Luận văn xây dựng đời sống văn hóa trong các xã nông thôn mới ở các tỉnh vĩnh long

  • 21 trang
  • file .pdf
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

BÙI VĂN NỞ
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TRONG CÁC XÃ NÔNG THÔN MỚI
Ở TỈNH VĨNH LONG
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60310640
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Trà Vinh, tháng 01 năm 2016
Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TRI NGUYÊN
Phản biện 1: PGS.TS NGUYỄN XUÂN HƯƠNG
Phản biện 2: TS. NGUYỄN PHÚC NGHIỆP
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ Văn hóa học họp tại Trường Đại học Trà Vinh vào ngày 16 tháng
01 năm 2016
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
 Thư viện trường Đại học Trà Vinh
-1-
;MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp phát triển nói chung, văn hóa có chỗ
đứng đặc biệt quan trọng. Bởi, sự mất cân đối sẽ xảy ra nếu đặt
mục tiêu phát triển kinh tế tách rời môi trường văn hóa mà cũng
chỉ khi kết hợp hai yếu tố này với nhau mới tạo nên sự phát
triển vững chắc. Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn và
toàn diện, là một trong những mục tiêu hướng đến nền văn hóa
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Từ những mục tiêu trên để thấy, dưới gốc nhìn nông thôn
mới văn hóa phải là sự tổng hòa, bền chặt giữa hai yếu tố hiện
đại – tiên tiến và bản sắc – truyền thống. Khi tìm hiểu về văn
hóa và con người Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất
rằng, văn hóa xã là cốt lõi của văn hóa nông thôn, cũng là nơi
lưu giữ cái phần hồn cốt của văn hóa dân tộc, để rồi dù trải qua
nhiều buổi giao thoa Hán – Việt, Pháp – Việt hay Mỹ - Việt…
thì nền văn hóa Việt Nam cũng không chịu sự đồng hóa, tan
chảy. Cùng với chức năng về chính trị, kinh tế thì xã là một môi
trường nên hình thành, phát triển, lưu giữ và trao truyền văn hóa
tới mọi cá thể trong cộng đồng dân cư. Cho nên, dù nông thôn
còn nghèo thì người dân vẫn phải có đời sống văn hóa tinh thần
cao, cho nên, việc xây dựng đời sống văn hóa trong các xã nông
thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long là vấn đề đặt biệt quan tâm. Bởi vì,
được sinh ra và tắm mình trong môi trường văn hóa với những
nét đặc thù về phong tục tập quán, nếp sống, tín ngưỡng, cách
ứng xử, ngôn ngữ…mà người dân các xã ấy có được “diện
mạo” với nhiều nét không pha lẫn. Sống trong xã, mỗi cá thể có
mối quan hệ rằng rịt, nhiều chiều về dòng tộc, họ hàng và các
-2-
nhóm lợi ích, các tổ chức xã hội. Đó là cơ sở hình thành nên ý
thức cộng đồng trong mỗi người. Đồng thời, cũng được bởi xã
“đùm bọc” nên con người sống biết bổn phận, có trách nhiệm và
luôn lấy tình nghĩa làm trọng.
