Lý luận thực tiễn là gì phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

  • 27 trang
  • file .docx
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế
luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển
của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và
thực tiễn, phương pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ
cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập
trường triết học đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù
hợp với các vấn dề do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận
một lập trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế
giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp
nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động.
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ
nghĩa Mác. Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học
của chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả.
Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp
thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng
đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Mặc dù có
những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong
cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các
nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt. Chính những thành tựu của xây dựng
chủ nghĩa xã hội và qua mười năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu
trên. Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật
khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét
và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay. Đề tài: "Lý luận Thực tiễn là
gì ?Phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức"
GIỚI THIỆU
I, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Việt Nam hiện nay đang ở vào thời kỳ quá độ, chúng ta đã bỏ qua giai
đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy trong quá trình
phát triển, luôn luôn nảy sinh những mâu thuẫn cần giải quyết. Với sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng và Chính phủ, chúng ta đã có những chiến lược và
sách lược đúng đắn.Trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin, đặc biệt
là lý luận triết học Mác- Lênin, chúng ta đã vạch rõ được con đường phát
triển kinh tế đúng đắn đó là: ”luôn luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và
hoạt động theo quy luật khách quan.’(Trích’Văn kiện đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI”). Từ năm 1986, chúng ta đã tổng kết được những bài học
kinh nghiệm quý báu để đổi mới và cải cách kinh tế. Xây dựng một nền kinh
tế thị trường, một nền kinh tế nhiều thành phần, lành mạnh chính là sự vận
dụng sáng tạo quan điểm chỉ đạo của Đảng vào thực tiễn hoàn cảnh trong
nước và trên thế giới
II, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ
Luôn luôn gắn lý thuyết với thực hành, nắm vững kiến thức thông qua
sự hiểu biết sâu rộngvấn đề là một phương châm hành động của sinh viên
trong thời đại mới. Nghiên cứu lý luận nhận thức và thực tiễn là một sự
nghiên cứu sâu rộng của triết học trong mối liên quan với phát triển kinh tế
và phát triển xã hội. Hơn thế nữa đứng trước ngưỡng cửa thế kỷ 21,khi mà xu
thế hội nhập dang tăng cao,nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ thì các
hành động đều xuất phát từ quá trình nhận thức và cảI tạo thực tiễn là
phương trâm chỉ đạo và hoạt động của Đảng ,Nhà nước ta. Muốn phát triển
kinh tế vững mạnh thì phảI luôn đặt nó với mối quan hệ với những khoa học
khác đặc biệt là triết học. Sự thành công hay thất bại ,phát triển hay lạc hậu
của bất cứ nền kinh tế nào là do có lập trường triết học đúng đắn .Bởi vì xuất
Họ và tên SV - Lớp ..... 2
phát từ một lập trường triếthọc đúng đắn ,con người có thể có được cách giảI
quyết phù hợp với những vấn đề do cuộc sống đặt ra .Còn ngược lại xuất
phát từ một lập trường triết học sai lầm ,con người khó có thể tránh khỏi
hành động sai lầm ,chỉ có triết học Mác – Lênin mới có được những tính ưu
việt này.
III, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Triết học Mác - Lênin về vật chất, vận động trong không gian, thời
gian và về sự thống nhất vật chất của thế giới đã góp phần xác lập thế giới
quan duy vật khoa học và có ý nghĩa về phương pháp luận to lớn trong nhận
thức khoa học và hoạt động thực tiễn. Triết học không phải là một cái gì quá
xa xôi, viển vông, ngược lại nó gắn bó hết sức chặt chẽ với cuộc sống, thực
tiễn, chỉ đạo cho con người hành động. Nắm vững được mọi nội dung của
triết học, đặc biệt là lý luận nhận thức và cải tạo thực tiễn sẽ làm cho con
người làm chủ thế giới, chinh phục thiên nhiên, cải tạo được xã hội, phát
triển kinh tế mạnh mẽ.
