Luận văn truyen ngan nam cao trong chuong trung hoc va viec phat trien nang luc cam thu van hoc cua hoc sinh tren dia ban tinh tra vinh

  • 15 trang
  • file .pdf
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
____________________________
ISO 9001:2008
HUỲNH THỊ TRÚC LINH
TRUYỆN NGẮN NAM CAO
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC
VÀ VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CẢM THỤ VĂN HỌC CỦA HỌC SINH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH
Chuyên ngành:
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN
VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
TRÀ VINH, NĂM 2015
TÓM TẮT
Xuất phát từ mục tiêu của môn Ngữ văn trong nhà trường, từ vị trí, vai trò của
truyện ngắn Nam Cao cũng như thực tế của việc dạy học thể loại này trong chương
trình Ngữ văn, đồng thời xuất phát từ yêu cầu của việc cảm thụ văn học trong thực tế
dạy học, tôi chọn đề tài: “Truyện ngắn Nam Cao trong chương trình trung học và việc
phát triển năng lực cảm thụ văn học của học sinh trên địa bàn tỉnh Trà Vinh”.
Trong chương 1, tôi tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp văn học của Nam Cao trong
chương trình Ngữ văn trung học cũng như vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc học tập thể
loại văn học này trong lịch sử chương trình trung học. Các truyện ngắn của Nam Cao
đã phản ánh được tình hình lịch sử xã hội đặc biệt, một hiện thực xã hội đen tối, ngột
ngạt, bế tắc. Việc học truyện ngắn Nam Cao sẽ giúp học sinh mở rộng sự hiểu biết
của mình về hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn,
sống tích cực hơn và biết cảm thông đối với những người nghèo khổ.
Ở chương 2 của luận văn tôi đi sâu tìm hiểu về vai trò, ý nghĩa của việc cảm thụ
văn học. Cảm thụ văn học là một hoạt động phù hợp với đặc trưng của môn Ngữ văn.
Đây là một hoạt động sáng tạo, hoạt động tự giác, vận dụng nhiều năng lực nhận thức.
Cảm thụ là tiền đề cho việc phân tích và đi sâu vào tác phẩm nhằm giúp học sinh tự
giác, hứng thú khai thác nội dung tác phẩm. Trên cơ sở đó, tôi vận dụng một số biện
pháp nhằm phát triển năng lực cảm thụ văn học của học sinh qua việc giảng dạy truyện
ngắn Nam Cao. Đó là những truyện ngắn Chí Phèo, Đời thừa, Lão Hạc, Đôi mắt. Nhìn
chung, những truyện ngắn của Nam Cao được đưa vào chương trình Ngữ văn trung
học là những tác phẩm thuộc thời kỳ văn học hiện đại. Đó là những tác phẩm có giá trị
cao về nội dung và nghệ thuật. Nó chứa đựng những tư tưởng nhân đạo cao cả, những
cách tân nghệ thuật góp phần phát triển nền văn xuôi hiện đại Việt Nam.
Trong chương 3 của luận văn tôi nghiên cứu các năng lực chung cốt lõi và
chuyên biệt của môn Ngữ văn đồng thời tiến hành khảo sát giáo viên và học sinh về
việc dạy và học truyện ngắn Nam Cao. Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra thực trạng cảm
-iii-
thụ văn học của học sinh tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn Cầu Ngang,
tỉnh Trà Vinh; từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học truyện ngắn
Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11. Về phía học sinh, các em phải chuẩn bị
bài, năng động, ham học hỏi và mạnh dạn phát biểu, trao đổi ý kiến của mình với bạn
rồi tự điều chỉnh suy nghĩ nhận thức của mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên khi
tiếp nhận tác phẩm Nam Cao. Các em phải biết thắc mắc, bức xúc khi phát hiện những
điều mà các em chưa chấp nhận trong quá trình giáo viên phân tích, giảng dạy. Về
phía giáo viên, giáo viên phải có kinh nghiệm thẩm mỹ, phải nắm được chân trời chờ
đợi của học sinh trung học phổ thông, cần tạo bầu không khí văn chương trong giờ
học văn, kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học, các dạng câu hỏi nhằm nâng
cao năng lực tư duy, sáng tạo cho học sinh, cần chú ý đặc trưng thể loại khi phân tích
tác phẩm văn học cũng như ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy tác phẩm
văn học.
