Mâu thuẫn biện chứng giữa việc tìm hiểu những cơ hội và thách thức khi việt nam gia nhập wto

  • 32 trang
  • file .docx
Tiểu Luận Triết Học
ĐỀ CƯƠNG
Đề tài: Mâu thuẫn biện chứng giữa việc tìm hiểu những cơ hội và thách
thức khi Việt Nam gia nhập WTO.
Lời mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
 Khẳng định hội nhập là xu thế tất yếu của thời đại.Và việc Việt Nam gia
nhập WTO là cần thiết trong giai doạn hiện nay.
 Mức độ cần thiết của việc nghiên cứu khó khăn và thách thức khi Việt Nam
gia nhập WTO.
2.Mục đích nghiên cứu và lý do lựa chọn đề tài
 Mục đích nghiên cứu của bản thân về vấn đề này.
 Nêu lên lý do tại sao lại chọn đề tài.
Nội Dung
1.Nguyên lý triết học của đề tài
Dựa vào nội dung của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:
1.1.Khái niệm các mặt đối lập,mâu thuẫn,sự thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập:
 Khái niệm về mặt đối lập.
 Khẳng định Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau
tạo thành mâu thuẫn biện chứng.
 Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự
nhiên xã hội và tư duy.
1.2.Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển
 Nêu lên sự đấu tranh của các mặt đối lập.
 Khẳng định mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển.
1.3.Phân loại mâu thuẫn
 Phân loại mâu thuẫn của đề tài thuộc loại mâu thuẫn nào.
1.4.ý nghĩa của việc nghiên cứu mâu thuãn này
2.Vận dụng nguyên lý vào thực tiễn
 Khó khăn và thuận lợi của việc Việt Nam gia nhập WTO là mâu thuẫn biện
chứng.
 Nêu ra các khó khăn,thuận lợi chính.
 Đi sâu nghiên cứu vào các ngành để làm rõ mâu thuẫn biện chứng giữa khó
khăn và thách thức khi Việt Nam vào WTO.
 Nêu ra hướng, biện pháp giải quyết.
Kết Luận
 Gói gọn vấn đề đã nêu trên.
 Ý kiễn của bản thân.
 Tài liệu tham khảo.
1
Tiểu Luận Triết Học
LỜI NÓI ĐẦU
1.tính cấp thiết của đề tài
Vào nửa cuối của những năm 90 của thế kỷ trước, với đà phát triển mạnh mẽ
của khoa học kỹ thuật và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, lực lượng sản xuất đã
có bước phát triển vượt bậc trên phạm vi toàn cầu . Các công ty xuyên quốc gia với
tiềm lực tài chính to lớn và khả năng công nghệ dồi dào gia tăng hoạt động. Sự phát
triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và sự gia tăng hoạt động của các công ty
xuyên quốc gia là 2 yếu tố lớn tác động đến bức tranh kinh tế thế giới trong thời đại
ngày nay. Hai yếu tố này, một mặt đặt ra nhu cầu, mặt khác tạo ra khả năng tổ chức
lại thị trường trên toàn thế giới. Nói một cách khác, hai yếu tố này thúc đẩy quá
trình toàn cầu hoá kinh tế. Sự mở rộng thị trường gắn với sự phát triển lực lượng
sản xuất và tính chất của quá trình này đã được C. Marx chỉ ra trong Tuyên ngôn
Đảng Cộng sản. Do các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hoá và dịch vụ dịch
chuyển tự do từ nước này sang nước khác nên sự phân công lao động ngày càng sâu
sắc và diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên các chuỗi giá trị toàn cầu.
Từ thực tế này, một loạt vấn đề mới đặt ra trong chính sách thương mại và đầu tư.
Trong đó, có đối sách của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trước xu thế của thời đại, hoặc
tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá hay đứng ngoài tiến trình ấy. Tham gia vào tiến
trình toàn cầu hoá, tiến cùng thời đại tuy thách thức là rất lớn, nhưng cơ hội cũng rất
nhiều. Không tham gia vào tiến trình ấy, trở thành người ngoài cuộc sẽ bị phân biệt
đối xử trong tiếp cận thị trường về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, sẽ rất khó khăn
trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
nhất là trong bối cảnh thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng kỹ thuật - công nghệ
lần thứ 3; và từ đó, dẫn đến làn sóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế lần thứ 3. Mà sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mỗi nước sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
giữa các nước. Do nhận thưc rõ được điều này và trên cơ sở những thành tựu đạt
được sau gần 10 năm đổi mới, năm 1995, nước ta chính thức làm đơn xin gia nhập
Tổ chức thương mại thế giới. Nhận thức rõ “toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế
khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia” (Báo cáo chính trị của Ban
Chấp hành Trung ương khoá VIII tại Đại hội toàn quốc của Đảng tháng 4 năm
2001) và thực hiện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị khoá VIII về hội nhập kinh tế
2
Tiểu Luận Triết Học
quốc tế, chúng ta đã nỗ lực hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm hình thành đồng bộ
các yếu tố của kinh tế thị trường, kiên trì đàm phán trên cả 2 kênh song phương (mở
cửa thị trường) và đa phương (thực hiện các hiệp định của Tổ chức thương mại thế
giới). Ngày 07 tháng 11 vừa qua, nước ta đã chính thức được kết nạp vào tổ chức
này. Trong bối cảnh đó, để Việt Nam sử dụng được tối đa những cơ hội và hạn chế
được những khó khăn vấp phải , đòi hỏi chúng ta phải có được những biện
pháp,chính sách cụ thể,những phuơng án tối ưu để chúng ta không bị bỡ ngỡ khi hội
nhập, để nền kinh tế Việt Nam có thể đứng vững và phát triển một cách bền vững.
Trước hoàn cảnh đất nước trước thềm hội nhập với rất nhiều khó khăn và thách
thức như vậy thì những ý kiến những đề tài nghiên cứu về vấn đề này là hết sức cần
thiết ,nó góp phần quan trọng trong việc xây dựng các chính sách,các mục tiêu và
con đường đi cho nền kinh tế Việt Nam sau này.