Nông thôn mới trước hết phải là sự nối tiếp và kế thừa
các giá trị tốt đẹp của nông thôn truyền thống, đặc biệt là đời
sống văn hóa. Trong bộ 19 tiêu chí nông thôn mới thì có hai tiêu
chí thuộc lĩnh vực văn hóa là cơ sở vật chất văn hóa (tiêu chí
06) và văn hóa (tiêu chí 16). Theo như quy định của ngành chức
năng thì việc hội tụ được hai tiêu chí này là điều kiện “cần” và
“đủ” để khẳng định địa phương ấy đạt chuẩn “nông thôn mới”
về văn hóa. Cụ thể: có cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động văn
hóa, người dân biết giúp nhau phát triển kinh tế, xây dựng gia
đình, khóm, ấp văn hóa, các hoạt động văn hóa, văn nghệ truyền
thống gắn với thuần phong mỹ tục được gìn giữ, phát huy, các
di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên được bảo vệ; nếp sống văn
minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội được thực hiện; môi
trường xanh, sạch, ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn xã hội, người dân
được phổ biến và nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Tuy nhiên, nếu nhìn trên bình diện của sự đa dạng và
khác biệt thì mỗi xã là một bản thể. Cho nên, mặc dù thực hiện
theo một quy định chung, song mục đích không thể là “sản
xuất” ra hàng loạt những xã nông thôn mới giống nhau như sản
phẩm công nghiệp. Bởi như vậy sẽ không còn là nông thôn,
làng quê Việt Nam truyền thống, thậm chí có thể đánh mất đi
cái sắc riêng giữa dòng chung văn hóa làng quê, sự mềm dẻo
linh hoạt trong quá trình xây dựng nông thôn mới một lần nửa
cần được phát huy, nhất là trong văn hóa cần thêm sự cẩn trọng
-3-
nếu không muốn làm rơi rớt, hao mòn đi những giá trị tốt đẹp
mà cha ông đã mất hàng nghìn năm trao truyền lại. Thêm vào
đó, việc xây dựng nhà văn hóa, sân vận động, tổ chức các phong
trào văn nghệ, thể thao, thực hiện các quy định trong việc cưới,
việc tang thiết nghĩ vẫn dễ hơn nhiều so với việc xây dựng được
trong mỗi cá nhân ý thức cộng đồng. Ở mặt tích cực là tương
thân, tương ái, trọng tình, trọng nghĩa, đoàn kết và hạn chế mặt
tiêu cực, là tư tưởng cục bộ, bảo thủ, trì trệ. Đồng thời làm thế
nào để mối lợi trước mắt không làm cho những người vốn cách
nhau cái “giậu mồng tơi” phát sinh mâu thuẫn để những “khóm,
ấp trong xã” không là nơi nảy sinh bi kịch do tệ nạn xã hội…
Xuất phát từ tình hình trên, tác giả chọn đề tài “xây dựng
đời sống văn hóa trong các xã nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long”
làm đề tài luận văn thạc sĩ với mong muốn góp một phần nhỏ
công sức của mình trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới ở
địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
3. Mục đích, nhiệm vụ có liên quan đến luận văn
- Mục đích:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về việc xây dựng đời
sống văn hóa ở các xã nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay,
trên cơ sở đó luận văn đề xuất phương hướng và những giải
pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh đối với việc
xây dựng đời sống văn hóa trong nông thôn mới đến năm 2020.
- Nhiệm vụ:
+ Đưa ra quan niệm về tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo xây
dựng đời sống văn hóa nông thôn mới, phân tích nội dung,
phương thức, nguyên tắc.
-4-
+ Đánh giá đúng thực trạng về xây dựng đời sống văn
hóa nông thôn mới, làm rõ những ưu điểm, thành tựu và những
hạn chế, yếu kém, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra những kinh
nghiệm cần thiết.
+ Nêu và phân tích những yếu tố tác động, đề xuất mục
tiêu, phương hướng và những giải pháp chủ yếu đối với xây
dựng nông thôn mới nói chung, xây dựng đời sống văn hóa nói
riêng đến năm 2020.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc xây dựng đời
sống văn hóa trong các xã nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu việc xây dựng đời sống văn
hóa trong các xã nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long từ năm 2008.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mac – LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường
lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, đồng thời sử
dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: , tổng kết
thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
6. Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
6.1. Những đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thực trạng về đời sống văn
hóa trong các xã nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long giai đoạn hiện
nay. Luận giải nội dung, phương thức lãnh đạo đối với nhiệm
vụ xây dựng đời sống văn hóa các xã nông thôn mới.
-5-
6.2. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo
xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn hiện
nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn được kết cấu gồm 03 chương, 06 tiết nội dung
luận văn được cấu trúc như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 2: Thực trạng đời sống văn hóa trong xây dựng
nông thôn mới tại tỉnh Vĩnh Long
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao đời sống văn
hóa trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Vĩnh Long
Kết luận
-6-
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Khái niệm văn hóa:
1.2. Khái niệm đời sống văn hóa
1.3. Khái niệm môi trường văn hóa
1- Tổng thể các loại sản phẩm văn hoá
2- Toàn thể những cảnh quan văn hoá
3- Toàn thể các thiết chế văn hoá.
4- Hệ thống những ứng xử văn hoá
5- Diện mạo những vi môi trường văn hóa (như nếp sống
văn hoá nơi công cộng, cơ quan, đơn vị kiểu mẫu, gia đình văn
hoá,...)