-iv-
MỤC LỤC
Trang tựa
Quyết định giao đề tài
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
TÓM TẮT ................................................................................................................ iii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề............................................................................................... 2
3. Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................................... 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................................................... 8
5. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ................................................................................... 8
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................. 8
7. Đóng góp của luận văn .................................................................................................... 9
8. Cấu trúc luận văn.............................................................................................................. 9
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NGẮN NAM CAO ..........................10
1.1. Cuộc đời, sự nghiệp văn học của Nam Cao ............................................................. 10
1.1.1. Cuộc đời ............................................................................................................... 10
1.1.2. Sự nghiệp văn học ............................................................................................... 13
1.1.2.1. Quan điểm nghệ thuật .....................................................................13
1.1.2.2. Các đề tài chính của Nam Cao ........................................................16
1.1.2.3. Phong cách nghệ thuật của Nam Cao ..............................................20
1.2. Một số đặc điểm truyện ngắn Nam Cao trong chương trình trung học ................. 23
1.2.1. Vai trò và vị trí truyện ngắn Nam Cao trong lịch sử chương trình trung học23
1.2.2. Truyện ngắn Nam Cao trong chương trình trung học ..................................... 25
1.2.2.1. Tác phẩm Chí Phèo .........................................................................26
1.2.2.2. Tác phẩm Đời thừa .........................................................................28
1.2.2.3. Tác phẩm Lão Hạc ..........................................................................28
-v-
1.2.2.4. Tác phẩm Đôi mắt ...........................................................................29
CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CỦA HỌC
SINH QUA VIỆC GIẢNG DẠY TRUYỆN NGẮN NAM CAO.........................32
2.1. Khái quát về cảm thụ văn học .................................................................................... 32
2.1.1. Khái niệm cảm thụ .............................................................................................. 32
2.1.2. Cảm thụ văn học gắn liền với việc dạy học tác phẩm văn chương ................ 33
2.1.3. Đặc điểm tâm lí của học sinh trung học trong việc dạy học tác phẩm
văn chương ................................................................................................................... 37
2.2. Vận dụng phương pháp đọc – hiểu vào việc giảng dạy truyện ngắn Nam Cao nhằm
phát triển năng lực cảm thụ văn học của học sinh........................................................... 39
2.2.1. Biện pháp đọc diễn cảm ..................................................................................... 43
2.2.2. Biện pháp nêu vấn đề .......................................................................................... 46
2.2.3. Biện pháp gợi mở ................................................................................................ 49
2.2.4. Biện pháp bình giảng .......................................................................................... 52
CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT TÌNH HÌNH DẠY VÀ HỌC TRUYỆN NGẮN NAM
CAO Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH TRÀ VINH ......................................56
3.1. Các năng lực chung cốt lõi và chuyên biệt của môn Ngữ văn cấp Trung học
phổ thông. .......................................................................................................................... 56
3.1.1. Các năng lực chung cốt lõi ................................................................................. 56
3.1.2. Năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn........................................................... 58
3.2. Khảo sát tình hình dạy và học truyện ngắn Nam Cao ở các trường trung
học hiện nay ...................................................................................................................... 60
3.2.1. Mục đích và đối tượng khảo sát......................................................................... 60
3.2.1.1. Mục đích khảo sát ...........................................................................60
3.2.1.2. Đối tượng khảo sát ..........................................................................60
3.2.2. Nội dung khảo sát................................................................................................ 61
3.2.3. Phương pháp khảo sát ......................................................................................... 61
3.2.3.1. Phương pháp điều tra khảo sát (Sử dụng phiếu khảo sát) ...............61