2.Mục đích nghiên cứu và lý do lựa chọn đề tài
Đứng trước một nền kinh tế Việt Nam đang ầm ầm chuyển động theo cơ chế
thị trường trong thời kỳ hội nhập, các khó khăn và thách thức đã được các nhà
hoạch định kinh tế vạch ra,và có rất nhiều tài liệu ,nhiều cuộc hội thảo nói về vấn đề
này. Là một sinh viên của một trường đại học khối kinh tế, trong quá trình học đã
được bổ sung thêm các kiến thức song những kiến thức thực tế của em và hầu như
của các bạn sinh viên khác đều rất hạn hẹp . Đứng trước là một sự kiện lớn là Việt
Nam gia nhập WTO, do đòi hỏi của thực tế và sau một thời gian nghiên cứu tìm
hiểu em đã chọn đề tài:”Mâu thuẫn biện chứng với việc tìm hiểu những cơ hội và
thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO” để nghiên cứu với mục đích là mong
muốn được nâng tầm hiểu biết về thực tế của mình để sau này khi ra trường không
bị bỡ ngỡ trước thực tế công việc và em cũng mong muốn được đóng góp ý kiến
của mình vào sự kiện có một không hai của đất nước này để góp phần xây dựng đất
nước giàu đẹp hơn.
3
Tiểu Luận Triết Học
NỘI DUNG
1.Nguyên lý triết học của đề tài
Đề tài này được nghiên cứu dựa trên nguyên lý triết học:”Quy luật thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập”. để tìm hiểu nguyên lý triết học này ta cần tìm
hiểu trong các mặt sau:
1.1.Khái niệm các mặt đối lập,mâu thuẫn,sự thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập:
Tất cả các sự vật ,hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược
nhau .Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân; trong sinh vật có đồng hoá và dị hoá;
trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền…những mặt trái ngược nhau
đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập. Từ đó ta có thể rút ra định
nghĩa về mặt đối lập: mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc
tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một
cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Sự tồn tại các mặt đối lập là
khách quan và là phổ biến trong tất cả các sự vật. Các mặt đối lập nằm trong sự liên
hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện
chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
4
Tiểu Luận Triết Học
Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là
nguồn gốc phát triển của nhận thức. Mâu thuẫn biện chứng không phải là ngẫu
nhiên, chủ quan, cũng không phải là mâu thuẫn trong logic hình thức. Mâu thuẫn
trong logic hình thức là sai lầm trong tư duy. Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn
biện chứng tồn tại trong sự thống nhất với nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập
là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại
của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia để làm tiền đề. Các mặt đối lập tồn tại
không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau.
Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đối lập. Với ý
nghĩa đó, “sự thống nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm cả sự “đồng nhất” của
các mặt đó.Do có sự đồng nhất của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu
thuẫn đến một lúc nào đó,các mặt đối lập có thể chuyển hoá lẫn nhau. Các mặt đối
lập không chỉ thống nhất,mà còn luôn đấu tranh vơí nhau. Đấu tranh giữa các mặt
đối lập là sự tác động quá lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các
mặt đó.Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng tuỳ
thuộc vào tính chất ,vào mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều kiện
cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng.
1.2.Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động
khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Như vậy mâu thuẫn biện chứng
cũng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập. Sự thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau, trong quá trìng vận động, phát
triển của sự vật. Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của
sự vật. Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động vf phát triển. Điều
đó có nghĩa là: sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời; sự đấu
tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất (…) của các
mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các
mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là
tuyệt đối”.
Trong sự tác động qua mạng của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt
đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho
5
Tiểu Luận Triết Học
mâu thuẫn phát triển. Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn
bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó càng ngày càng
phát triển và đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện,
chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó mà thể thống
nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời
thay thế. V.I.Lênin viết: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối
lập”. Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu
tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời
nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự
thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. Do đó, mâu thuẫn là
nguồn gốc của sự vận đông và phát triển.
2.Vận dụng nguyên lý vào thực tiễn
Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập đã mang
lại những ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận trong nhận thức và trong
hoạt động thực tiễn. Đây chính là cơ sở dể chúng ta có cái nhìn sâu rộng về bản chất
của sự vật và tìm ra phương hướng, giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn. Việc áp
dụng và xem xet tìm hiểu những cơ hội , thách thức của nước ta khi gia nhập WTO
chính là đi xem xét những mặt, những mâu thuẫn của nền kinh tế, sự thống nhất và
đấu tranh của những mâu thuẫn đó từ đó giải quyết mâu thuẫn, chuyển hoá chúng
tạo tiền đề cho sự phát triển là việc làm rất quan trọng và cần thiết. Việc VIỆT
NAM gia nhập WTO chính là một bước ngoặt lớn vô cùng quan trọng của nền kinh
tế nước nhà. Chúng ta có những cơ hội thực sự, có tiềm năng phát triển, v.v…
Nhưng bên cạnh đó, sự hội nhập cũng để lại cho chúng ta những thách thức vô cùng
lớn về mọi mặt. Vì vậy, xem xét những mặt mạnh và mặt yếu chính là xem xét
những cơ hội, thời cơ và thách thức của nền kinh tế. Những cơ hội và thách thức đó
chính là các mặt đối lập có tác động qua lại lẫn nhau, ở đó có sự nương tựa, thống
nhất giữa nhiều thành phần kinh tế.Vì vậy việc tìm hiểu , đi sâu nghiên cứu phát
hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu (những cơ hội, thách thức) từ đó tìm cách giải
quyết, phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế những điểm yếu (giải
6
Tiểu Luận Triết Học
quyết mâu thuẫn) sẽ là những tiền đề quan trọng, tạo bước đẩy cho chúng ta nhanh
chóng phát triển đưa đất nước đi lên, tận dụng được thời cơ.
Khi gia nhập WTO, những cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế là rất nhiều
song có thể gói gọn trong năm thuận lợi và bốn khó khăn chính:
2.1.Về thuận lợi:
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành
viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các nước
mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này, không bị phân biệt đối
xử. Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu và trong
tương lai - với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta - mở rộng kinh
doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia. Với một nền kinh tế có độ mở lớn như
nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là
đặc biệt quan trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng.
Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý
theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được cải
thiện. Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy tiềm năng của các
thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp
nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng
cách phát triển.
Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ, cùng với phát huy nội lực, đầu tư nước
ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế này ngày càng nổi
trội: năm 2006, đầu tư nước ngoài chiếm 37% giá trị sản xuất công nghiệp, gần 56%
kim ngạch xuất khẩu và 15,5% GDP, thu hút hơn một triệu lao động trực tiếp làm
việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên
khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh
nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để
bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Đương nhiên kết quả đấu tranh còn
7
Tiểu Luận Triết Học
tùy thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và năng lực quản lý
điều hành của ta.
Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể chế
kinh tế ở trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính
việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải
cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ hơn, có hiệu quả
hơn.
Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi
mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện
cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm: Việt Nam
mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới vì hoà
bình, hợp tác và phát triển.
2.2.Về khó khăn,thách thức
Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTO mang lại,
cần thấy hết những thách thức mà chúng ta phải đối đầu, nhất là trong điều kiện
nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu
kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé. Những thách thức
này bắt nguồn từ sự chênh lệch giữa năng lực nội sinh của đất nước với yêu cầu hội
nhập, từ những tác động tiêu cực tiềm tàng của chính quá trình hội nhập. Những
thách thức này gồm:
Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình
diện rộng hơn, sâu hơn. Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản phẩm
các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không chỉ trên thị
trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta do thuế nhập khẩu phải cắt giảm từ
mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức trung bình 13,4% trong vòng 3 đến 5
năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn. Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ
sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra
giữa nhà nước và nhà nước trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược
phát triển nhằm phát huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài. Chiến lược phát
triển có phát huy được lợi thế so sánh hay không, có thể hiện được khả năng “phản
ánh vượt trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay không. Chính sách
8
Tiểu Luận Triết Học
quản lý có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh hay
không, có tạo dựng được môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thuận lợi hay
không v.v… Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của
toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia.
Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hóa là không đồng
đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. ở mỗi quốc
gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng
lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá sản một
bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ
mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn;
phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi
đôi với xóa đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và ông bằng xã hội ngay trong từng
bước phát triển”.
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tùy thuộc
lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị trường các nước sẽ tác
động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chính sách kinh tế vĩ
mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải tạo cơ
sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực
trước những biến động trên thị trường thế giới. Trong điều kiện tiềm lực đất nước
có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị
trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu
vươn lên mạnh mẽ, với lòng tự hào và trách nhiệm rất cao trước quốc gia, trước dân
tộc.
Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi
trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền.
Những khó khăn và thuận lợi trên đều được bộc lộ rõ trong hầu hết các ngành
các lĩnh vực kinh tế.Chúng ta sẽ phân tích tìm hiểu một số ngành,lĩnh vực kinh tế để
làm rõ những khó khăn và thuận lợi này và mâu thuẫn biện chứng giữa chúng.
Đầu tiên chúng ta sẽ đi vào ngành dệt may dày da, tháng 1-2007, thuế nhập
khẩu hàng dệt may đã cắt giảm ở mức tương đối lớn. Cụ thể, thuế suất thuế nhập
9
Tiểu Luận Triết Học
khẩu nhóm hàng xơ, sợi giảm từ 20% xuống còn 5%; nhóm hàng vải giảm từ 40%
xuống còn 12% và đặc biệt, nhóm hàng may sẵn giảm từ 50% xuống còn 20%. Với
da giày, thuế suất thời điểm cam kết còn 40% đối với giày dép và còn 30% tới năm
2012.Điều này sẽ tạo ra những thay đổi lớn ở thị trường nội địa. Đó là những tổ hợp
các công ty nhỏ trong lĩnh vực dệt sẽ rất khó khăn và việc đóng cửa hàng loạt doanh
nghiệp trong ngành là hoàn toàn có thể. Đặc biệt, với nhóm quần áo và đồ may sẵn,
việc cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu là cơ hội để các thương hiệu quần áo may
sẵn đẩy mạnh hoạt động tại thị trường Việt Nam. Phân tích từ Trung tâm Xúc tiến
thương mại và Đầu tư TP Hồ Chí Minh cho thấy, vấn đề mấu chốt trong cuộc cạnh
tranh này là kênh phân phối và thương hiệu, vốn là những lĩnh vực yếu của doanh
nghiệp Việt Nam. Kết quả cuộc cạnh tranh là gì? Là các thương hiệu may sẵn của
Việt Nam sẽ nhường chỗ cho các thương hiệu nước ngoài và sự sụt giảm lượng
khách đáng kể tại các nhà may do nhu cầu sử dụng hàng hiệu giá rẻ tăng cao.Ông
Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, sắp tới, các nhà sản
xuất hàng dệt may trong nước sẽ phải cạnh tranh khốc liệt khi sản phẩm của nước
ngoài ồ ạt vào Việt Nam, nhất là các nước có cạnh tranh lớn như Trung Quốc, ấn
Độ…Ông Trần Hữu Bưu, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Công nghiệp)
nhấn mạnh, thời gian tới, nếu ngành dệt may trong nước không tích cực đầu tư làm
chủ khâu nguyên liệu, thiết kế mẫu mã, thì sẽ mất dần lợi thế cạnh tranh. Với sản
phẩm giày dép, đây không chỉ là thế mạnh của riêng Việt Nam, mà còn là thế mạnh
của rất nhiều nước ASEAN, vì thế doanh nghiệp trong nước không thể không nâng
cao sức cạnh tranh từ đổi mới công nghệ đến chất lượng và giá cả.Theo nguyên lý
của phép biện chứng triết học thì khi khó khăn này xuất hiện thì cũng sẽ xuất hiện
mặt đối lập của nó nghĩa là sẽ xuất hiện những thuận lợi.Thật vậy tuy đây là những
khó khăn với các doanh nghiệp dày da may mặc Việt Nam nhưng đối với người tiêu
dùng thì đây là một yếu tố rất có lợi, khi chúng ta cam kết giảm thuế nhập khẩu
ngay khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã mang lại cho người tiêu
dùng có thêm nhiều lựa chọn các sản phẩm thời trang, đặc biệt là sớm có cơ hội
được mua hàng hiệu với giá mềm hơn. Theo các chuyên gia, thời gian tới sẽ có sự
điều chỉnh trong thị trường quần áo may sẵn. Với dòng thời trang giá rẻ, thị phần sẽ
có phần nghiêng qua các sản phẩm sản xuất từ Trung Quốc. Trước đây, các sản
10
Tiểu Luận Triết Học
phẩm này vào Việt Nam chủ yếu qua đường buôn lậu, tới đây đã có thể nhập vào
Việt Nam qua đường chính ngạch. Giá các sản phẩm này vốn đã rất rẻ, sẽ có điều
kiện để củng cố thị trường ở khu vực nông thôn, vùng núi. Theo nhiều chuyên gia,
các doanh nghiệp trong nước khó có thể cạnh tranh với các sản phẩm này.