1.4. Khái niệm nông thôn mới
1.5. Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà
nước đối với việc xây dựng đời sống văn hóa ở vùng nông
thôn
1.6. Tổng quan về tỉnh Vĩnh Long
1.6.1. Về điều kiện tự nhiên
1.6.2. Về kinh tế - xã hội
1.6.3. Lịch sử hình thành địa danh hành chính tỉnh Vĩnh
Long
1.6.4. Truyền thống yêu nước và chống ngoại xâm
1.6.5. Vị thế của tỉnh Vĩnh Long trong văn hóa miền Tây
Nam Bộ
Tiểu kết chương 1
-7-
Khái niệm đời sống văn hóa là khái niệm chỉ quá trình
hoạt động văn hóa thoả mãn các nhu cầu văn hoá, bao gồm hoạt
động văn hoá tự thân và sáng tạo sản phẩm văn hóa nhằm thỏa
mãn các nhu cầu về hưởng thụ thẩm mĩ và giải trí, về xây dựng
môi trường văn hóa và về phát triển và hoàn thiện nhân cách
con người.
Khái niệm đời sống văn hóa (ĐSVH) được thể hiện ở
ba hệ tiêu chí quan trọng sau đây:
+ Hệ tiêu chí về Mức sống : Toàn bộ những chỉ số mức
sinh hoạt vật chất được coi là tiêu chuẩn của xã hội, có thể
được coi là một trong những tiêu chí để đánh giá Văn hóa
(những điều kiện lao động sản xuất, thu nhập và những phương
tiện thiết yếu để có hoạt động văn hoá)
+ Hệ tiêu chí về Chất lượng sống là mối tương quan về
giá trị giữa các chuẩn mực cuộc sống với hiện trạng về mức độ
thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần bao gồm: mức sống
và mức độ tự do cá nhân, tính dân chủ, an toàn xã hội, trình độ
pháp lý, thể chất và dân trí cao.Như thế chúng ta có thể phân
biệt mức sống là sự thể hiện của trình độ kinh tế và chất lượng
sống là sự thể hiện cuả trình độ xã hội.
+ Hệ tiêu chí về Lối sống: Tính chất tổng thể của hoạt
động và sinh sống của cá nhân và cộng đồng (nhóm hoặc xã hội)
nói chung vào một thời điểm nhất định nào đó trong sự phát triển
lịch sử, trong một hoàn cảnh xã hội nhất định phù hợp với mức
sống và chất lượng sống của xã hội đó. Lối sống thể hiện ở mối
quan hệ qua lại trong đời sống con người: lao động, tập quán,
sinh hoạt cộng đồng, trong ứng xử. Có thể coi lối sống, đạo đức,
nếp sống là thể hiện trình độ văn hóa và là tiêu chí đánh giá sự
phát triển văn hóa.
-8-
Xây dựng đời sống văn hóa trong các xã nông thôn mới
ở tỉnh Vĩnh Long cần được hiểu là toàn bộ các tiêu chí của đời
sống văn hóa nói trên phải trở thành các giá trị, các quan niệm,
tập quán là truyền thống đã ăn sâu vào hoạt động của làng, xã,
chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi người dân ở
các xã nông thôn.
-9-
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐỜI S NG VĂN HÓA TR NG
CÁC XÃ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI TỈNH
VĨNH L NG
2.1. Đời sống văn hóa trong 22 xã thí điểm xây dựng nông
thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long
2.2 . Thực trạng đời sống văn hóa trong các xã nông thôn
mới ở Vĩnh Long
2.2.1. Về giáo dục:
2.2.2. Về Y tế:
2.2.3. Về văn hóa thể thao và an sinh xã hội:
2.2.4. Về nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần của nông
dân nông thôn:
2.2.5. Về thu nhập bình quân đầu người và công tác giảm
hộ nghèo:
2.2.6. Công tác bảo vệ môi trường nông thôn được đẩy
mạnh:
2.2.7. Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn
vững mạnh, giữ vững quốc phòng an ninh nông thôn:
2.3. Thực trạng đời sống văn hóa trong xây dựng nông thôn
mới cấp huyện ( trường hợp điển hình huyện Bình Tân)
2.4. Thực trạng đời sống văn hóa trong 3 xã tiêu biểu xây dựng
nông thôn mới
2.4.1. Xã Thành Đông, huyện Bình Tân
2.4.2. Xã Trung Hiếu, huyện Vũng Liêm
2.4.3. Xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình
Tiểu kết chương 2
-10-
Tỉnh Vĩnh Long có 109 xã, phường, thị trấn; có 89
xã quy hoạch xã nông thôn mới (trong đó, có 22 xã được
tỉnh chọn làm điểm). Đến cuối năm 2014 có 12/22 xã đạt
chuẩn xã nông thôn mới.