Vấn đề đã nêu trong văn kiện Đại hội Đảng VI có tác dụng tích cực đối
với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay. Sau hơn mười năm đổi mới với
những thành tựu nhất định ta càng thấy rõ sự đúng đắn và cần thiết của bài
học kinh nghiệm đó. . Cùng với sự tổng kết của đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VI trong văn kiện đã đánh dấu một mốc son lịch sử của Việt Nam chuyển
từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
IV, CƠ SỞ LÝ LUẬN
Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam. Trước văn kiện này, những
bài học kinh nghiệm đã được rút ra trong triết học Mác - Lênin và Đảng ta
lấy đó làm “kim chỉ nam’ cho hoạt động của mình. Triết học là một bộ phận
cấu thành của chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ rõ; triết học của chủ nghĩa Mác là
Họ và tên SV - Lớp ..... 3
chủ nghĩa duy vật. Nhưng Mác không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ
XVIII mà những thiếu sót chủ yếu nhất của nó là máy móc, siêu hình và duy
tâm khi xem xét các hiện tượng xã hội. C.Mác và F.Enghen đã khắc phục
những thiếu sót ấy, đẩy triết học tiến lên hơn nữa bằng cách tiếp thu một cách
có phê phán và có chọn lọc những thành quả của triết hoc cổ điển Đức và
nhất là của hệ thống triết học Hêghen. Trong những thành quả đó thì thành
quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình
thức toàn diện nhất, sâu sắc nhất và thoát hẳn được tính phiến diện. Nhưng
phép biện chứng của Heeghen là phép biện chứng duy tâm nên Mác và
Enghen đã cải tạo nó. Chính trong quá trình cải tạo này, Mác và Enghen đã
gắn phép biện chứng Hêghen với thực tiễn, phát triển tiếp tục chủ nghĩa duy
vật cũ, đẩy nó lên thành chủ nghĩa duy vật bịên chứng.Vì vậy chính Mác và
Enghen đã xây dựng một triết học mới với thế giới quan duy vật nhất quán
trong việc nhận thức xã hội. Cơ sở của những lí luận trong học thuyết đó là
những quy luật khách quan và thực tiễn xã hội , vì thế những lý luận đó có cơ
sở khoa học vững chắc không sa vào siêu hình hay nhị nguyên luận .Để chỉ
đạo hoạt động được đúng đắn triết học Mác – Lênin chính là nền tảng bền
vững cho mọi mục tiêu ,phương hướng phát triển mọi mặt của Đảng và Nhà
nước ta.
Họ và tên SV - Lớp ..... 4
CHƯƠNG I :MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN CƠ SỞ LÝ
LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
I. THỰC TIỄN
1. Khái niệm
Hoạt động con người chia làm hai lĩnh vực cơ bản. Một trong hai lĩnh vực
quan trọng đó là: hoạt động thực tiễn. Thực tiễn là những hoạt động vật chất
cảm tính ,có mục đích ,có tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cảI tạo
làm biến đổi tự nhiên và xã hội.
2. Tính vật chất trong hoạt động thực tiễn
Đó là hoạt động có mục đích của xã hội, phải sử dụng những phương tiện
vật chất đề tác động tới đối tượng vật chất nhất định của tự nhiên hay xã hội,
làm biến đổi nó, tạo ra sản phẩm vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu của con
người.
Chỉ có thực tiễn mới trực tiếp làm thay đổi thế giới hiện thực, mới thực sự
mang tính chất phê phán và cách mạng. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của
thực tiễn, là cơ sở đề phân biệt hoạt động thực tiễn khác với hoạt động lý
luận của con người.
3. Tính chất lịch sử xã hội
Ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, hoạt động thực tiễn diễn ra là khác
nhau, thay đổi về phương thức hoạt động.
Thực tiễn là sản phẩm lịch sử toàn thế giới, thể hiện những mối quan hệ
muôn vẻ và vô tận giữa con người với giới tự nhiên và con người với con
người trong quá trình sản xuất vật chất và tinh thần, là phương thúc cơ bản
của sự tồn tại xã hội của con người.
4. Thực tiễn của con người được tiến hành dưới nhiều hình thức
Trong quá trình hoạt động cải tạo thế giới, con người tạo ra một hiện thực
mới, một ”thiên nhiên thứ hai”. Đó là thế giới của văn hóa tinh thần và vật
Họ và tên SV - Lớp ..... 5
chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại của con người, những điều kiện này
không được giới tự nhiên mang lại dưới dạng có sẵn. Đồng thời với quá trình
đó, con người cũng phát triển và hoàn thiện bản thân mình. Chính sự cải tạo
hiện thực thông qua hoạt động thực tiễn là cơ sở của tất cả những biểu hiện
khác có tính tích cực, sáng tạo của con người. Con người không thích nghi
một cách thụ động mà thông qua hoạt động của mình, tác động một cách tích
cực để biến đổi và cải tạo thế giới bên ngoài. Hoạt động đó chính là thực tiễn.
a/ Hoạt động sản xuất vật chất
Là hoạt động thực tiễn quan trọng nhất của xã hội.Thực tiễn sản xuất vật
chất là tiền đề xuất phát để hình thành những mối quan hệ đặc biệt của con
người đối với thế giới, giúp con người vượt ra khỏi khuôn khổ tồn tại của các
loài vật.
b/ Hoạt động chính trị xã hội
Là hoạt dộng của con người trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát
triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng
rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với
bản chất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.
c/ Hoạt động thực nghiệm khoa học
Là hoạt động thực tiễn đặc biệt vì con người phải tạo ra một thế giới riêng
cho thực nghiệm của khoa học tự nhiên và cả khoa học xã hội.