Ở dòng sản phẩm trung bình thấp và trung, hàng từ các nước ASEAN nhập vào
Việt Nam chủ yếu vẫn là Thái-lan. Với mức giá bình quân 255.000-499.000
đồng/sản phẩm, hàng Thái-lan cũng có mặt ở các chợ và các shop nhỏ lẻ. Nhưng so
với hàng sản xuất trong nước, sản phẩm của Thái-lan không có sự khác biệt lớn về
mẫu mã lẫn chất lượng, giá lại cao hơn nên sức cạnh tranh cũng không cao. Riêng
các sản phẩm nhập khẩu từ Indonesia, Malaysia... do không phù hợp mẫu mã nên
không được người Việt ưa chuộng.
Theo các chuyên gia, ở phân khúc này các doanh nghiệp trong nước có thể cạnh
tranh tốt. Tuy nhiên,Theo bà Đặng Quỳnh Đoan, giám đốc nhãn hiệu thời trang Việt
Thy “doanh nghiệp cần phải tính lại giá thành, nâng cao chất lượng và kiểu dáng,
điều đó có nghĩa doanh nghiệp phải đầu tư nhiều lần so với trước”.Cũng theo các
chuyên gia, gay cấn nhất sẽ rơi vào các mặt hàng thời trang cao cấp. Những sản
phẩm mua bản quyền từ Pierre Cardin của An Phước, hoặc T-up của Việt Tiến, hay
veston của Nhà Bè sẽ gặp rất nhiều khó khăn trước những thương hiệu nổi tiếng
khác như Mango, Velentino, Guest, Giordano - vốn đã có mặt tại thị trường Việt
Nam thông qua các đại lý phân phối độc quyền. Những người có thu nhập khá và
cao sẽ không ngần ngại lựa chọn sản phẩm mà mình ưa thích vì tới đây giá sẽ rẻ
hơn do thuế nhập khẩu giảm. Thuế nhập khẩu giảm, thương hiệu nổi tiếng, tâm lý
người Việt lại chuộng hàng ngoại - đó là những khó khăn cho các doanh nghiệp
trong nước trong cuộc chạy đua giữ chân khách hàng.Trong khi đó, các công ty
chuyên kinh doanh hàng hiệu đang tích cực khai thác cơ hội làm ăn. Phụ trách kinh
doanh của một công ty chuyên nhập khẩu các nhãn hiệu thời trang nổi tiếng tiết lộ
các kế hoạch mở rộng thêm điểm bán hàng và tăng lượng hàng nhập khẩu đều đã
được công ty chuẩn bị từ ba tháng trước để có thể triển khai ngay khi việc cắt giảm
thuế có hiệu lực. “Giá các sản phẩm này sẽ không giảm nhanh chóng, nhưng so với
trước chắc chắn sẽ mềm hơn, mở ra nhiều cơ hội cho người tiêu dùng lựa
chọn” .Khi Việt Nam vào WTO thì hàng dệt may giày da của Việt Nam sẽ có thị
11
Tiểu Luận Triết Học
trường rộng lớn hơn tiêu biểu như EU nhưng nó cũng gây ra một số khó khăn nhất
định. EU là một thị trường rộng lớn, đa dạng có nhiều triển vọng cho hàng xuất
khẩu của Việt Nam... nhưng cũng là một thị trường "sang trọng" và "khó tính".
Chinh phục thị trường này là một điều không dễ, nhất là khi Việt Nam phải cạnh
tranh với Trung Quốc, một cường quốc về các mặt hàng xuất khẩu.
Tuy vậy khó khăn này cũng đi kèm một số thuận lợi nhất định,kể từ khi quan hệ
ngoại giao giữa Việt Nam và Cộng đồng châu Âu được bình thường hóa vào ngày
22-10-1990, quan hệ thương mại Việt Nam-EU không ngừng phát triển. Tiến trình
đó được thúc đẩy thêm bởi việc ký kết các hiệp định thương mại song phương như
Hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam - EU ngày 15-12-1992, và đặc biệt là
Hiệp định khung hợp tác giữa Việt Nam - EU ngày 17-7-1999 đã mở ra một chương
mới trong quan hệ giữa nước ta và EU. Ngày nay, Việt Nam và EU đã trở thành
những bạn hàng không thể thiếu được của nhau. Mới đây, EU đã công nhận và cho
phép đưa hàng Việt Nam lên ngang hàng các nước kinh tế thị trường trong việc điều
tra và thi hành các biện pháp chống phá giá.Vậy liệu EU có phải là một thị trường
lớn triển vọng cho hàng dệt may dày da của Việt Nam?
EU là một đối tác quan trọng của Việt Nam trong các lĩnh vực hợp tác thương
mại, nhất là xuất khẩu. Tuy kim ngạch chưa lớn nhưng tốc độ tăng trưởng và phát
triển tương đối cao. Danh mục hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU ngày càng
tăng lên. Ngoài thủy sản, nông sản (cà phê, chè, gia vị) còn có các sản phẩm công
nghiệp chế biến như dệt may, giày dép, sản phẩm bằng da thuộc, đồ gỗ, đồ chơi trẻ
em, dụng cụ thể thao, gốm sứ mỹ nghệ và các mặt hàng chế biến cao cấp như hàng
điện tử, điện máy.Giày dép là mặt hàng chủ lực có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất.
Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang EU năm 2002 đã tăng gấp hai lần so với 5
năm trước. Sau khi Việt Nam ký với EU Biên bản chống gian lận trong buôn bán
giày dép, hằng năm kim ngạch xuất khẩu sang EU đều tăng trên 10% /năm.