Thông qua việc thực hiện các cuộc vận động trong
phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa như:
Gia đình văn hóa, ấp, xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, nếp
sống văn hóa nơi công cộng…đã từng bước bài trừ các tệ nạn xã
hội, mê tín dị đoan, hạn chế các hủ tục lạc hậu và việc tàng trữ,
sử dụng sản phẩm văn hóa có nội dung xấu ra khỏi đời sống
cộng đồng nông thôn. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định về
chính trị, thực hiện nghiêm kỷ cương, pháp luật và quy ước ấp;
phát huy dân chủ; củng cố tình làng, nghĩa xóm; kịp thời hòa
giải những bất hòa, mâu thuẫn trong cộng đồng; đoàn kết giúp
đỡ lẫn nhau giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; góp
phần nâng cao ý thức người dân trong việc bảo vệ môi trường
và thực hiện nếp sống vệ sinh ngăn nắp trong mỗi gia đình. Vì
thế diện mạo ở các địa phương trong tỉnh nói chung, nói riêng ở
12 xã nông thôn mới ngày càng đổi mới, môi trường cảnh quan
chung ngày càng xanh - sạch - đẹp.
Tuy nhiên, việc xây dựng các thiết chế văn hóa, xã hội
còn mang tính áp đặt, chưa chú ý đến vai trò chủ thể của cộng
đồng trong việc tiếp nhận và sử dụng các thiết chế này. Mặc dù
chỉ tiêu hưởng thụ văn hóa của người dân trong những năm đổi
mới vừa qua tăng lên gấp nhiều lần so với trước đây nhưng tính
sáng tạo văn hóa của nhân dân bị hạn chế do sự áp đặt của “văn
hóa đại chúng”.
Trong tổ chức thực hiện, năng lực và tầm lãnh đạo xây
dựng con người và phát triển văn hóa của các cấp ủy, chính
-11-
quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể còn nhiều hạn chế. Sự phối
hợp giữa cán bộ, ban, ngành và đoàn thể trong việc xây dựng
con người và phát triển văn hóa, xã hội còn yếu, trách nhiệm
chưa rõ ràng.
Nhận thức sâu sắc điều đó, Để xây dựng đời sống văn
hóa vùng nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long ngoài vai trò của Đảng bộ
tỉnh, ngành văn hóa – thông tin, thì mỗi người dân phải ý thức
được vai trò, trách nhiệm của mình. Các cấp ủy Đảng và các
ngành có liên quan phải tạo điều kiện phát triển đời sống kinh tế
của địa phương, xã, ấp từ đó hình thành cơ sở để phát triển nhu
cầu văn hóa và hoạt động văn hóa ở nông thôn, hoàn thành mục
tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở các xã nông thôn mới tỉnh
Vĩnh Long.
-12-
CHƯƠNG 3
MỘT S VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG
ĐỜI S NG VĂN HÓA TR NG NÔNG THÔN MỚI
TẠI TỈNH VĨNH L NG
3.1. Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng đời sống văn hóa
nông thôn mới tại tỉnh Vĩnh Long
3.1.1. Vấn đề văn hóa làng truyền thống trong xây dựng
nông thôn mới
3.1.2. Vấn đề đô thị hóa và hiện đại hóa trong văn hóa
nông thôn hiên nay.