II, THỰC TIỄN CÓ VAI TRÒ RẤT TO LỚN ĐỐI VỚI NHẬN
THỨC
1.Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức
Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan,
bắt các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc
tính và quy luật của chúng. Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy
sinh các vấn đề đòi hỏi con người phải giải đáp và do đó nhận thức được hình
thành. Như vậy, qua hoạt động thực tiễn mà con người tự hoàn thiện và phát
Họ và tên SV - Lớp ..... 6
triển thế giới quan (tạo điều kiện cho nhận thức cao hơn).Qua hoạt động thực
tiễn não bộ con người cũng ngày càng phát triển hơn ,các giác quan ngày
càng hoàn thiện hơn.Thực tiễn là nguồn tri thức đồng thời cũng là đối tượng
của nhận thức , chính hoạt động thực tiễn đã đặt ra các nhu cầu cho nhận
thức tạo ra các phương tiện hiện đại giúp con người đI sâu tìm hiểu tự nhiên.
2.Thực tiễn là động lực của nhận thức
Ngay từ đầu, nhận thức đã bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định.
Mỗi bước phát triển của thực tiễn lại luôn luôn đặt ra những vấn đề mới cho
nhận thức, thúc đẩy nhận thức tiếp tục phát triển. Như vậy thực tiễn trang bị
những phương tiện mới, đặt ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà soát sự
nhận thức. Thực tiễn lắp đi lắp lại nhiều lần, các tài liệu thu thập được phong
phú, nhiều vẻ, con người mới phân biệt được đâu là mối quan hệ ngẫu nhiên
bề ngoài, đâu là mối liên hệ bản chất, những quy luật vận động và phát triển
của sự vật.
3.Thực tiễn là mục đích và tiêu chuẩn của nhận thức.
Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng
vào thực tiễn. Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các
tri thức mà là nhằm cải tạo hiện thức khách quan, đáp ứng những nhu cầu vật
chất và tinh thần xã hội. Sự hình thành và phát triển của nhận thức là bắt
nguồn từ thực tiễn, do yêu cầu của thực tiễn.
Nhận thức chỉ trở về hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ đạo hoạt
động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn. Chỉ có thông
qua hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mới thể hiện được sức mạnh
của mình, sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa.Bằng thực tiễn mà kiểm
chứng nhận thức đúng hay sai ,khi nhận thức đúng thì nó phục vụ thực tiễn
phát triển và ngược lại .
4.Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
a/ Chân lý
Họ và tên SV - Lớp ..... 7
Là những tri thức phản ánh đúng đắn thế giới khách quan được thực tiễn
khẳng định ( nội dung khách quan, có ý nghĩa giá trị đối với đời sống con
người). Chân lý mang tính khách quan ,nó không phụ thuộc vào số đông
(chân lý tôn giáo ).Chân lý mang tính hai mặt (tuyệt đối và tương đối)vì tính
hai mặt trong quá trình nhận thức của nhận loại .
b/ Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiêu chuẩn để kiểm tra
chân lý không phải là ý thức tư tưởng, tư duy mà là thực tiễn. Bởi vì chỉ có
thông qua hoạt động thực tiễn, tri thức mới trở lại tác động vào thế giới vật
chất, qua đó nó được ”hiện thực hoá”, “vật chất hơn” thành các khách thể
cảm tính. Từ đó mới có căn cứ để đánh giá nhận thức của con người đúng
hay sai, có đạt tới chân lý hay không. Thực tiễn có rất nhiều hình thức khác
nhau nên nhận thức của con người cũng được kiểm tra thông qua rất nhiều
hình thức khác nhau .
+Thực tiễn của xã hội luôn luôn vận động và phát triển.
+Thực tiễn trong mỗi giai đoạn lịch sử đều có giới hạn. Nó không thể
chứng minh hay bác bỏ hoàn toàn một tri thức nào đó của con người mà nó
được thực tiễn tiếp theo chứng minh, bổ sung thêm.
