Luận văn tục hạ cốt của người khmer nam bộ

  • 24 trang
  • file .pdf
-1-
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh sống và lớn lên ở vùng dân tộc Khmer, tôi từng
chứng kiến nhiều nghi thức, nghi lễ liên quan đến phong
tục, tập quán, tôn giáo – tín ngưỡng của người Khmer đặc
biệt là tục hạ cốt. Bản thân tôi là dân tộc Khmer, công việc
hiện tại của tôi là công tác tại Phòng Văn hóa – Xã hội, Ban
Dân tộc tỉnh. Do đó tôi chọn đề tài “Tục hạ cốt của người
Khmer Nam Bộ” làm đề tài nghiên cứu để tìm hiểu thêm
về tục hạ cốt của Khmer ở một số tỉnh có đông người Khmer
sinh sống có nét gì giống và khác nhau. Đồng thời, bản thân
muốn đóng góp một phần công sức để giữ gìn và phát huy
giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến tục
hạ cốt của người Khmer:
Tài liệu của Campuchia: Nhen Phuom – Mom
Chhay (2004), Tập tục Khmer cổ (theo nghi thức Achar),
Phnom Penh.
Tài liệu tiếng Việt: Lê Hương (1969), Người Việt
gốc Miên, Sài Gòn; Mai Ngọc Diệp (2008), Tang ma của
người Khmer An Giang, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh; Võ Thanh
Hùng (2010), Nghi lễ vòng đời của người Khmer Sóc
Trăng, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội; Phạm Minh Hoàng
(2014), Tang ma của người Khmer ở Vĩnh Long, Luận văn
Thạc sĩ, Trường Đại học Trà Vinh.
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
____________________________
ISO 9001:2008
TRƯƠNG MINH HIẾU
TỤC HẠ CỐT
CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60310640
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ HUỆ
TRÀ VINH, NĂM 2016
-2-
3. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua điền dã, khảo sát thực tế, phỏng vấn để
tìm hiểu những đặc điểm, các giá trị, ý nghĩa và những biến
đổi trong tục hạ cốt của người Khmer Nam Bộ. Cung cấp
những thông tin, cơ sở khoa học để góp phần bảo tồn văn
hóa truyền thống của người Khmer, phát huy những giá trị
vốn có của người Khmer từ tục hạ cốt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về tục hạ cốt
của người Khmer Nam Bộ. Trong đó luận văn nghiên cứu
và làm rõ những nét văn hóa truyền thống và những biến
đổi xung quanh tục hạ cốt, tìm ra những nét tương đồng và
khác biệt giữa cộng đồng người Khmer và giữa các dân tộc
trong vùng.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu tục hạ cốt
của người Khmer Nam Bộ tại một số tỉnh có đông người
Khmer sinh sống như Trà Vinh, Sóc Trăng và An Giang.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích; Phương pháp hồi
cố (lịch sử); Phương pháp quan sát tham dự; Phương pháp
so sánh.
6. Đóng góp luận văn
Đề tài luận văn “Tục hạ cốt của người Khmer Nam
Bộ” góp phần làm chúng ta hiểu rõ hơn yếu tố văn hóa tộc
người của người Khmer từ góc độ tục hạ cốt, góp phần hoàn
thiện việc nghiên cứu về người Khmer Nam Bộ.
Đề tài luận văn nghiên cứu sẽ đóng góp thêm nguồn
tài liệu cho công tác giảng dạy, nghiên cứu của khoa và nhà
-3-
trường; làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên
cứu kế tiếp và là tiền đề để chúng tôi nghiên cứu thêm về
văn hóa Khmer.
7. Bố cục: gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Tục hạ cốt truyền thống của người Khmer
Chương 3: Những biến đổi trong tục hạ cốt của
người Khmer
-4-
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Nghi thức:
Nghi thức là hành vi của cá nhân hoặc tập thể, tuân
theo một nguyên tắc nhất định, lặp đi lặp lại thuộc một sơ
đồ có sẵn, nhằm đạt tới mục đích tín ngưỡng tôn thờ một
thế lực siêu nhiên nào đó.