Theo dự báo của Hiệp hội da-giày Việt Nam, năm nay ngành da-giày có khả
năng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1,6 tỷ USD, tăng hơn năm 2002 trên 300 triệu và
dự đoán sẽ còn tăng đến 4,7 tỷ vào năm 2010, trong đó có 76,49% là xuất sang EU.
Đây là thị trường đầy tiềm năng với dân số gần 400 triệu, mức sống cao và nhu cầu
tiêu thụ giày dép lớn song cũng là thị trường có đòi hỏi rất cao về mặt chất lượng
12
Tiểu Luận Triết Học
cũng như mẫu mã. Chính vì vậy nên các doanh nghiệp da-giày Việt Nam hiện đang
phải cố gắng để đáp ứng các qui định về tiêu chuẩn xuất xứ cũng như nâng cao chất
lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm để có thể đứng vững trên thị trường EU.Tiếp
đến là dệt may, một ngành có tiềm năng xuất khẩu lớn thứ hai trong số các mặt
hàng công nghiệp chế biến trong nước. EU là thị trường dệt may hạn ngạch lớn nhất
của Việt Nam, trên 40% hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam là xuất sang EU,
trong khi Nhật Bản là thị trường dệt may phi hạn ngạch. Khi ký hợp đồng hàng dệt
may Việt Nam - EU, EU đã dành cho Việt Nam mức thuế quan phổ cập ưu đãi GSP
nhằm tạo điều kiện cho hàng dệt may có xuất xứ từ Việt Nam, từ chỗ bị cấm vận đã
xuất vào được thị trường EU với tốc độ xuất khẩu tăng nhanh từ 38-40% một năm.
Rõ ràng, Hiệp định Việt Nam - EU năm 1993 về hàng dệt may đã mở ra thị trường
lớn cho hàng dệt may có xuất xứ từ Việt Nam.
Vậy ta đã thấy rằng ngành dệt may dày da Việt Nam đã gặp phải rất nhiều khó
khăn khi gia nhập WTO nhưng bao giờ đi kèm với chúng cũng là những thuận lợi
nhất định,và giữa những khó khăn và thuận lợi này luôn tồn tại mối quan hệ biện
chứng với nhau.Mối quan hệ này được biểu hiện ra thông qua sự tác động qua lại
giữa những khó khăn và thuận lợi này, những khó khăn này sẽ chi phối tác dụng
vốn có của những thuận lợi,chúng sẽ cản trở không cho chúng ta phát huy được
những thuận lợi đó,việc tận dụng được những cơ hội này để phát triển đất nước bắt
buộc chúng ta phải nghiên cứu ,tìm hiểu kĩ lưỡng mâu thuẫn biện chứng giữa những
thuận lợi và khó khăn để tìm cách giải quyết được mâu thuẫn giữa chúng nghĩa là
dựa trên cơ sở tiềm lực vốn có của đất nước mà có biện pháp tận dụng được tối đa
những cơ hội và tối thiểu hoá được những khó khăn để phát triển kinh tế đất
nước.Thậy vậy nếu ta gia nhập WTO thì sẽ xuất hiện những khó khăn như: Khi
chúng ta mở của thị trường cạnh tranh sẽ gay gắt hơn,nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào
các nước khác nhiều hơn… song những khó khăn này xuất hiện thì cũng sẽ xuất
hiện nhũng thuận lợi đi kèm ví dụ như có cạnh tranh gay gắt hơn thì mới thúc đẩy
các doanh nghiệp cải tiến phương tiện sản xuất ,cải cách cơ chế quản lý của mình
từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm,nâng cao cơ chế quản lý…và người được
lợi không phải ai khác mà chính là nền kinh tế và người tiêu dùng nước ta. Về phía
người tiêu dùng sẽ được tiếp cận với hàng hoá đa chủng loại hơn ,chất lượng tốt
13
Tiểu Luận Triết Học
hơn,và quan trọng hơn hết là giá cả hàng hoá sẽ rẻ hơn.Về mặt vĩ mô nghĩa là về
phía nền kinh tế nước ta khi mở của thị trường sẽ rộng hơn, đối với một nước với
nền kinh tế vươn ra xuất khẩu như nước ta thì điều này vô cùng quan trọng,hơn nữa
khi mở của thị trường thì chúng ta sẽ tiếp cận được nguồn khoa học công nghệ,cách
thức quản lý từ những nước phát triển khác giúp ta thay đổi cơ chế quản lý đang yếu
kém của ta hiện nay,từng bước nâng cao mức độ hấp dẫn của thị trường trong nước
để tăng lượng đầu tư nước ngoài vào nước ta,giúp tạo công ăn việc làm cho lao
động góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốc độ
tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển.
Còn trong nông nghiệp,Việt Nam sẽ phải đối mặt với bốn luật chơi cực kỳ khó
khăn. Không có chu trình nông nghiệp an toàn GAP (Good Agricultural Practices),
trái cây và rau quả có thể gặp khó khăn trong xuất khẩu, và tiêu thụ trong nước vì
không thể cạnh tranh với hàng ngoại. Rau hoa quả, một trong những mặt hàng nông
sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, là mặt hàng nông sản lớn nhất của sân chơi
WTO, trị giá gần 103 tỷ USD. Thị trường về lúa gạo, cà phê, cao su nhỏ hơn; mỗi
thứ không quá 10 tỷ USD/năm. Các loại nông sản khác như chè, điều và hồ tiêu thì
lại càng nhỏ; trên dưới 3 tỷ USD/năm. ở Việt Nam, mãi cho đến năm 2005, ta vẫn
còn sử dụng hơn 7 triệu héc ta đất để trồng lúa. Chỉ có gần 1 triệu héc ta trồng dừa,
cao su, trà, cà phê và 1,4 triệu héc ta trồng trái cây, rau quả và hoa. Đây là sự phát
triển không cân đối vì rõ ràng lúa đã trở nên độc canh, chiếm 74% diện tích canh tác
của cả nước, trong khi trái cây, rau quả và hoa có thị trường xuất khẩu lớn gấp 10
lần thì lại ít phát triển, chỉ chiếm có 15%. Mức độ đầu tư về nhân sự, nghiên cứu,
đất đai và lao động của ngành trái cây, rau quả và hoa so với lúa gạo cũng kém xa.