3.2.3.2. Phương pháp quan sát (dự giờ) .......................................................69
-vi-
3.2.3.3. Phương pháp xử lí thông tin bằng thống kê ....................................69
3.2.3.4. Phương pháp phân tích tổng hợp ....................................................69
3.2.4. Đánh giá kết quả khảo sát................................................................................... 69
3.2.4.1. Đánh giá từ phiếu điều tra, khảo sát ................................................69
3.2.4.2. Đánh giá qua quan sát (dự giờ) .......................................................82
3.3. Đề xuất giải pháp dạy học truyện ngắn Nam Cao ................................................... 88
3.3.1. Cần chú ý đến đặc trưng thể loại khi dạy truyện ngắn Nam Cao ................... 88
3.3.2. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động .............. 91
3.3.2.1. Hướng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản Chí Phèo .........................91
3.3.2.2. Sử dụng linh hoạt câu hỏi nhằm nâng cao năng lực tư duy, sáng tạo
cho học sinh. .................................................................................................93
3.3.2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy truyện ngắn Nam Cao ..95
3.3.2.4. Định hướng học sinh chuẩn bị bài ..................................................96
3.3.2.5. Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá .....................................................97
KẾT LUẬN ............................................................................................................104
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................106
PHỤ LỤC ...............................................................................................................109
Phụ lục 1 ............................................................................................................................ 109
Phụ lục 2 ............................................................................................................................ 113
-vii-
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông là một vấn đề
đang được quan tâm hiện nay ở tất cả các môn học. Việc đổi mới này hướng tới mục
tiêu tích cực hóa hoạt động dạy và học theo hướng phát huy khả năng độc lập suy
nghĩ của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, học sinh là chủ thể - giữ vai trò
trung tâm của giờ học. Trong việc đổi mới đó, vai trò của giáo viên rất quan trọng,
không chỉ ở việc tổ chức hoạt động dạy ở lớp nhằm hướng học sinh vào vị trí trung
tâm của giờ học để phát huy tính chủ động tích cực của học sinh mà còn phải biết
cách giúp học sinh lĩnh hội tri thức.
Đối với môn Ngữ văn, dạy học chính là quá trình tổ chức cho học sinh tiếp
nhận văn học. Đó là quá trình tiếp nhận có tính định hướng rõ rệt với tác dụng đem
đến cho học sinh những nhận thức về cuộc sống, giáo dục tình cảm thẩm mĩ, làm
phong phú đời sống tâm hồn cho học sinh đồng thời góp phần rèn luyện, phát triển
năng lực thẩm mĩ, năng lực tư duy, năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương. “Văn
học là nhân học”, văn học là môn học vừa có tính nghệ thuật vừa có tính khoa học,
có tác dụng sâu sắc đến đời sống tâm hồn và trí tuệ của học sinh. Vì thế, dạy văn
là dạy cho các em cách cảm thụ tác phẩm văn học, giúp học sinh cảm nhận, phát
hiện, khám phá, chiếm lĩnh bản chất thẩm mĩ của văn chương nhằm đào tạo, bồi
dưỡng mĩ cảm phong phú, tinh tế cho học sinh. Đồng thời, người giáo viên cần
xác lập các biện pháp rèn luyện năng lực cảm thụ cho học sinh trong quá trình
giảng dạy văn bản văn học. Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, góp phần
đảm bảo tính nghệ thuật đặc thù của môn Ngữ văn. Việc rèn luyện kỹ năng này
giúp cho học sinh phát huy được sự độc lập suy nghĩ để phát hiện ra những cái
hay, cái đẹp trong tác phẩm. Đây cũng là một mục tiêu hướng đến của việc đổi
mới phương pháp dạy học.
-1-
Thế nhưng, vấn đề dạy học môn Ngữ văn trong trường phổ thông đang là vấn đề
thời sự nóng hổi, luôn thu hút sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều giới trong xã hội, chất
lượng học văn của học sinh trung học phổ thông ở nước ta đang ngày càng giảm sút.
Môn Ngữ văn đang mất dần vị thế vốn có của nó, tình trạng học sinh không còn hứng
thú với việc học văn đã trở thành hiện tượng phổ biến trong nhiều trường phổ thông.
Nhìn lại thực trạng dạy và học văn hiện nay ở các trường trung học phổ
thông, chúng ta dễ nhận ra vấn đề phát huy năng lực cảm thụ của học sinh chưa
được chú ý, quan tâm đúng mức, các em chưa phát huy khả năng độc lập suy nghĩ
trong quá trình lĩnh hội tri thức. Bởi từ trước tới nay, bản thân học sinh chưa được
đặt đúng vị trí vốn có và cần có của mình. Nghĩa là các em còn thụ động, hoàn
toàn lệ thuộc vào giáo viên, vai trò của các em bị hạ thấp. Nhiệm vụ và chức năng
của các em chỉ nghe và ghi chép những gì mà giáo viên đã khám phá và phân tích
tác phẩm văn học. Việc cảm thụ một tác phẩm văn học đối với học sinh không
phải là một vấn đề đơn giản, nhất là truyện ngắn của Nam Cao. Bởi ngòi bút của
Nam Cao thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh nhưng tác phẩm của ông
lại đặt ra những vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn, mang tính triết lí sâu sắc về con
người, về cuộc sống.