1.1.1.2. Nghi lễ:
Nghi lễ là hoạt động quan trọng của con người liên
quan đến hành vi tôn giáo thể hiện niềm tin đối với đấng
siêu nhiên, đấng thần linh đem lại cho con người sự thỏa
mãn về tinh thần được cộng đồng truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác.
1.1.1.3. Nghi lễ chuyển đổi:
Nghi lễ chuyển đổi là những nghi lễ đánh dấu sự
chuyển đổi của cá nhân trong suốt vòng đời, từ tình trạng
này sang tình trạng khác, từ vai trò, địa vị này sang vai trò,
địa vị khác, hợp nhất những kinh nghiệm của con người và
kinh nghiệm văn hóa với vòng đời. Nghi lễ chuyển đổi
thành ba giai đoạn chính: phân ly (trước ngưỡng), chuyển
tiếp (trong ngưỡng) và hội nhập (sau ngưỡng).
1.1.1.4. Phong tục, tập quán:
Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con
người đã được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định
-5-
thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực
hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo
nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng. Tập quán là
phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc
và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá
nhân, một cộng đồng. Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ
nó mang tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi.
1.1.2. Các lý thuyết tiếp cận luận văn
1.1.2.1. Tang ma:
Là việc thực hiện những nghi lễ đối với người chết.
Nghi thức lễ tang gồm các bước: tẩm liệm, cúng bái, cầu
siêu, cầu an, di quan, hỏa táng... Sau hỏa táng tro cốt người
chết được đưa về nhà thờ cúng hoặc để tại chùa.
1.1.2.2. Linh hồn:
Linh hồn là khái niệm của tôn giáo dùng để chỉ lực
lượng phi vật chất tồn tại vĩnh viễn, độc lập với thể xác và
ở thế giới bên kia.
1.1.2.3. Thần linh:
Thần linh là những nhân vật thần thoại trong truyền
thuyết chuyên làm những công việc có tính trợ giúp, cả
những hành vi chống lại con người. Có ba loại quan hệ giữa
con người với thần linh: cầu xin, cộng tác và đấu tranh
chống lại. Trong văn hóa của người Khmer những gì quan
trọng trong cuộc sống đều được họ thần thánh hóa.
1.1.2.4. Tro cốt:
Tro cốt là phần xác người thiêu thành tro, các miếng
xương cháy chưa hết được nhặt để vào cái thố (bình, lọ) gia
đình khá giả thì để vào tháp nhỏ gọi là “Kột” để thờ trong
nhà và sau đó đều đem đi hạ.
-6-
1.1.2.5. Tháp cốt:
Tháp cốt ở các ngôi chùa Khmer là hình ảnh thu nhỏ
và biến thể của tòa Stupa Ấn Độ. Có 3 loại tháp: tháp cá
nhân; tháp dòng họ; tháp tập thể.
1.1.2.6. Hạ cốt:
Theo người Khmer thì hạ cốt là việc đem tro cốt người
chết hạ xuống đất hoặc đặt vào trong tháp cốt. Có ba hình thức
hạ cốt: đặt trên bậc thang, đặt trên mặt đất và chôn tro cốt.
1.2. Cơ sở thực tiễn về người Khmer Nam Bộ
1.2.1. Khái quát về Nam Bộ
Nam Bộ được chia thành hai miền: miền Đông và
miền Tây. Nam Bộ là vùng đất đa tộc người, ngoài bốn dân
tộc chủ đạo Kinh, Khmer, Hoa, Chăm nói trên, cư dân vùng
Nam Bộ còn có sự góp mặt của nhiều tộc người khác cùng
sinh sống nhưng chiếm số lượng rất ít. Nam Bộ là khu vực
đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán.
