơ chế cũ ít nhiều vẫn còn là thói quen chưa dễ xoá bỏ. Do vậy, cơ chế cũ và
cơ chế kinh tế mới đang đan xen vào nhau, có chuyển hoá lẫn nhau, cái cũ
dần dần nhường chỗ cho cái mới ra đời và phát triển, nhưng cũng có sự chi
phối, khống chế lẫn nhau. Rõ ràng là cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta
vẫn còn đang ở những bước sơ khai, đòi hỏi phải được hoàn thiện theo xu
hướng thị trường văn minh. Mặc dù đã có những yếu tố của thí trường hiện
đại xuất hiện trong nền kinh tế nước ta (chúng ta đã tham gia buôn bán với
nhiều nền kinh tế phát triển, đã là thành viên chính thức của khối ASEAN, đã
gia nhập khu vực mậu địch tự do AFTA, tổ chức thương mại thế
giới WTO và sẽ tham gia nhiều liên minh kinh tế khác nữa với chủ nghĩa tư
bản hiện đại), nhưng tính chất quá độ của nền kinh tế đang tiến tới cơ chế thị
trường vẫn còn khá rõ. Về thực chất của bước chuyển này, chúng tôi đồng ý
với ý kiến cho rằng: "ở Việt Nam, dù nền kinh tế thị trường chỉ mới vừa được
hình thành, còn đang trong những bước chập chững ban đầu và được điều tiết
một cách có ý thức theo định hướng xã hội chủ nghĩa, song cũng đã tác động
khá rõ nét đến mọi mặt đời sống xã hội và để lại ở đó những dấu ấn của mình
về mặt văn hoá...
III – MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM.
1) Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong quá trình hình
thành, xây dựng và phát triển đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn tồn
tại dưới hai mặt thúc đẩy hoặc là kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Nền
kinh tế thị trường có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của CNXH
mà cho đến nay Đảng và Nhà nước ta vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để hạn
chế và ngăn chặn kịp thời.
1.1) Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi
"phải trải qua một thòi kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình
thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ và trong thời kỳ quá độ ấy có
nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế".
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay thì vấn đề giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất là một trong những vấn đề rất phức tạp. mâu thuẫn giữa hai mặt
này và những biểu hiện của chúng xét theo quan điểm của Mac và Lênin là:
lực lượng sản xuất là nội dụng của sự vật, quan hệ sản xuất là hình thức của
sự vật, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Hai hình thức này
chính là tiền đề cho sự phát triển của phương thức sản xuất. Khi lực lượng
sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định thì quan hệ sản xuất cũ không
còn phù hợp nữa sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển, khi đó phải thay
thế một quan hệ sản xuất mới cho phù hợp hơn với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất, có nghĩa là quan hệ sản xuất phải vận động phù hợp với
lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa hay quan hệ sản xuất
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề rất mới
mẻ về lý luận và thực tiễn. Trong quá trình đó, phải từng bước xác lập chủ
nghĩa xã hội, phải tạo ra những điều kiện, những tiền đề để phát triển theo
đúng quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội, tránh nguy cơ chệch hướng.
Để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, Đảng ta chủ trương đa dạng hoá
các hình thức sở hữu. Và "từ các hình thức sở hữu cơ bản: sớ hữu toàn dân,
sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với
những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp". Để đạt được
điều đó, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh
tế nhiều thành phần
Theo đó, có thể nói, quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt: một mặt, phải đa
dạng hoá các hình thức sớ hữu và coi đó là một trong những điều kiện tất yếu
của kinh tế thị trường, mặt khác, phải không ngừng củng cố và hoàn thiện sở
hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Đây là vấn đề có tính chiến lược nhằm phát
huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Quá trình mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến và quan hệ sản
xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt và quyết liệt vì vậy cần có chính
sách chuyển đổi cho phù hợp với định hướng kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay.
1.2) Mâu thuẫn giữa các hình thức sở hữu trước đây và trong nền kinh tế
thị trường.
Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, các chế độ sở hữu cũng
như các hình thức sở hữu cũng thay đổi. Trong lịch sử phát triền của nhân
loại, các chế độ sở hữu đã lần lượt thay thế nhau: từ chế độ công hữu nguyên
thuỷ đến chế độ chiếm hưu nô lệ, phong kiến, chiếm hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa và chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa. Lịch sử phát triển của nhân loại
cũng cho thấy, không có một chế độ sở hữu nào là thuần nhất một hình thức
sở hữu, mà nó là sự đan xen nhiều loại hình, nhiều hình thức sở hữu khác
nhau. Tuy nhiên, trong đó có một loại hình sở hữu đóng vai trò chi phối, quy
định bản chất của chế độ sở hữu trong từng giai đoạn lịch sử
+ Sở hữu nhà nước và sở hữu toàn dân.
Trong thời kỳ bao cấp trước đây, nước ta và một số nước khác trong hệ thống
XHCN thường đồng nhất sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước. Do vậy trong
một thời gian dài, người ta bỏ quên hình thức sở hữu nhà nước mà chỉ quan
tâm tới sở hữu toàn dân dưới chế độ công hữu tồn tại dưới hai hình thức: Sở
hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Mặt khác sở hữu toàn dân gắn kết với sự phát
triển của khu vực kinh tế quốc doanh mà chúng ta đã ra sức quốc doanh hoá
nền kinh tế với ý muốn sẽ có CNXH nhiều hơn. Thực ra, như thế sở hữu toàn
dân đã trở thành sở hữu không phải của một chủ thể nào cả. trong xã hội mà
nhà nước còn tồn tại thì sở hữu toàn dân chưa có điều kiện vận động trên bề
mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu nhà nước xét về tổng
thể, mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu. Còn kết cấu bên trong của sở
hữu nhà nước ở nước ta chủ yếu thể hiện ở quyền sở hữu đó ở khu vực quốc
doanh, khu vực doanh nghiệp nhà nước.
+ Về sở hữu tập thể.
Trước đây sở hữu tập thể chủ yếu tồn tại dưới hình thức hợp tác xã (gồm hợp
tác xã nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp) với nội dung là cả giá trị và giá
trị sử dụng đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu chính. Quyền mua
bán hoặc chuyển nhượng tư liệu sản xuất trong sản xuất, lưu thông diễn ra
phức tạp. Quyền của các tập thể sản xuất bị hạn chế, song đôi khi lại có tình
trạng lạm quyền, sự không xác định, sự nhập nhằng với quyền sở hữu Nhà
nước và sở hữu tư nhân trá hình là hiện tượng phổ biến. Trong bối cảnh đó,
nền kinh tế thị trường cần xác định quyền mua bán và chuyển nhượng tư liệu
sản xuất đối với tập thể sản xuất kinh doanh. Có như thế sở hữu tập thể mới
có thể trở thành một hình thức sở hữu có hiệu quả.
Hợp tác xã là hình thức sở hữu kinh tế tiến bộ trong thời kỳ quá độ lên
CNXH. Vì vậy, cần duy trì và phát triển hơn nữa hình thức sở hữu này khi
xây dựng CNXH như V.I. Lênin khẳng định: “Chế độ của xã viên hợp tác xã
văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa”. Hợp tác xã là nhu cầu thiết thực của
nền kinh tế hộ gia đình, của nền sản xuất hàng hoá. Khi lực lượng sản xuất
trong nông nghiệp và công nghiệp phát triển tới một trình trình độ nhất định,
nó sẽ thúc đẩy quá trình hợp tác. Ở nước ta hiện nay đã có những hình thức
hợp tác xã kiểu mới ra đời do nhu cầu tồn tại và phát triển của cơ chế thị
trường, được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động
trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cơ phần, mỗi
xã viên có quyền như nhau với các công việc chung. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình
thức hợp tác đa dạng trong đó hợp tác xã là nòng cốt, các hợp tác xã dựa trên
sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể , liên kết rộng rãi người lao
động..”