Như vậy tiêu chuẩn thực tiễn cũng mang tính chất biện chứng và như vậy
mới có khả năng kiểm tra một cách chính xác sự phát triển biện chứng của
nhận thức.
c/ Ý nghĩa
Thực tiễn lớn nhất ở nước ta hiện nay là thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị
trường mới, nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc và chế độ xã hội mới:
công bằng, bình đẳng, tién bộ.Trong lĩnh vực kinh tế, đường lối, chính sách
hay các giải pháp kinh tế cụ thể muốn biết đúng hay sai đều phải thông qua
vận dụng chúng trong sản xuất, kinh doanh cũng như quản lý các quá trình
đó. Đường lối chính sách cũng như các giải pháp kinh tế chỉ đúng khi chúng
Họ và tên SV - Lớp ..... 8
mang lại hiệu quả kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất
lao động, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau những bước tiến và những thành tựu to
lớn mang lại ý nghĩa lịch sử, giờ đây lại đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết.
Những hoạt động nghiên cứu lý luận chính là nhằm tìm ra lời giải đáp cho
những vấn đề của giai đoạn cách mạng hiện nay. Công cuộc đổi mới ở nước
ta vừa là mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động nhận thức
nói chung và công tác lý luận nói riêng, nhất định sẽ đem lại cho chúng ta
những hiểu biết mới, phong phú hơn và cụ thể hơn về mô hình chủ nghĩa xã
hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Lý luận
a. Khái niệm
Là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn. Nó phản ánh
những quy luật, của từng lĩnh vực trong hiện thực khách quan.
b. Đặc điểm
Lý luận mang tính hệ thống, nó ra đời trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của xã
hội nên bất kỳ một lý luận nào cũng mang tính mục đích và ứng dụng.Nó
mang tính hệ thống cao ,tổ chức có khoa học .
2. Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
Được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn. GIữa lý luận
và thực tiễn thống nhất biện chứng với nhau. Sự thống nhất đó bắt nguồn từ
chỗ: chúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tự
nhiên và cải tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người.
a. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn
Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thực tiễn.
Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại và
phát triển xã hội.
Họ và tên SV - Lớp ..... 9
Lý luận không có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng là phục vụ thực
tiễn. Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ
cho yêu cầu của thực tiến.
b. Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn
Ví dụ: lý luận Mác - Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp
vô sản.Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó
được hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý
luận là do yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách
rời lý luận, không thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận.
Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức
đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan, từ
đó mới có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động
thực tiễn.Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ đó có
thể là thống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập.
c. Lý luận và thực tiễn là thống nhất
Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần
tiến bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử. Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì
chúng sẽ tăng cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau. Sự thống nhất đó
là một trong những nguyên lý căn bản của triết học Mác- Lênin.
d. Sự mâu thuẫn của lý luận và thực tiễn
Xảy ra khi giai cấp thống trị trở nên phản động, lỗi thời, lạc hậu. Khi mâu
thuẫn nảy sinh, chúng sẽ làm giảm ảnh hưởng của nhau. Điều đó dẫn đến mọi
đường lối, chính sách xã hội trở nên lạc hậu và phản động.
*Ý nghĩa
Cần phải tăng cường, phát huy vai trò của lý luận đối với xã hội, đặc biệt
là lý luận xã hội mà quan trọng là lý luận Mác - Lênin và các lý luận về kinh
tế.Trước chủ nghĩa Mác, trong lý luận nhận thức, phạm trù thực tiễn hầu như
không có chỗ đứng nào. Nhiều người còn hình dung thực tiễn với bộ mặt xấu
Họ và tên SV - Lớp ..... 10
xí của con buôn (Phơ-Bách). Trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán”, sau khi phê phán E. Ma Khơ và một số ngươi khác đã ”cố
gạt thực tiễn ra khỏi lý luận nhận thức, coi thực tiễn như một cái gì không
đáng nghiên cứu về mặt nhận thức luận, đã ”đem cái tiêu chuẩn thực tiễn là
cái giúp cho mỗi người phân biệt được ảo tưởng với hiện thực đặt ra ngoài
giới hạn của khoa học, của lý luận nhận thức... để dọn chỗ cho chủ nghĩa duy
tâm và thuyết bất khả tri”.
V.I.Lênin đã khẳng định: quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan
điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức. (“V.I.Lênin toàn tập” –
1980). Chính vì sự quan trọng của mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn nên
đối với nước ta trong giai đoạn này cần đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận
và hoạt động. Hiện nay, nước ta đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện
các mặt của đời sống xã hội, mà trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm. Đổi
mới từ nền kinh tế tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước là một vấn đề hết sức mới mẻ chưa có lời giải đáp sẵn. Và
chúng ta cũng không bao giờ có thể có một lời giải sẵn sau đó mới đi vào tiến
hành đổi mới. Quá trình đổi mới nói chung, đổi mới kinh tế nói riêng và việc
nhận thức quá trình đổi mới đó không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn
nhau cùng phát triển.