1.2.2. Người Khmer Nam Bộ
1.2.2.1. Dân số và dân cư
Người Khmer ở nước ta sinh sống chủ yếu ở đồng
bằng sông Cửu Long Hình thái cư trú của người Khmer phổ
biến từ xưa đến nay đó là hình thái cư trú theo cộng đồng
người với tên gọi là “phum” và “sróc”. Đặc điểm cư trú nổi
bật nhất của người Khmer là cư trú trên đất giồng – người
Khmer gọi là “phnô”.
1.2.2.2. Văn hóa
Người Khmer Nam Bộ có nền văn hóa đậm đà bản
sắc dân tộc được thể hiện ở hai phương diện văn hóa vật thể
và văn hóa phi vật thể.
-7-
1.2.2.3. Tín ngưỡng - tôn giáo
Tín ngưỡng dân gian chi phối đời sống tinh thần
của người Khmer đó là tín ngưỡng Neak Tà và Arăk.
Người Khmer theo Phật giáo Nam tông Khmer, chùa là di
tích văn hóa, lịch sử và kiến trúc; nơi đào tạo về giáo lý,
Pali, chữ Khmer; chùa còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa
của người Khmer.
1.2.2.4. Giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trong vùng
Giao lưu văn hóa là quy luật của giao tiếp xã hội, là
yêu cầu của sự phát triển, làm cho văn hóa của mỗi dân tộc
ngày càng phong phú, đa dạng và văn minh hơn. Ở phần
này chúng tôi trình bày sự giao thoa về tôn giáo – tín
ngưỡng; về lễ hội; hôn nhân; tang ma; văn hóa; nghệ thuật.
1.3. Tiểu kết
Nam Bộ là vùng đất có lịch sử hình thành từ lâu đời,
là vùng đất đa tộc người, với bốn dân tộc chủ đạo Kinh,
Khmer, Hoa, Chăm. Đây là vùng đất có sự hiện diện đầy đủ
của các tôn giáo lớn trên cả nước. Đặc trưng là Phật giáo Nam
tông Khmer chỉ tập trung đông ở vùng Nam Bộ. Người Khmer
có quá trình lịch sử hình thành lâu đời và có nền văn hóa mang
bản sắc riêng, trong quá trình cộng cư với các dân tộc khác đã
tiếp thu và chọn lọc để đưa nền văn hóa của dân tộc mình ngày
càng phát triển và văn minh hơn. Nghiên cứu về “Tục hạ cốt
của người Khmer Nam Bộ” phải dựa trên cơ sở đặc điểm về
lịch sử, kinh tế, văn hóa – xã hội, tôn giáo của người Khmer
Nam Bộ. Qua nghiên cứu tục hạ cốt để nhằm làm rõ hơn quan
niệm của người Khmer về triết lý “sống gửi thân, thác gửi cốt”
tại chùa.
-8-
Chương 2
TỤC HẠ CỐT TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI KHMER
2.1. Nguồn gốc, ý nghĩa và các quan niệm
2.1.1. Nguồn gốc, ý nghĩa
2.1.1.1. Nguồn gốc
Tục hạ cốt có thể đã bắt đầu hình thành từ thế kỷ thứ
XIII. Nhà khảo cổ Pháp Avmonier viết: “Lễ hỏa táng của
nhà vua cử hành rất trọng thể. Tro tàn được giữ ở Hoàng-
thành trong một cái bình bằng vàng. Chính các vị Hoàng-tử
làm lễ rước tro về Triều và sau đó đem đặt vào ngôi tháp”.
Khi đức Phật Thích Ca nhập Niết bàn, xá lợi được
đựng trong tháp để cho Phật tử khắp nước bố thí, cúng
dường, tưởng nhớ đến công đức của đức Phật.
2.1.1.2. Ý nghĩa
Người Khmer có quan niệm “sống vào chùa gửi thân,
thác vào chùa gửi cốt”. Sau khi hỏa táng xong họ gửi tro
cốt, linh hồn người quá cố vào chùa để hàng ngày nghe sư
sãi tụng kinh để linh hồn mới sớm siêu thoát và đầu thai
sang kiếp khác.