Muốn khắc phục thực trạng này, giáo viên cần phải đổi mới phương pháp
dạy học, tìm ra những phương pháp, biện pháp, cách thức góp phần nâng cao chất
lượng hiệu quả dạy học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông.
Từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài “Truyện ngắn
Nam Cao trong chương trình trung học và việc phát triển năng lực cảm thụ văn
học của học sinh trên địa bàn tỉnh Trà Vinh”. Đây là một việc làm thiết thực, góp
phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nói tới việc dạy học tác phẩm văn chương là đề cập đến vấn đề cảm thụ văn
học, bởi đây là một hiện tượng độc đáo, kì diệu của quá trình thưởng thức, tiếp nhận
-2-
văn học. Nhờ đó mà người đọc văn, học văn có thể “lấy hồn ta để hiểu hồn người”
(Hoài Thanh)
Nhà trường nước ta đã từ lâu chú ý đến việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực cảm
thụ văn học trong quá trình giảng dạy tác phẩm văn chương. Chúng ta có thể kể nhiều
tên tuổi của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình và nhà giáo qua từng
thời kì đã nêu những kiến giải sâu sắc, bổ ích cho hoạt động cảm thụ văn học như
Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Lê Thị Diệu Hoa, Nguyễn Thị Thanh
Hương, Trần Đình Sử, Trần Đăng Suyền, Hoàng Ngọc Hiến…
Trong “Phương pháp dạy học văn”, Phan Trọng Luận đã nêu lên những thực
trạng của việc dạy học văn hiện nay là học sinh không thích học văn ngày càng nhiều
và đó “không chỉ là mối băn khoăn riêng của nhà giáo và ngành giáo dục mà đã trở
thành mối quan tâm chung của xã hội” [20, tr 128]. Về phía học sinh, tác giả cho rằng
“học sinh càng lên lớp trên càng muốn xa bộ môn văn…Giờ văn không hứng thú, học
sinh lạnh lùng thờ ơ với những vấn đề đặt ra trong bài văn. Số phận các nhân vật văn
học, tiếng nói tâm tình của nhà văn nhà thơ ít gây được sự đồng cảm trong lòng học
sinh qua những giờ văn trong nhà trường. Hiểu biết văn học và kỹ năng văn học của
học sinh tốt nghiệp phổ thông còn non kém về nhiều mặt. Điều đáng lo ngại nhất là
họ tỏ ra chưa làm chủ được với kiến thức văn học của mình” [20, tr 129]. Về phía
giáo viên, tác giả đã phân tích bốn khuynh hướng mà giáo viên đã mắc phải trong quá
trình giảng dạy tác phẩm văn chương từ trước đến nay. Khuynh hướng thứ nhất là
“kéo dài hàng trăm năm nay, đó là khuynh hướng coi tác phẩm văn chương trong nhà
trường là một hiện tượng tĩnh. Người giáo viên phân tích tác phẩm nhưng không hề
nghiên cứu, không hề nắm chắc đối tượng tiếp nhận tác phẩm” [20, tr109]. Khuynh
hướng phổ biến thứ hai là “coi tác phẩm văn chương đơn thuần như một hiện tượng
lịch sử xã hội” [20, tr 110]. Người giáo viên đã “vô tình gạt bỏ, loại trừ bản chất thẩm
mĩ của tác phẩm. Và do đó tác dụng giáo dục của tác phẩm bị hạ thấp” [20, tr 110].