1.3) Mâu thuẫn giữa tính tự phát và tính tự giác trong sự phát triển kinh tế
xã hội.
Nền kinh tế thị trường trong điều kiện sản xuất nhỏ là phổ biến như ở nước ta
thì tất nhiên chưa thoát khỏi tính tự phát tư bản chủ nghĩa. Việc định hướng
nền kinh tế nước ta đi lên CNXH không phải là một sự phát triển tự phát, mà
là kết quả của sự nhận thức và vận dụng một cách khách quan của sự phát
triển xã hội trong thời đại ngày nay. Như vậy, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN đã bao hàm sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập: tính
tự giác và tính tự phát trong phát triển kinh tế xã hội.
Trong thời đại ngày nay, tính tự giác vẫn còn là cái cần thiết và không tránh
khỏi trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, trong việc
giải quyết những khó khăn về việc làm, trong lưu thông hàng hoá. Còn các
hoạt động tự giác là hoạt động dựa trên nhận thức đúng đắn xu thế tất yếu và
quy luật khách quan của đời sống xã hội.
1.4) Mâu thuẫn của một số mối quan hệ: lợi ích của người lao động và
lợi ích của người chủ sức lao động, giữa sự phát triển kinh tế tư nhân
với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ tức là chấp nhận sự tồn tại
nhiều thành phần kinh tế, trong đó có những thành phần kinh tế tư bản chủ
nghĩa, chấp nhận các hình thức sở hữu và kinh doanh có sử dụng sức lao
động làm thuê và có sự bóc lột sức lao động. ở đây một số mối quan hệ có
mâu thuẫn cần được nghiên cứu và giải quyết, đó là mối quan hệ giữa các lợi
ích: Lợi ích của người lao động và lợi ích của người sử dụng sức lao động,
mối quan hệ giữa sự phát triển của kinh tế tư nhân với vai trò của kinh tế Nhà
nước.
1.5) Mâu thuẫn giữa bình đẳng, công bằng xã hội với tính cách là mục
tiêu CNXH với tình trạng bất bình đẳng, bất công không thể tránh khỏi
do mặt trái kinh tế thị trường làm nảy sinh.
Trong mô hình kinh tế của CNXH quan niệm và thực hiện không đúng vấn
đề dẫn đến tình trạng trì trệ của xã hội, song điều đó không có nghĩa là lý
tưởng về bình đẳng xã hội đã trở thành một sai lầm lỗi thời. Sự nghiệp đổi
mới CNXH ở nước ta đòi hỏi phải nhận thức lại vấn đề bình đẳng xã hội,
quan hệ giữa công bằng và bình đẳng xã hội, nhưng không phải từ bỏ mục
tiêu phấn đấu cho bình đẳng xã hội.
Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện xuất phát từ sản xuất nhỏ lẻ vì
thế xã hội không tránh khỏi những yếu tố kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa,
sự cạnh tranh (kể cả cạnh tranh không lành mạnh), sự phá sản, tình trạng thất
nghiệp, sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng và các bộ phận dân cư và nhất
là không thể tránh khỏi những tệ nạn xã hội do mặt trái của kinh tế thị trường
gây ra dẫn đến sự bình đẳng phát triển thành sự phân cực xã hội, không cho
phép những người lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp, không chấp nhận
tình trạng tiêu cực gia tăng đã làm cho mâu thuẫn xuất hiện. Kinh tế thị
trường là phương tiện, là con đường thực hiện các mục tiêu của CNXH.
1.6)Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người
XHCH
Con người giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, vì con
người là chủ thể của mọi sáng tạo,của mọi nguồn vật chất và văn hoá. Con
người phát triển cao về trí tuệ, cươnngf tráng về thể chất, phong phú về tinh
thần, trong cuộc sống về đạo đức là đọng lực của sự nghiệp xây dựng xã hội
mới,là mục tiêu của CNXH. Có thể nói con người là điểm xuất phát để xây
dựng xã hội chư nghĩa.
Kinh tế thị trường là loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh
tế giữa con người với con người được biểu hiện thông qua thị trường, mua