Về mặt canh tác, điểm yếu của độc canh là dễ dàng phát sinh dịch bệnh nên phải sử
dụng một lượng rất lớn thuốc bảo vệ thực vật để kiểm soát, làm ô nhiễm môi trường
đưa đến việc ngộ độc thực phẩm. Lúa ở ĐBSCL hiện đang bị bệnh vàng lùn - xoắn
lá có lẽ là hệ quả tất yếu của việc độc canh này.Trong khi đó thị trường xuất nhập
khẩu nông sản thế giới ngày nay được tổ chức rất chặt chẽ, phần lớn do các hệ
thống siêu thị đa quốc gia khống chế kiểm soát. Do tri thức của giới tiêu thụ ngày
càng cao nên yêu cầu của siêu thị về chất lượng nông sản - vốn dựa trên yêu cầu của
giới tiêu thụ của các nước lớn và giàu - ngày càng khó khăn, trở thành rào cản đối
14
Tiểu Luận Triết Học
với rất nhiều nước đang phát triển vốn xem xuất khẩu nông sản là đòn bẩy để phát
triển kinh tế.Tuy rằng Việt Nam đã đi tắt đón đầu nhờ lợi thế đi sau bằng cách du
nhập, thử nghiệm, cải thiện để ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại
của thế giới để xây dựng một nền khoa học kỹ thuật nông nghiệp thích hợp. Nếu
như năm 1995 kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản của Việt Nam đạt 1,3 tỷ USD thì
năm 2005 đã đạt 5,7 tỷ USD. Nhưng trong quá trình phát triển để hội nhập này,
nông nghiệp Việt Nam đã bộc lộ những lỗ hổng lớn trong dây chuyền sản xuất,
công nghệ sau thu hoạch, chất lượng mặt hàng và khâu an toàn vệ sinh, đặc biệt
nhất là “tay nghề”của thành phần sản xuất chủ lực - nông dân - chưa được nâng cao
ngang tầm của một nước mạnh về xuất khẩu nông sản. Nhìn chung, tính bền vững
trong nông nghiệp Việt Nam đang còn bấp bênh vì nông dân chưa thật sự có trình
độ để đưa chất xám vào sản xuất.
Trong bối cảnh trên,việc gia nhập WTO đã bắt buộc nông dân Việt Nam mới
chân ướt chân ráo bước vào dòng chảy của nền kinh tế toàn cầu đã phải đối diện
ngay với bốn luật chơi cực kỳ khó khăn. Đó là:
Một là luật chơi về an toàn thực phẩm: suốt trong quá trình sản xuất, trái cây và
rau quả Việt Nam phải có Chứng chỉ “nông nghiệp an toàn” hay “nông nghiệp tốt”
(Good Agricultural Practices, GAP) để chứng minh mặt hàng này luôn an toàn vệ
sinh.
Hai là luật chơi về chất lượng: mặt hàng nông sản Việt Nam phải cần rất nhiều
chứng chỉ, chẳng hạn như chứng chỉ xác nhận nguồn gốc giống (chứng chỉ xác nhận
giống không thuộc loại cây biến đổi gen, GMO), chứng chỉ báo cáo chất lượng
(hàm lượng protein, chống oxy hóa, vitamine, đồng bộ về giống, độ chín, kích cỡ và
màu sắc)... để chứng minh mặt hàng có chất lượng cao và bổ dưỡng.
Ba là luật chơi về số lượng: lượng hàng hóa lưu hành trong thị trường nông sản
thế giới ngày nay vừa lớn về số (trăm tấn, ngàn tấn, vạn tấn), vừa đồng bộ (giống,
kích cỡ, màu sắc, bao bì) và chính xác về thời gian giao hàng (đúng ngày quy định
hoặc thứ Tư mỗi tuần, tuần đầu mỗi tháng...).
Bốn là luật chơi về giá cả: để yểm trợ cho cạnh tranh, giá cả trở nên một yếu tố
quyết định. Đây là một thứ “luật bất thành văn” của bất cứ một cơ sở sản xuất hay
một quốc gia nào trên thế giới muốn tham dự cuộc chơi. Nông dân Việt Nam phải
15
Tiểu Luận Triết Học
hết sức quan tâm đến điểm này để mặt hàng luôn có giá rẻ - vốn là một lợi thế của
Việt Nam trong mấy năm qua.
Trong bốn luật chơi kể trên, cái khó nhất cho nông nghiệp Việt Nam hiện nay là
chu trình “nông nghiệp an toàn” hay “nông nghiệp tốt”, GAP. Đây là một chương
trình kiểm tra an toàn thực phẩm xuyên suốt từ A đến Z của dây chuyền sản xuất,
bắt đầu từ khâu chuẩn bị nông trại, canh tác đến khâu thu hoạch, sau thu hoạch, tồn
trữ, kể cả những yếu tố liên quan đến sản xuất như môi trường, các chất hóa học và
thuốc bảo vệ thực vật, bao bì và ngay cả điều kiện làm việc và phúc lợi của người
làm việc trong nông trại. Như vậy, chu trình nông nghiệp an toàn GAP là một bộ hồ
sơ trình bày công nghệ sản xuất của nông trại đồng thời cũng là bộ hồ sơ ghi chép
chi tiết những hoạt động của nông trại đó. Một số các nước ASEAN như Malaysia,
Thái Lan, Singapore và Indonesia tuy có biên soạn chương trình GAP cho mình,
nhưng việc xuất khẩu rau quả và trái cây của họ vẫn không thuận lợi hơn vì những
chu trình này đã không đáp ứng các đòi hỏi khắt khe của thị trường châu Âu, Hoa
Kỳ và Nhật Bản - là những thị trường vùng ôn đới có điều kiện khí hậu, khoa học
kỹ thuật nông nghiệp và văn hóa ẩm thực khác biệt. Để có sự đồng thuận của các thị
trường ôn đới, ASEAN đã yêu cầu Chính phủ úc biên soạn một chương trình nông
nghiệp an toàn GAP cho ASEAN, gọi là ASEAN GAP. Sau hai năm làm việc,
ASEAN GAP đã được công bố vào trung tuần tháng 11-2006, và là một chương
trình GAP chính thức cho các nước thành viên ASEAN.Có thể nói đây là những bất
lợi qua lớn cho nền nông nghiệp của Việt Nam ,vốn là một nền nông nghiệp lạc hậu
so với nền nông nghiệp cả các nước phát triển khác mà khi bước vào WTO chúng ta
đã phải chịu những quy định khắt khe về chất lượng và giá cả,những quy định yêu
cầu mà nông nghiệp Việt Nam khó có thể đáp ứng trong ngày một ngày hai được.