2.1.2. Quan niệm
2.1.2.1. Quan niệm về thế giới bên kia
Thế giới bên kia chính là thế giới tâm linh. Theo
người Khmer thì thế giới bên kia là thế giới dành cho
người chết. Thế giới này nằm ở hướng Tây, vì theo quan
niệm của người Khmer, hướng Tây là hướng của sự chết,
của cõi âm.
-9-
2.1.2.2. Quan niệm về linh hồn:
Con người được hình thành từ phần xác và phần hồn,
một người khỏe mạnh thì hai yếu tố này luôn tồn tại song
song với nhau, không tách rời nhau. Khi một người bị ngất
sỉu là phần hồn lìa khỏi thể xác, nếu họ được linh hồn quay
về thì sẽ tỉnh lại, nếu không thì sẽ chết.
2.1.2.3. Quan niệm về triết lý “sống gửi thân, thác
gửi cốt”
Trong chu kỳ của đời từ khi sinh ra được các nhà sư
làm lễ cầu an, đến tuổi trưởng thành được các nhà sư độ trì
và khi chết được hỏa táng và hạ cốt vào tháp với các nghi
thức của Phật giáo. Vì vậy, cuộc đời của người Khmer gắn
liền với ngôi chùa và họ theo đuổi triết lý “sống gửi thân,
chết gửi cốt”.
2.2. Tục hạ cốt của người Khmer
2.2.1. Sau hỏa táng
Tro cốt được nhặt và đựng trong bình, được thờ cúng
trong nhà và sau đó được đem đi hạ trong tháp hoặc ngoài
tháp cốt.
2.2.2. Nguyên nhân tổ chức hạ cốt
Họ mong muốn người thân của mình được nghe kinh
Phật hàng ngày, được sự che chở của các vị thần linh và
sớm được siêu thoát.
2.2.3. Thời gian tổ chức hạ cốt
Người Khmer không quy định thời gian thờ cúng bao
lâu thì tổ chức hạ cốt. Thời gian tổ chức hạ cốt không cố
định, khi họ có điều kiện và xem ngày tháng năm hợp với
-10-
con cháu thì họ sẽ tổ chức hạ cốt. Thông thường tổ chức hạ
cốt vào dịp Chôl Chnam Thmây.
2.2.4. Địa điểm hạ cốt
Người Khmer thường hạ cốt người quá cố trong tháp
cốt, trước khi chưa có tháp cốt thì họ hạ cốt dưới gốc cây
bồ đề trong chùa hoặc hạ xuống đất trong khuôn viên đất
của gia đình.
2.2.5. Nghi thức hạ cốt
Khi làm lễ hạ cốt, người Khmer thỉnh các vị sư và
Achar Yuki tổ chức lễ cầu siêu cho người quá cố và sau đó
đem cốt đi hạ. Hạ cốt đối với các vị sư thì do sư sãi đảm
nhận. Nghi thức hạ cốt thì giống nhau nhưng chỉ khác nhau
ở chỗ là cách hạ cốt. Có 3 cách hạ cốt phổ biến của người
Khmer đó là: Chôn tro cốt xuống đất, để tro cốt trên mặt đất
trong tháp; để tro cốt trên bậc thang trong tháp.
2.2.6. Tục giã cốt
Người Khmer An Giang chôn người chết vài năm
đào xương lên hỏa táng, họ gọi là giã cốt. Người chết được
chôn trong tháp, mỗi tháp có cấu tạo gồm hai phần, phần
trên để cốt, phần dưới chôn xác. Nghi thức giã cốt được tổ
chức tại chùa.
2.2.7. Tục hạ cốt được tổ chức thành lễ
2.2.7.1. Trước ngày tổ chức lễ:
Họ đến gặp thầy (Kru Achar) để xem ngày tháng
năm nào hợp với con cháu và người quá cố thì tổ chức lễ.