Biểu hiện của khuynh hướng này là “lối phân tích tác phẩm theo chủ điểm và chủ đề
chính trị, xã hội, luân lý, đạo đức, thời sự mà giáo viên muốn gò ép tác phẩm vào
những khuôn hình đã định sẵn cho giờ giảng của mình” [20, tr 110]. Một số giáo viên
-3-
lại rơi vào tình trạng “bệnh sơ đồ hóa nhân vật và cốt truyện của tác phẩm làm cho
việc phân tích văn học không còn tính nghệ thuật và thẩm mĩ”. “Tiếng nói tình cảm
của nhà văn ký thác trong tác phẩm bị mờ nhạt, nhân vật mất đi máu thịt và sức sống
của cuộc đời” [20, tr 110]. Khuynh hướng thứ ba là “khuynh hướng minh họa trong
giảng dạy tác phẩm văn chương” [20, tr 111]. Nhiều giáo viên “đã lấy bài văn, tác
phẩm văn chương để minh họa cho những nhận định khái quát về tác giả, về giai đoạn
văn học và những khái niệm lý luận văn học cần hình thành” [20, tr 111]. Khuynh
hướng thứ tư là “khuynh hướng tách rời ngôn ngữ với văn học” [20, tr 112], nghĩa là
người dạy đã làm cho “tính văn học và tính ngôn ngữ của tác phẩm vô hình chung đã
bị tách lập ra một cách võ đoán” [20, tr 113].
Trong quyển “Văn học và học văn”, Hoàng Ngọc Hiến đã chỉ ra những thực
trạng dạy văn của nhiều giáo viên hiện nay khi hướng dẫn học sinh phân tích giá trị
nghệ thuật thì “chỉ ra trong câu, trong đoạn của bài văn một số từ và nói rằng nội
dung như thế này như thế kia là ở những từ này, từ nọ…” [9, tr 158]. Tác giả cho
rằng, với cách dạy như thế là cách dạy “bám lấy từ một cách hình thức, là chủ nghĩa
hình thức trong dạy văn” [9, tr 159]. Từ đó dẫn đến kết quả dạy học là “học sinh
thường bám lấy từ một cách hình thức” [9, tr 159]. Đồng thời, tác giả cho rằng, cách
dạy học phần lớn hiện nay là cách giảng văn bắt gọi tên thủ pháp nghệ thuật, cách
dạy này phổ biến ở các nhà trường trung học.
Trong quyển “Dạy học văn ở trường phổ thông”, Nguyễn Thị Thanh Hương
cũng đã chỉ ra nguyên nhân vì sao học sinh tiếp nhận văn chương chưa tốt, khả năng
cảm thụ văn học của học sinh còn nhiều yếu kém. Tác giả nhấn mạnh nguyên nhân là
do sự khác nhau trong tác phẩm văn chương của học sinh là “khoảng cách thẩm mĩ
giữa tác phẩm và tầm tiếp nhận của học sinh” [14, tr 125]. Để khắc phục nguyên nhân
trên, tác giả đã đưa ra các giải pháp đối với người giáo viên. Trước hết, “người giáo
viên cần chú ý tạo bầu không khí văn chương trong giờ học trên lớp” [14, tr 126]. Bầu
không khí văn chương được hình thành từ việc giải quyết một vấn đề nào đó trong tác
phẩm. Một trong những phương pháp đặc trưng để tạo ra không khí văn chương trong
-4-
giờ học là “việc khám phá ra mâu thuẫn giữa cách hiểu tác phẩm của học sinh và giá
trị đích thực của tác phẩm” [14, tr 127]. Và một biện pháp cũng quan trọng để tạo ra
bầu không khí văn chương chính là “biện pháp xây dựng câu hỏi có vấn đề nhằm bao
quát và tạo lập bầu không khí văn chương trong lớp học” [14, tr 127]
Trong quyển “Phương pháp dạy học Ngữ văn trung học phổ thông – những
vấn đề cập nhật”, Nguyễn Thanh Hùng (chủ biên), Lê Thị Diệu Hoa cũng đã đề cập
đến thực trạng dạy học văn ở trường trung học phổ thông, từ đó định hướng đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn. Tác giả đã chỉ ra điều cần lưu ý trong đổi mới phương
pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay là “phải tìm cách để học sinh
cũng quan tâm và thấm nhuần mục tiêu môn Ngữ văn trong chương trình cấp học”
[13, tr 18]. Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn phải gắn chặt và chịu sự chi phối
của nội dung đặc trưng môn học. Bởi môn Ngữ văn là một môn học trau dồi năng lực
thẩm mĩ cho học sinh. Một trong những vấn đề cơ bản trong việc đổi mới phương
pháp dạy học Ngữ văn là “phải thực hiện cơ chế mới trong dạy học” và “lấy học sinh
làm trung tâm chú ý hoạt động cho cả thầy và trò” [13, tr 29]. Giáo viên chỉ là người
tổ chức, hướng dẫn học sinh tham gia vào hoạt động học. Người dạy phát triển, tổng
hợp, gợi mở, đề xuất vấn đề, học sinh hoạt động theo cách riêng để đối thoại, bộc lộ
suy nghĩ của mình một cách sáng tạo, tự tin.