Vậy trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ thực tế
khách quan, phải lấy hiện thực khách quan làm cơ sở cho hoạt động của
mình. Gắn lý luận vào thực tiễn để hoạt động trở nên khoa học, có cơ sở
vững chắc. Tinh thần ấy chính là vấn đề cần nghiên cứu trong văn kiện Đại
hội Đảng lần thứ VI.
e. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của
chủ nghĩa Mác- Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hướng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý
luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông. Vì vậy cho nên trong
khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần Lênin nhắc đi nhắc lại
Họ và tên SV - Lớp ..... 11
rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành
động cách mạng, và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính
sáng tạo. Lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra
từ trong thực tiễn sinh động. Những người cộng sản các nước phải cụ thể hoá
chủ nghĩa Mác _ Lênin cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và
từng nơi (“Hồ Chí Minh: toàn tập”-1996)
*Con đường biện chứng của sự nhận thức:
Nhận thức của con người diễn ra trên cơ sở thực tiễn và không ngừng vận
động, phát triển. Sự vận động và phát triển của nhận thức diễn ra một cách
biện chứng:
- “Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trìu tượng
đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự
nhận thức thực tại khách quan”.
+Trực quan sinh động (hay nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá
trình nhận thức, được hình thành trong quá trình thực tiễn.Giai đoạn này
được hình thành thông qua các hình thức cơ bản nối tiếp nhau: cảm giác, tri
giác, biểu tượng...
+Tư duy trì tượng (hay nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình
nhận thức dựa trên cơ sở những tài liệu do giai đoạn trực quan sinh động
mang lại.
- Nhận thức của con người phát triển đến giai đoạn tư duy trìu tượng chưa
phải là chấm dứt, mà nó lại tiếp tục vận động trở về với thực tiễn. Nhận thức
phải trở về với thực tiễn vì:
+ Mục đích của nhận thức là phục vụ hoạt động thực tiễn. Vì vậy nó phải
trở về chỉ đạo hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới.
+Đến giai đoạn tư duy trìu tượng vẫn có khả năng phản ánh sai lạc hiện
thực. Vì vậy, nhận thức phải quay trở về thực tiễn để kiểm tra kết quả nhận
thức, phân biệt đâu là nhận thức đúng, đâu là nhận thức sai lầm.
Họ và tên SV - Lớp ..... 12
+Thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển. Vì vậy nhận thức phải trở về
với thực tiễn để trên cơ sở thực tiễn mới tiếp tục bổ sung, phát triển nhận
thức.
- Từ trực quan sinh động dến tư duy trìu tượng, và từ tư duy trìu tượng
đến thực tiễn là một vòng khâu của quá trình nhận thức. Nó cứ lặp đi
lặp lại làm cho nhận thức của con người phát triển không ngừng, ngày
càng phản ánh sâu sắc bản chất, quy luật của thế giới khách quan.
CHƯƠNG II : QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
I,VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
-Việt Nam nằm ở phía đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm
Đông Nam Á, có một vùng biển rộng, giàu tiềm năng.
-Vị trí tiếp giáp trên đất liền và trên biển tạo điều kiện cho nước ta có thể
dễ dàng giao lưu với các nước trên thế giới.
+Trên đất liền, nước ta giáp Trung Quốc, Lào, Campuchia. Thông qua các
tuyến giao thông (đường bộ, đường sắt...) với các cửa khẩu quan trọng, Việt
Nam có thể liên hệ với nhiều nước trên thế giới.
+ Nước ta nằm gần các tuyến đường biển quốc tế. Thông qua đường biển,
có thể quan hệ với nhiều quốc gia.
+Vùng biển rộng lớn, giàu tiềm năng cho phép phát triển kinh tế biển.
-Việt Nam là nơi giao thoa của các nền văn hoá khác nhau. Điều đó góp
phần làm giàu bản sắc văn hoá.