3.2. Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá làng truyền
thống trong xây dựng nông thôn mới
3.3. Một số giải pháp xây dựng đời sống văn hóa trong nông
thôn mới tại tỉnh Vĩnh Long
3.3.1. Hoàn thiện và củng cố các tiêu chí đã đạt được
nâng cao mức sống và chất lượng sống cho nông dân
trong nông thôn mới
3.3.2. Phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ dân trí
vùng nông thôn
3.3.3. Xây dựng, hoàn thiện, khai thác có hiệu quả thiết
chế văn hóa vùng nông thôn
3.3.4. Phát huy tinh thần dân chủ và đoàn kết trong xây
dựng đời sống văn hóa trong nông thôn mới
3.3.5. Tăng cường và phát huy sức mạnh của hệ thống
chính trị để xây dựng đời sống văn hóa
Tiểu kết chương 3
-13-
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của
Đảng và Nhà nước ta, xây dựng nông thôn mới nhằm làm cho
kinh tế nông thôn phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của
người dân tăng lên, hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, môi trường
xanh, sạch, đẹp; huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị
và toàn xã hội, khơi dậy tinh thần, ý thức tự lực, tự cường, tự
vươn lên của mọi người dân. Xây dựng môi trường sống ở nông
thôn ổn định, hòa thuận và dân chủ, có đời sống văn hóa phong
phú, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Xây dựng đời sống văn hóa nông thôn cần những bước
đi, giải pháp cụ thể, cần phải xác định được ta đang ở đâu, đích
đến của ta là gì và những hành động nào cần thiết để đi đến
đích. Do vậy, đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung nỗ lực cần giải
quyết, trong đó vấn đề cơ bản và lâu dài là phải xây dựng gia
đình văn hóa, ấm no hạnh phúc, bởi vì hạt nhân của xã hội là gia
đình, gia đình tốt thì xã hội mới tốt và nông thôn như là một xã
hội thu nhỏ được tạo lập bởi nhiều gia đình.
Tỉnh đã công nhận 223.103 hộ gia đình đạt chuẩn văn
hóa, 704 khu dân cư văn hóa, 47 xã, phường, thị trấn văn hóa.
Hộ dân có điện đạt 97%, nước sạch từ nước máy tập trung đạt
60%, hàng năm giải quyết việc làm cho 25.000 lao động, giảm
hộ nghèo 2%. Trật tự an toàn xã hội khá tốt, thực hiện tốt quy
chế dân chủ cơ sở, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân.
9 tháng đầu năm 2012, vận động được trên 25,5 tỉ đồng
ủng hộ Quỹ "Vì người nghèo”, hơn 150 tỉ đồng từ các chương
trình an sinh xã hội. Hỗ trợ cất mới trên 1.500 căn nhà cho hộ
nghèo, hỗ trợ về giống, vốn, phương án làm ăn, điều trị bệnh,
học sinh nghèo có điều kiện đến trường…
-14-
Ban chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở, các cấp ủy Đảng, chính
quyền có sự quan tâm đúng mức. Tỉnh ủy quyết định phân công
tỉnh ủy viên, giám đốc sở, ngành mỗi người trực tiếp hỗ trợ 1
xã; cấp ủy huyện, thị, thành phố phân công cấp ủy trực tiếp chỉ
đạo cơ sở; từng xã, phường, thị trấn thành lập tổ công tác chỉ
đạo ấp, khóm. Chính quyền phối hợp tốt trong triển khai và hỗ
trợ kinh phí. Đặc biệt có sự nỗ lực quyết tâm của Mặt trận, Ban
chỉ đạo các cấp và sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân.
Tuy nhiên so với yêu cầu và chất lượng đặt ra thì
phong trào phát triển chưa đều, chất lượng xây dựng hộ và một
số khu dân cư chưa cao, chưa thật sự đi vào chiều sâu; bộ mặt
văn hóa của một số ít khu dân cư, hộ gia đình chưa thật sự
sáng, xanh, sạch, đẹp.
Ban chỉ đạo các cấp cần đề ra một số giải pháp cụ thể
như:
- Kiện toàn, củng cố lại Ban chỉ đạo các cấp và Ban
vận động ở khu dân cư thật sự đủ mạnh. Cụ thể hóa các nội
dung tiêu chí xây dựng hộ và khu dân cư cho phù hợp.
- Triển khai, tập huấn các tiêu chí mới sửa đổi cho Ban
chỉ đạo các cấp, đặc biệt là Ban vận động khu dân cư. Triển
khai kế hoạch, hướng dẫn gắn các tiêu chí xây dựng khu dân cư
văn hóa với nội dung xây dựng nông thôn mới phù hợp với tình
hình thực tế của địa phương. Với phương châm "Toàn dân Vĩnh
Long chung sức xây dựng nông thôn mới”, phấn đấu đến năm
2015 có 21 xã đạt chuẩn.
- Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa vùng nông
thôn nói chung và đời sống văn hóa vùng nông thôn ở tỉnh Vĩnh
Long là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước và lãnh
đạo tỉnh trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay là có một chiến