2.2.7.2. Trong lễ hạ cốt:
Buổi chiều, cúng cơm cho các vị thần thổ địa (gọi là
lễ cúng Krong Pìa Li), lễ cúng Thiên. Buổi tối thứ nhất: làm
lễ cầu siêu, cầu an và thỉnh các vị sư thuyết pháp. Buổi sáng
-11-
ngày hôm sau: dâng cơm đến sư sãi, lễ cúng dường đến đức
Phật, lễ bái Tam bảo, lễ Tam qui ngũ giới và thỉnh sư sãi
đọc kinh hồi hướng công đức và cầu siêu. Đêm thứ hai: làm
lễ bái Tam bảo, lễ Tam qui ngũ giới, thỉnh sư sãi đọc kinh
cầu an, thuyết pháp, lễ an vị Phật và đọc kinh hồi hướng.
Ngày hôm sau: dâng cơm đến các vị sư sãi, cúng dường tứ
vật dụng, lễ vật dâng vào chùa, cầu siêu, hồi hướng công
đức và đem tro cốt đi hạ.
2.2.7.3. Sau khi đã đưa tro cốt gửi lên chùa:
Hàng năm họ vẫn tổ chức lễ giỗ, lễ giỗ thường được
thực hiện ngày lễ Sêne Đônta (lễ cúng ông bà). Ngày nay,
người Khmer cũng tổ chức lễ giỗ hàng năm theo đúng ngày
chết của người thân như người Hoa và người Kinh.
2.3. Sự khác nhau trong tục hạ cốt của người Khmer
Việc tổ chức lễ hạ cốt được thực hiện nhiều ở Trà
Vinh, còn Sóc Trăng và An Giang thì việc tổ chức hạ cốt
thành lễ thì rất ít. Ở An Giang có nét riêng là tục giã cốt.
Việc hạ cốt ở các tỉnh cũng như ở các địa phương trong một
tỉnh cũng không thống nhất với nhau. Trong phạm vi một
chùa mà cách hạ cốt cũng khác nhau, đó là: có những tháp
thì cốt được chôn dưới đất, có tháp thì để nguyên hủ cốt
hoặc “ Kột”, có tháp thì để theo từng bậc thang.
2.4. Những ứng xử truyền thống của người Khmer trong
tục hạ cốt
2.4.1. Ứng xử giữa những người sống
Thể hiện qua tính gia đình, dòng họ và cộng đồng.
Quy mô tổ chức lễ hạ cốt lớn hay nhỏ là do nguồn kinh phí
của người thân đóng góp. Những đặc tính này chỉ khác với
-12-
tang ma ở chỗ là tang ma có thêm sự chuẩn bị các nghi thức
liên quan đến thi thể người chết.
2.4.2. Ứng xử giữa người sống và người chết
Thể hiện qua việc người Khmer chuẩn bị chu đáo
cho việc tổ chức lễ, nơi hạ cốt, dâng cơm hàng ngày đến các
vị sư đi khất thực.
2.4.3. Ứng xử giữa người với thế giới thần linh
Trước khi xây tháp cốt họ phải xin phép thần linh và
ma quỷ. Lễ cúng Krong Pìa Li là lễ nghi bắt buộc trong các
nghi lễ, lễ hội của người Khmer. Họ xem người quá cố trong
gia đình cũng là đấng siêu nhiên có thể phù hộ con cháu.
Thần lửa sinh ra con người và cũng mang con người đi sau
khi chết. Thần lửa là vị thần hiện diện trong tất cả các nghi
lễ của người Khmer. Trong lễ hạ cốt, lễ vật dâng cúng cũng
thể hiện nét văn hóa ứng xử với thần linh.