-Việt Nam nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động
của thế giới. Từ đó cho phép nước ta có thể dễ dàng hội nhập với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Ta có thể tiếp thu và chọn lọc những bài học,
Họ và tên SV - Lớp ..... 13
kinh nghiệm thành công cũng như thất bại về phát triển kinh tế của các nước
và vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
II, QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1.Tình hình
- Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các
nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, nước ta bắt đầu xây dựng một mô hình kinh tế
kế hoạch hoá tập trung dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Các
hình thức tổ chức sản xuất và dịch vụ quốc doanh được phát triển. Cùng với
quốc doanh, hợp tác xã được tổ chức rộng rãi ở nông thôn và thành thị. Với
hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể, sở hữu tư nhân bị thu hẹp lại,
không còn cơ sở cho tư nhân phát triển. Cùng với quốc doanh, hợp tác xã
được tổ chức rộng rãi vì ta đã học tập được mô hình tổ chức kinh tế của Liên
Xô cũ. Với sự nỗ lực cao độ của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ tận tình
của các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, mô hình kế hoạch hoá tập trung đã
phát huy được những tính ưu việt đó.
- Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán và manh mún, bằng
công cụ kế hoạch hóa, ta đã tập trung được vào trong tay một lực lượng vật
chất quan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng thành thị và nông
thôn, đất đai, máy móc, tiền vốn để ổn định và phát triển kinh tế.Vào những
năm sau của thập niên 60, ở Miền Bắc đã có những chuyền biến về kinh tế,
xã hội. Trong thời kỳ đầu, nền kinh tế tập trung bao cấp đã tỏ ra phù hợp với
nền kinh tế tự cung, tự cấp, phù hợp với điều kiện hai nhiệm vụ sản xuất và
chiến đấu trong chiến tranh lúc đó. Năm 1975, sau ngày giải phóng miền
Nam, một bức tranh mới về hiện trạng kinh tế Việt Nam đã thay đổi. Đó là
sự duy trì một nền kinh tế tồn tại cả ba loại hình:
+Kinh tế cổ truyền (tự cung tự cấp)
+Kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp (ở miền Bắc)
+Kinh tế thị trường (đặc trưng ở miền Nam).
Họ và tên SV - Lớp ..... 14
Mặc dù đây là một tồn tại khách quan sau năm 1975 nhưng chúng ta vẫn
tiếp tục xây dựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trên phạm
vi cả nước. Đó là sự áp đặt rất bất lợi.
2. Hậu quả
Do chủ quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lý được hiệu
quả các nguồn lực dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng các nguồn lực
của đất nước.Tài nguyên bị phá hoại, sử dụng khai thác không hợp lý, môi
trường bị ô nhiễm. Nhà nước bao cấp và tiến hành bù lỗ phổ biến gây hậu
quả nghiệm trọng cho nền kinh tế.:
+ Sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, tăng trưởng kinh tế trên lý thuyết, giấy
tờ.
+Hàng hoá, sản phẩm trở nên khan hiếm, không đáp ứng được nhu cầu
trong nước.
+Ngân sách thâm hụt nặng nề. Vốn nợ đọng nước ngoài ngày càng tăng
và không có khả năng cho chi trả.
+Thu nhập từ nền kinh tế quốc dân không đủ chi dùng, tích luỹ hầu như
không có.
+Vốn đầu tư cho sản xuất và xây dựng chủ yếu là dựa vào vay và viện trợ
nước ngoài.
Cùng với đó là sự thoái hoá về mặt con người và xã hội. Đến năm 1979,
nền kinh tế rất suy yếu, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân khó khăn, nguồn
trợ giúp từ bên ngoài giảm mạnh.Từ năm 1975 đến năm 1985, các thành
phần kinh tế tư bản tư nhân, cá thể bị tiêu diệt hoặc không còn điều kiện phát
triển dẫn đến thực trạng tiềm năng to lớn của các thành phần kinh tế này
không được khai thác và phục vụ cho mục tiêu chung của nền kinh tế. Ngược
lại, thành phần kinh tế quốc doanh đã phát triển ồ ạt, tràn lan trên mọi lĩnh
vực trở thành địa vị đọc tôn trong hầu hết các ngành công nghiệp, xây dựng,
dịch vụ (trừ ngành nông nghiệp, thành phần kinh tế tập thể là chủ yếu).Thời
Họ và tên SV - Lớp ..... 15
điểm cao nhất, thànhphần kinh tế quốc doanhđã cõ gần 13 nghìn doanh
nghiệp với số tài sản cố định chiếm 70% tổng số tài sản cố định của nền kinh
tế. Thời kỳ này, kinh tế nước ta tuy có đạt được tốc độ tăng trưởng nhất định
nhưng sự tăng trưởng đó không có cơ sở để phát triển vì đã dựa vào điều kiện
bao cấp, bội chi ngân sách, lạm phát và vay nợ nước ngoài.