Là bốn nước gia nhập tổ chức ASEAN muộn nhất, Campuchia, Lào, Myanmar và
Việt Nam cũng đã quan tâm đến an toàn thực phẩm nhưng chưa có nước nào chính
thức có một chương trình GAP. Các chương trình tập huấn về GAP, dự án “GAP
cho cây thanh long”... do Australia, Canada và các nước khác tài trợ gần đây chỉ là
những chương trình nhỏ lẻ, chưa phải là một chu trình an toàn có quy mô toàn
ngành, toàn quốc cho Việt Nam. Cho nên nếu không xây dựng ngay chương trình
16
Tiểu Luận Triết Học
VIETNAM GAP, tạm gọi tắt là VietGAP, thì làm sao nông sản Việt Nam có thể
xuất khẩu, kể cả việc cạnh tranh với hàng ngoại ngay ở thị trường trong nước?
Khó khăn là vậy nhưng không phải là chúng ta không có được những thuận lợi,
việc gia nhập WTO vừa mang đến cho nông nghiệp Việt Nam triển vọng về một sân
chơi khổng lồ, với hơn 5 tỷ người tiêu thụ, chiếm 95% GDP, 95% giá trị thương
mại thế giới và một kim ngạch nhập khẩu trị giá 635 tỷ USD/năm.Mặt khác tuy
rằng cam kết khi gia nhập WTO không cho phép Chính phủ Việt Nam trợ cấp xuất
khẩu. Nhưng chính phủ được phép trợ cấp khuyến nông và phục vụ phát triển
nông nghiệp. Vậy thì xây dựng chiến lược phát triển mạnh ngành trái cây, rau quả
và hoa; nhanh chóng hoàn thành chu trình nông nghiệp an toàn VietGAP; và dấy lên
một phong trào tập huấn VietGAP đều khắp cho nông dân mới là trợ cấp WTO
đúng kiểu nhất mà Chính phủ giúp nông dân tham gia vào cuộc chơi đầy hào hứng
mà cũng không ít rủi ro này.
Để làm rõ mâu thuẫn biện chứng này,chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu sang ngành
tiếp theo, đó là ngành hải quan.Việc Việt Nam được kết nạp vào WTO là sự công
nhận của cộng đồng quốc tế về kết quả công cuộc đổi mới của đất nước ta. Sự kiện
này mang đến những cơ hội to lớn, song cũng đặt ra không ít thách thức cho cả nền
kinh tế, trong đó có ngành hải quan. Việc thực hiện các cam kết trong WTO sẽ tác
động mạnh mẽ đến mọi mặt hoạt động của ngành hải quan. Trước hết, khi gia nhập
WTO, áp lực đối với ngành hải quan về tạo điều kiện tối đa cho hoạt động thương
mại quốc tế và tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư sẽ rất lớn. #ể đáp ứng đòi
hỏi tạo thuận lợi cho thương mại, nhưng không buông lỏng vai trò quản lý và bảo
đảm an ninh, Hải quan phải tăng cường áp dụng các biện pháp nghiệp vụ hải quan
hiện đại, sao cho vừa bảo đảm khả năng kiểm soát, nhưng lại không cản trở hoạt
động thương mại.
Cơ quan hải quan sẽ phải triển khai thực hiện hàng loạt các cam kết có liên
quan trong WTO. Cụ thể là: thực hiện xác định trị giá hải quan theo Hiệp định
chung về thuế quan và thương mại (GATT); thực hiện các quy định về phí và lệ phí
trong WTO; thực hiện các quy định về tự do quá cảnh; Minh bạch hóa chính sách
và quy trình thủ tục; thực hiện Hiệp định về quy tắc xuất xứ; Thực thi bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ tại biên giới theo Hiệp định về những vấn đề liên quan đến thương
17
Tiểu Luận Triết Học
mại của Quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). #ồng thời thực hiện các quy định khác có
liên quan đến việc cấp phép nhập khẩu, quyền kinh doanh xuất nhập khẩu và đứng
tên trên tờ khai hải quan của doanh nhân nước ngoài, mở cửa thị trường dịch vụ
chuyển phát nhanh, vận tải giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu kể cả dịch vụ thông
quan hàng hóa, các quy định về chống bán phá giá...
Những tác động đó tất nhiên sẽ tạo ra cả cơ hội và thách thức. Trước hết về cơ
hội. Với mặt bằng pháp lý đã được điều chỉnh, sửa đổi theo yêu cầu WTO, đây
chính là dịp để Hải quan Việt Nam thực hiện một cách đồng bộ và đầy đủ những
cam kết quốc tế về hải quan, với những chuẩn mực và thông lệ tiên tiến nhất của thế
giới. Nếu thực hiện tốt điều này, ngành hải quan sẽ có cơ hội để tăng cường và nâng
cao khả năng quản lý của mình, bắt kịp các yêu cầu quản lý hải quan hiện đại. Có hệ
thống văn bản đồng bộ giữa các bộ, ngành đã là một thắng lợi, nhưng việc triển khai
thực hiện cho có hiệu quả lại còn khó khăn hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh WTO,
các bộ, ngành cùng vận động, thì việc phối hợp thực hiện giữa các cơ quan này,
trong đó có ngành hải quan sẽ thuận lợi hơn, hiệu quả hơn. Đây chính là điều mà
ngành hải quan vẫn trông đợi lâu nay.Mặt khác, Việt Nam gia nhập WTO, Hải quan
Việt Nam sẽ có cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác với hải quan các nước. Qua đó, Hải
quan Việt Nam có thể tranh thủ sự giúp đỡ, hợp tác nhiều mặt và học tập kinh
nghiệm quản lý hải quan hiện đại của nhiều nước, của các tổ chức quốc tế,... Việc
này có ý nghĩa rất quan trọng đối với tiến trình hiện đại hóa của Hải quan Việt Nam.