2.5. Giá trị của tục hạ cốt
2.5.1. Giá trị tâm linh
Thể hiện niềm tin thiêng liêng của người Khmer đối
với thần linh, ma quỷ. Chính vì thế từ trong quan niệm đến
nghi thức tổ chức hạ cốt, người Khmer luôn xem trọng việc
xin phép và báo với các đấng thần linh để che chở người
thân của họ, dẫn dắt để người quá cố đi đúng hướng sớm
được siêu thoát. Khi tổ chức hạ cốt, người Khmer tin tưởng
rằng người thân của họ sẽ được trở về với vũ trụ, được đầu
thai kiếp khác khi hàng ngày được nghe kinh kệ của đức
Phật được sự che chở của các đấng thần linh. Họ thường lấy
nước thơm vẩy lên tro cốt, đây là hành động thể hiện lòng
-13-
kính trọng đối với người đã khuất mà còn thể hiện nhân sinh
quang của cư dân nông nghiệp lúa nước.
2.5.2. Giá trị văn hóa – xã hội
Tục hạ cốt thể hiện một nét đẹp văn hóa truyền thống
lâu đời, mang tính giáo dục cho các thế hệ, tác động đến
việc giáo dục nhân cách, lối sống của người Khmer theo
chuẩn mực mà tôn giáo quy định. Giá trị cố kết cộng đồng
được thể hiện qua sự chung tay góp sức của gia đình, láng
giềng để tổ chức lễ hạ cốt. Việc xây dựng tháp, chùa chiền
là do sự đóng góp của cả cộng đồng. Hạ cốt đã gắn kết
những người quá cố không cùng địa vị xã hội với nhau, giữa
người giàu và người nghèo không còn sự phân biệt, họ được
gần nhau, ở cùng mái nhà (tháp cốt).
2.5.3. Nghi thức cầu siêu thể hiện hành vi báo hiếu
Việc cầu siêu cho người quá cố là một việc quan
trọng để báo hiếu và được ghi lại trong điều thứ 5 về bổn
phận cơ bản nhất của người con đối với cha mẹ trong đạo
Phật. Có thể nói rằng nơi nào có thờ tro cốt người quá cố là
nơi đó diễn ra nghi lễ cầu siêu. Thông qua việc nhờ sư sãi
cầu siêu, linh hồn của người thân của họ có thể giảm bớt tội
lỗi mà được lên cõi Niết bàn. Chính vì thế, họ chú tâm vào
thực hiện việc cầu siêu cho người chết. Việc cầu siêu cho
người chết này cũng giúp người sống tích đức, hồi hướng
công đức cho người quá cố.
2.5.4. Tháp cốt thể hiện triết lý sâu sắc
Thông thường đỉnh chùa, ngôi chánh điện, tháp cốt
có một đỉnh nhọn cuối cùng, chúng ta lấy một sợi dây treo
từ đỉnh xuống ta thấy có một tam giác cân, theo người
-14-
Khmer quan niệm hình tam giác là sự hoàn thiện nhất, ở đó
chứa đựng cái đẹp hoàn mỹ và tuyệt đối. Trên thân tháp
được trang trí hình Reahu thể hiện ý ngĩa sâu sa của triết lý
nhân đạo cao cả Phật Giáo: cái xấu, cái ác cũng không phải
là một lực lượng đáng sợ, đáng loại trừ. Trên tháp cốt còn
được người Khmer trang trí thêm những cánh hoa sen hoặc
hoa sen bởi hoa sen là biểu hiện của sự nẩy nở tinh thần,
của linh thiêng và của thuần khiết. Trên thân tháp còn trang
trí thêm bánh xe chuyển pháp luân gồm 8 căm, tượng trưng
cho Bát chánh đạo. Trong số những biểu tượng phổ biến
trong Phật giáo, có lẽ pháp luân là biểu tượng quan trọng
nhất bởi lẽ nó biểu thị cho cốt tủy của Phật giáo - giáo pháp
của đức Phật.