Do phát triển tràn lan lại quản lý theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá tập
trung nên nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành các
doanh nghiệp quốc doanh, nhiều doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ,
lực lượng sản xuất không được giải phóng, nền kinh tế lâm vào tình trạng
khủng hoảng và tụt hậu.
3.Nguyên nhân
Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa
nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối
dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tinh hình nước
ta.Đến năm 1986, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về căn bản vẫn chưa bị
xoá bỏ. Cơ chế mới chưa được thiết lập đồng bộ, nhiều chính sách, thể chế
lỗi thời chưa được thay đổi. Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng
thời những hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật còn khá phổ biến.Việc đổi mới
cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không nhạy bén, là những nguyên
nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất từ trên xuống dưới.
Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, hình thức,
bước đi, cách làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được thoả đáng
cả về lý luận và thực tiễn.
4. Tư tưởng chỉ đạo
Ta đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá
độ:”Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy,đặc biệt là những
Họ và tên SV - Lớp ..... 16
chính sách kinh tế là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động
giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan” (Đảng công sản Việt
nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI-1986). Chúng ta đã có
những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thừa nhận thật sự những
quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan. Chúng ta đã ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà hiệu quả kinh tế phát triển
chậm. Hơn thế nữa, ta chưa chú ý đúng mức tới sản xuất nông nghiệp và sản
xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
- Bên cạnh đó, sự tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa vào
những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 làm cho chúng ta mất đi một thị
trường truyền thống, nguồn viện trợ quan trọng, gây nhiều khó khăn đối với
sản xuất và đời sống.
- Chính sách cấm vận của Hoa Kỳ kéo dài, sự thù địch của các thế lực
phản động cũng có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.
Tất cả những nguyên nhân trên cộng với thiên tai, mất mùa liên tiếp vào
những năm 1979 - 1980 đã đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng, công
nghiệp chỉ tăng 0,6%, nông nghiệp tăng 1,9% trong khi lạm phát ở mức siêu
cấp năm 1986 : 74% .Chính vì vậy, bài học kinh nghiệm được rút ra trong “
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI về phát triển kinh tế phải
xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan là
hoàn toàn đúng đắn. Chính từ những khó khăn trên đòi hỏi phải đổi mới nền
kinh tế, xã hội. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu một mốc
phát triển quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước.
III. BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH HÌNH ĐỂ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ
Để khắc phục khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước hết
phải thay đổi nhận thức , đổi mới tư duy. Phải nhận thức và hành động đúng
đắn, đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với hệ thống quy luật khách
Họ và tên SV - Lớp ..... 17
quan, trong đó các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi phối
mạnh mẽ phương hướng phát triển chung của xã hội. Mọi chủ trương, chính
sách, biện pháp kinh tế gây tác động ngược lại đều biểu hiện sự vận dụng
không đúng quy luật khách quan, phải được sửa đổi hoặc huỷ bỏ.
- Trên cơ sở đó, chúng ta phải vận dụng tổng hợp hệ thống các quy luật
đang tác động lên nền kinh tế. Trong hệ thống các quy luật đó, quy luật kinh
tế cơ bản cùng với các quy luật đặc thù khác của chủ nghĩa xã hội ngày càng
phát huy vai trò chủ đạo, được vận dụng trong một thể thống nhất với các
quy luật của sản xuất hàng hoá, đặc biệt là quy luật giá trị, quy luật cùng cầu,
quy luật cạnh tranh... Kế hoạch hoá phải luôn luôn gắn liền với việc sử dụng
các đòn bảy kinh tế.
- Đại hội đảng lần thứ VI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng . Những quan
điểm, đường lối do Đại hội VI vạch ra là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo
chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của đất nước .
Công cuộc đổi mới của Đảng từ sau Đại hội VI đến nay ở nước ta không nằm
ngoài những quy luật phổ biến của phép biện chứng, Đảng ta đã vận dụng
phép biện chứng vào nhận thức hiện thực xã hội, phân tích các mối liên hệ
biện chứng của đời sống hiện thực, tìm ra các mâu thuẫn đó và tạo ra động
lực mạnh mẽ cho quá trình đổi mới vững chắc.
Vì trước đây, nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế, xã hội với nhiều khó
khăn phức tạp, gay gắt, lạm phát phi mã do tư duy lý luận bị lạc hậu, giữa lý
luận và thực tiễn có khoảng cách xa. Tư duy cũ về chủ nghĩa xã hội theo mô
hình tập trung quan liêu bao cấp đã cản trở sự phát triển của thực tiễn sản
xuất. Bị chi phối bởi quy luật mâu thuẫn khách quan nên để giải quyết mâu
thuẫn đó Đảng ta đã tiến hành đổi mới và cải cách kinh tế.
- Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất. Để
làm đủ ăn và có tích luỹ, phải ra sức phát triển sản xuất, xây dựng một cơ cấu
kinh tế hợp lý, trước hết là cơ cấu các ngành kinh tế phù hợp với tính quy
luật về sự phát triển các ngành sản xuất vật chất, phù hợp với sự phân công
Họ và tên SV - Lớp ..... 18
lao động và hợp tác quốc tế. Cơ cấu kinh tế đó đảm bảo cho nền kinh tế phát
triển cân đối với nhịp độ tăng trưởng ổn định. Phải thông qua việc sắp xếp lại
sản xuất, đi đôi với việc xây dựng thêm cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất
hàng tiêu dùng, xuất khẩu.
- Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Củng cố thành phần
kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm cả khu vực quốc doanh, tập thể. Bằng các
biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác
trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội
chủ nghĩa. giải pháp đó xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng
quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc
trưng của thời kỳ quá độ. Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ
chế kế hoạch hoá theo phương thức hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa,
đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Tiến hành phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chống tập
trung quan liêu, chống tự do vô tổ chức. Bảo đảm quyền tự chủ sản xuất,
kinh doanh, tự chủ tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở, quyền làm chủ của
các tập thể lao động.
CHƯƠNG III : ÁP DỤNG LÝ LUẬN THỰC TIỄN TRONG QUÁ
TRÌNH ĐỔI MỚI HIỆN NAY
Việc Đảng ta tổng kết những bài học ở Đại hội VI, lần đầu tiên chỉ rõ
sai lầm chủ quan, duy ý chí, coi thường các quy luật khách quan dẫn tới làm
sai, làm hỏng và phải sửa chữa trong các chính sách xây dựng kinh tế, phát
triền văn hoá có ý nghĩa tự giải phóng và mở đường cho sự phát triển mới rất
to lớn. Trên thực tế, đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo có một sự
tương đồng về hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa như”Chính sách kinh tế mới
của Lênin” . Với đổi mới, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
Họ và tên SV - Lớp ..... 19
chủ nghĩa xã hội của Đảng ta đã ngày được xác định rõ hơn. Nó thấm nhuần
quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm thực tiễn và quan điểm phát triển.
I. LÝ LUẬN VỀ THỰC TIỄN TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI KINH TẾ HIỆN NAY.
Công cuộc đổi mới chính thức bắt đầu từ việc Đảng ta thừa nhận và cho
phép phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường. Đó là một tất yếu khách quan khi ở vào thời kỳ quá độ như ở nước ta
hiện nay. Phải dung hoà và tồn tại nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu do
lịch sử để lại song đưa chúng cùng tồn tại và phát triển mới là một vấn đề nan
giải, khó khăn. Bên cạnh việc thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư bản tư nhân,
đương nhiên phải thường xuyên đấu tranh với xu hướng tự phát tư bản chủ
nghĩa và những mặt tiêu cực trong các thành phần kinh tế, giải quyết mâu
thuẫn tồn tại trong sản xuất giữa chúng để cùng phát triển.
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta cung cấp một bài học to lớn về nhận thức.
Đó là bài học về quán triệt quan điểm thực tiễn - nguyên tắc cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin, quan điểm cơ bản và hàng đầu của triết học Mác xít. Sự
nghiệp đổi mới với tính chất mới mẻ và khó khăn của nó đòi hỏi phải có lý
luận khoa học soi sáng. Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và điều
kiện cơ bản làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thức tiễn. Tuy nhiên,
lý luận không bỗng nhiên mà có và cũng không thể chờ chuẩn bị xong xuôi
về lý luận rồi mới tiến hành đổi mới. Hơn nữa, thực tiễn lại là cơ sở để nhận
thức, của lý luận. Phải qua thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm, mới có cơ sở đề
khái quát thành lý luận.
Vì vậy, quá trình đổi mới ở nước ta chính là quá trình vừa học vừa làm,
vừa làm vừa tổng kết lý luận, đúc rút thành quan điểm, thành đường lối để rồi
quay trở lại quá trình đổi mới. Có những điều chúng ta phải mò mẫm trong
thực tiễn, phải trải qua thể nghiệm, phải làm rồi mới biết, thậm chí có nhiều
điều phải chờ thực tiễn. Ví dụ như vấn đè chống lạm phát, vấn đề khoán
trong nông nghiệp, vấn đề phân phối sản phẩm... Trong quá trình đó, tất
Họ và tên SV - Lớp ..... 20