Với công trình “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể”, Trần
Thanh Đạm không chỉ giới thiệu một số kiến thức cơ bản về loại thể văn học mà tác
giả còn giới thiệu phương pháp vận dụng đặc trưng loại thể vào việc giảng dạy tác
phẩm văn học. Tác giả đã chỉ ra phương pháp dạy học truyện gồm có ba yêu cầu. Yêu
cầu thứ nhất là “làm cho học sinh nắm vững được sự phát triển của tình tiết trong tác
phẩm tức là nắm được cốt truyện” [4, tr 176]. Yêu cầu thứ hai là “làm cho học sinh
cảm thụ được sâu sắc, đánh giá được đúng đắn nhân vật trong tác phẩm” [4, tr 183].
Yêu cầu thứ ba là “làm cho học sinh cảm và hiểu được cái ý vị trong lời kể của tác
giả hay của người kể chuyện” [4, tr 194]
-5-
Trong quyển “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại”,
Nguyễn Viết Chữ khi bàn về phương pháp dạy học truyện ngắn, tác giả cho rằng “vấn
đề cơ bản của truyện ngắn là tình huống của nó” [2, tr 125]. Với những truyện ngắn
tự sự, “biết được thi pháp của tác giả có thể theo bước tác giả, theo nhân vật…để tìm
ra tư tưởng chủ đề” [2, tr126]. Nhưng lại có những nhà văn đi tới những triết luận bất
ngờ mà sâu sắc kiểu Nam Cao, những trữ tình ngoại đề giàu chất suy tưởng kiểu
Nguyễn Khải, những phát hiện độc đáo từ suy tư đến ngôn ngữ, hình ảnh của Nguyễn
Tuân, những liên tưởng duyên dáng mà sắc sảo, trong sáng kiểu Nguyễn Minh
Châu…ta phải “tùy từng tác phẩm cụ thể mà có phương pháp và biện pháp thích hợp”
[2, tr 126]. Cũng trong quyển này, tác giả đã cho rằng “Dạy học Đời thừa, một truyện
ngắn nhiều tầng bi kịch” [2, tr 128]. Tác giả cho rằng “trong quá trình dạy học truyện
ngắn này, nếu chúng ta chỉ tập trung vào việc phân tích nhân vật Hộ với hai bi kịch
sự nghiệp và tình thương e rằng bức tranh hiện thực nhiều tầng bi kịch thể hiện tư
tưởng của Nam Cao sẽ mất đi một phần đáng kể” [2, tr 134].
Khi dạy truyện ngắn Chí Phèo, Nguyễn Hoành Khung đã gợi ý cho giáo viên
trước khi đi vào phân tích giá trị của tác phẩm, có thể nêu ra một câu hỏi có định
hướng chú ý và gây hứng thú cho học sinh đó là “Truyện ngắn Chí Phèo của Nam
Cao có điều gì mới mẻ so với các tác phẩm của nhiều tác giả khác trước đó viết về
người nông dân bị áp bức bóc lột” [38, tr 155,156]. Ông cho rằng, hình tượng Chí
Phèo đã hội tụ những giá trị đặc sắc của thiên truyện, cho nên cần thấy được “bản
chất xã hội và ý nghĩa điển hình của hình tượng nhân vật… cần phân tích mối tình
Chí Phèo – Thị Nở, phân tích bi kịch con người không được công nhận làm người.
Bên cạnh đó phải thấy được tài năng nghệ thuật của Nam Cao qua “bút pháp điển
hình hóa trong xây dựng nhân vật”, “những khía cạnh mới mẻ trong nghệ thuật viết
truyện” [38, tr 158 – 163]
Khi dạy truyện ngắn này, giáo viên cần lưu ý khai thác về những nghệ thuật
“một số chi tiết như là ngẫu nhiên kể tạt ngang về đoạn đời ngày xưa của Chí. Tuy
vậy, vẫn giúp người đọc nắm được lai lịch của nhân vật này” [34, tr 163]. Truyện
ngắn Chí Phèo “có một lối kết cấu mới mẻ, cốt truyện rất hấp dẫn, tình tiết đầy kịch
-6-