2.6. Tiểu kết
Tục hạ cốt của người Khmer Nam Bộ chịu ảnh
hưởng của triết lý Phật giáo Nam tông Khmer và các quan
niệm truyền thống của cư dân nông nghiệp lúa nước. Các lễ
thức hạ cốt cho chúng ta thấy rõ văn hóa ứng xử của người
Khmer. Tục hạ cốt có hai hình thức là tổ chức đơn giản, tổ
chức thành lễ nhưng nó chung một giá trị và triết lý sâu sắc.
Người Khmer Nam Bộ luôn duy trì và phát huy như một
cách để tích phước cho ông bà, cha mẹ, cho chính mình và
người thân.
Có thể nói rằng tục hạ cốt là một trong những hành
vi báo hiếu của người Khmer đối với ông bà, cha mẹ quá
cố. Đây là hình thức hồi hướng, tạo công đức, tích phước
hành thiện, cầu siêu, tế độ... để cha mẹ sớm siêu thoát.
Người Khmer Nam Bộ luôn xem trọng và thực hiện nhằm
-15-
đền đáp công ơn của ông bà, cha mẹ trên các phương diện
từ hành xử trong cuộc sống hàng ngày đến các hành vi trong
nghi thức tôn giáo. Trong đó, việc báo hiếu thông qua nghi
thức tôn giáo được biểu hiện rõ nét nhất: tổ chức cầu siêu,
tổ chức hạ cốt, dâng cơm cho các vị sư tại chùa...; hành vi
mang tính thường nhật đó là việc đặt cơm hàng ngày cho
các vị sư. Báo hiếu trong tục hạ cốt thể hiện bổn phận đền
đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của người con đối với
cha mẹ mà còn thể hiện những giá trị văn hóa cao đẹp trong
đời sống cộng đồng người Khmer Nam Bộ. Những hành vi
ấy, giá trị ấy hiện nay vẫn còn được cộng đồng gìn giữ, thực
hiện và được xem như một chuẩn mực trong hành xử cá
nhân, gia đình và cộng đồng xã hội.
-16-
Chương 3
NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG TỤC HẠ CỐT
CỦA NGƯỜI KHMER
3.1. Những biến đổi trong tục hạ cốt của người Khmer
3.1.1. Trong quan niệm của người Khmer
Trước kia, khi tổ chức hạ cốt người Khmer không
xin phép chính quyền địa phương vì họ chỉ thực hiện một
số nghi thức đơn giản. Ngày nay, với việc tổ chức hạ cốt
thành lễ lớn, hầu hết người Khmer đều xin phép chính
quyền địa phương nhằm thực hiện đúng theo quy định của
pháp luật. Theo truyền thống người Khmer tổ chức lễ giỗ
người quá cố trong dịp lễ Sêne Đônta. Hiện nay, lễ giỗ được
tổ chức nhân kỷ niệm ngày mất giống như người Kinh và
người Hoa. Tổ chức hạ cốt đơn giản chỉ cần có người thờ
cúng và con cháu xung quanh, khi tổ chức lễ hạ cốt bản thân
từng thành viên trong gia đình, dòng họ đều có ý thức đóng
góp vào việc tổ chức lễ. Hiện nay, người Khmer không hạ
cốt ở dưới gốc cây bồ đề hay ở ngoài khuôn viên đất trống.
Họ xây dựng tháp ở trong và ngoài khuôn viên chùa, tháp
được thiết kế với nhiều hình dạng khác nhau. Đó là do xu
thế xã hội phát triển và sự giao thoa văn hóa giữa các dân
tộc nên nhiều tháp cốt đã có sự cách tân về kích thước và
hình dáng, đồng thời có sự pha trộn giữa nhiều văn hóa các
dân tộc.
3.1.2. Trong nghi thức hạ cốt
Trong tục hạ cốt của người Khmer nghi thức hạ cốt
chỉ cần tổ chức cầu siêu và hạ vào tháp hay chôn xuống đất
-17-
là xong không cần phải tổ chức nhiều nghi thức khác, mọi
công việc liên quan đến hạ cốt là do vị Achar Yuki đảm nhận.