Bên cạnh những cơ hội nói trên, việc nước ta gia nhập WTO cũng đặt ra không
ít thách thức cho ngành hải quan. Ngành hải quan phải triển khai áp dụng các yêu
cầu nghiệp vụ mới như áp dụng xác định trị giá theo GATT, thực thi quyền sở hữu
trí tuệ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại biên giới, phải áp dụng các biện pháp
nghiệp vụ hải quan hiện đại theo chuẩn quốc tế,... Đây là những nhiệm vụ hết sức
khó khăn trong điều kiện hiện nay.
Thực hiện giảm thuế xuất nhập khẩu theo các cam kết trong WTO sẽ tác động
đến nguồn thu thuế xuất nhập khẩu của ngành hải quan, trong khi chỉ tiêu thu thuế
xuất nhập khẩu giao cho ngành không những không giảm, mà còn tăng. Đây chính
là một trong những thách thức không nhỏ đối với ngành hải quan.
18
Tiểu Luận Triết Học
Mặc dù hệ thống pháp luật về hải quan trong thời gian qua đã được sửa đổi, bổ
sung và cơ bản đáp ứng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, nhưng hiện vẫn còn có
những bất cập, cần được tiếp tục sửa đổi, bổ sung: đó là sự thiếu đồng bộ về văn
bản, cơ chế chính sách ngay trong ngành hải quan và giữa văn bản quản lý nhà nước
về hải quan với các bộ, ngành khác, là sự chưa nhất quán giữa các văn bản thực hiện
trong nước với hệ thống các quy định phải tuân thủ của WTO,... Khi vào WTO,
ngành hải quan cần chủ động thực hiện rà soát hệ thống văn bản pháp luật của
ngành mình, đồng thời phối hợp các bộ, ngành khác kiến nghị Chính phủ và Quốc
hội sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật một cách đồng bộ.
Thách thức lớn nhất hiện nay đối với ngành hải quan là vấn đề nguồn nhân lực
với thói quen lâu năm làm việc theo kiểu thủ công. Khi gia nhập WTO, khối lượng
công việc nhiều lên, tính chất công việc cũng phức tạp hơn và công việc diễn ra
trong môi trường quản lý hiện đại với những yêu cầu rất cụ thể, đòi hỏi rất cao về
trình độ cán bộ. Vì vậy, đây cũng là một thách thức lớn đối với ngành. Để vượt
qua, ngành hải quan phải tập trung cao độ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức, lối sống, tác phong công tác,
phong cách làm việc cho cán bộ, công chức hải quan theo yêu cầu nhiệm vụ mới.
Từ việc nghiên cứu những khó khăn và thuận lợi của các ngành,các lĩnh vực
kinh tế khi Việt Nam gia nhập WTO, chúng ta có thể đề ra một số biện pháp khắc
phục như sau:
2.3.Biện pháp khắc phục khó khăn:
2.3.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý, nhằm hình
thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, tạo cơ sở pháp lý cho việc
thực hiện các cam kết. Trước hết tập trung vào (I) Soạn thảo các văn bản hướng dẫn
thực thi các luật mới ban hành, bảo đảm cụ thể, công khai, minh bạch phù hợp với
nội dung của luật; (II) Xóa bỏ mọi hình thức bao cấp, trong đó có bao cấp qua giá,
thực hiện giá thị trường cho mọi loại hàng hóa và dịch vụ. Đối với những mặt hàng
hiện còn áp dụng cơ chế nhà nước định giá, phải xác định lộ trình thực hiện nhanh
giá thị trường để các doanh nghiệp tính toán lại phương án sản xuất kinh doanh;
(III) Đẩy mạnh cải cách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo đảm cho các ngân
hàng thương mại thực sự là các đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các
19
Tiểu Luận Triết Học
khoản vay và cho vay trên cơ sở hiệu quả, không có sự phân biệt đối xử về hình
thức sở hữu và các thành phần kinh tế. Hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường đất đai
và bất động sản, tạo bước đột phá trong hoạt động của thị trường này. Cải cách chế
độ kế toán và tài chính doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế; (IV) Xây dựng các
biện pháp hỗ trợ đối với một số lĩnh vực, sản phẩm đi đôi với việc loại bỏ các hình
thức trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp gắn với tỷ lệ nội địa hoá phù hợp với các cam kết
của ta trong Tổ chức thương mại thế giới; (V) Hoàn thiện cơ chế và tổ chức quản lý
cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp để tạo ra môi trường cạnh tranh lành
mạnh. Xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm
phù hợp với Hiệp định TBT và SPS để bảo vệ thị trường nội địa và người tiêu dùng;
(VI) Kết hợp chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ, sử dụng linh hoạt các công
cụ lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ giá ... để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nâng cao chất
lượng của công tác thông tin, dự báo về thị trường, giá cả, quan hệ cung cầu để xác
định các cân đối lớn. (VII) Đẩy mạnh cải cách tiền lương, chế độ bảo hiểm; sớm
nghiên cứu hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp, và các chính sách an sinh xã hội;
(VIII) Đổi mới cơ chế quản lý các cơ quan khoa học - công nghệ theo hướng tăng
cường tính tự chủ, tự hạch toán. Gắn kết chặt chẽ các cơ quan này với doanh nghiệp
để thúc đẩy việc đổi mới công nghệ sản xuất ở doanh nghiệp, nhằm phát triển thị
trường khoa học, công nghệ. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng
các thành tựu khoa học công nghệ vào đầu tư, kinh doanh đi đôi với việc bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ.
2.3.2.Thực hiện một cách mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính, bãi bỏ các thủ
tục, giấy tờ không thực sự cần thiết nhằm rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp
và tham gia thị trường, đưa nhanh hàng hoá và dịch vụ vào kinh doanh. Việc quản
lý xuất nhập khẩu các mặt hàng quản lý chuyên ngành chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ
thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, điều kiện hành nghề, không dùng giấy phép làm
công cụ để hạn chế thương mại. Công bố công khai quy trình tác nghiệp, thời gian
giải quyết công việc, người chịu trách nhiệm ở tất cả các cơ quan thuộc bộ máy nhà
nước và các đơn vị cung ứng dịch vụ công để mọi công dân, mọi doanh nghiệp biết,
thực hiện và giám sát việc thực hiện. Công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế
quản lý là một trong những tiêu chí của xã hội "công bằng, dân chủ, văn minh" và là
20