Ngày nay, cách thức tổ chức hạ cốt có nhiều nghi thức hơn
và thường được tổ chức thành lễ lớn, các vị Achar khác cũng
đảm nhận được không nhất thiết là Achar Yuki.
Theo thống kê số liệu khảo sát thì đa số các vị Achar
cho rằng không cần tổ chức lễ hạ cốt vẫn tổ chức hạ cốt
được. Họ thường tổ chức hạ cốt vào dịp lễ Sêne Đônta và
Chôl Chnam Thmây, khi thực hiện nghi thức cầu siêu ở nhà
hoặc ở chùa xong là có thể hạ cốt vào tháp.
Khi kinh tế còn khó khăn người Khmer thường tổ
chức hạ cốt dưới gốc cây bồ đề hay trong một khu vực nào
đó trong khu đất của gia đình chứ không hạ vào tháp. Còn
hiện nay, trong khuôn viên chùa Khmer có rất nhiều tháp
đựng cốt và cả trong phum, sróc cũng thấy nhiều ngôi tháp
mới được xây dựng. Việc hạ cốt không bắt buộc là để trên
mặt đất hay chôn dưới mặt đất, vấn đề này là do quan niệm
của từng người, từng vùng khác nhau.
3.2. Nguyên nhân dẫn đến biến đổi
3.2.1. Tác động từ sự biến đổi của kinh tế - xã hội
Sự phát triển kinh tế, xã hội của người Khmer đã làm
thay đổi thay đổi tập quán cư trú của các gia đình người
Khmer trong từng phum. Trong quá trình thực hiện phong
trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, nhất
là vùng có đông người Khmer sinh sống, cấp ủy đảng, chính
quyền đã chú trọng đến việc xây dựng con người và tạo điều
kiện để đồng bào các dân tộc phát huy những giá trị truyền
thống của dân tộc. Trong phát triển hội nhập hiện nay, người
-18-
Khmer cũng đang dần thay đổi các tập quán, lối sống truyền
thống của dân tộc.
Ngày nay, các lễ tục và nghi thức liên quan tới tang
ma, hạ cốt trong gia đình người Khmer được đơn giản đi
nhiều. Khi có người thân qua đời, họ thỉnh sư sãi đến tụng
kinh, tẩm liệm và làm lễ cầu siêu. Lễ cầu siêu không giới
hạn thời gian, có thể tiến hành khi tang lễ đang diễn ra hoặc
thực hiện sau tang lễ. Trong tục hạ cốt thì lễ cầu siêu được
thực hiện trước khi hạ cốt. Những gia đình khá giả tổ chức
đem cốt người quá cố vào tháp, họ thường tổ chức thành lễ
lớn và lễ vật dâng vào chùa cũng đa dạng, phong phú. Họ
quan niệm lễ vật dâng vào chùa càng nhiều thì gia đình
hưởng được nhiều phước đức.
3.2.2. Mối quan hệ giao lưu, tiếp xúc văn hóa với các
tộc người trong cộng đồng dân cư
Các dân tộc với nền văn hóa khác nhau cùng sống
chung một khu vực có tương đồng về mặt địa lý, lịch sử,
kinh tế, chính trị... nên dẫn đến quá trình giao lưu tiếp biến
văn hóa. Những người Kinh và người Hoa sống gần khu
vực chùa người Khmer khi họ qua đời cũng có một số
trường hợp đem vào hỏa táng và hạ cốt trong chùa, nhưng
bình đượng tro cốt của họ khác người Khmer. Người Kinh
và người Hoa khi hỏa táng và hạ cốt tại chùa nghi thức được
thực hiện có nét giống và khác nhau do người thân của
người quá cố chọn và phụ thuộc vào nhà chùa. Người
Khmer sống chung cộng đồng người Hoa, người Kinh cũng
chịu ảnh hưởng là khi chết một số người Khmer cũng tổ
chức chôn người chết, theo di nguyện của người quá cố.