Luận văn tín ngưỡng sùng bái thần cộng đồng của cư dân biển vùng tây nam bộ

  • 9 trang
  • file .pdf
An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 16 (4), 97 – 105
TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI THẦN CỘNG ĐỒNG CỦA CƯ DÂN BIỂN VÙNG TÂY NAM BỘ
Trần Thị Hoàn Mỹ1
1
Trường Đại học Cửu Long
Thông tin chung: ABSTRACT
Ngày nhận bài: 15/03/2016
Ngày nhận kết quả bình duyệt: There are several provinces located in the South West area of Vietnam are
22/05/2016 bodering the sea. Many immigrants who have moved to this area believed that
Ngày chấp nhận đăng: 08/2017 there are gods to protect their community. To explore the acculturation in
Title: clutures and beliefs, the article will go insight into the issue relevant to origins
Beliefs and religions on gods and beliefs on gods among the community in the South West of Vietnam.
among the community in the
South West of Vietnam TÓM TẮT
Keywords: Vùng đất Tây Nam Bộ có nhiều tỉnh giáp biển. Những người nhập cư đến vùng
Religions on gods, religions of
đất này trong quá trình tiếp xúc, khai thác các nguồn lợi từ biển đã hình thành
the community in the South
West of Vietnam, beliefs on cho mình một “hệ thống bảo trợ” về mặt tinh thần là các vị thần cộng đồng. Để
gods thấy được sự tiếp biến văn hóa và đặc trưng trong tín ngưỡng, bài viết sẽ làm rõ
một số vấn đề về nguồn gốc cũng như tâm lý thờ tự các vị thần cộng đồng của
Từ khóa:
Tín ngưỡng thờ cúng thần cư dân biển vùng Tây Nam Bộ.
cộng đồng, tín ngưỡng của
cư dân biển Tây Nam Bộ,
sùng bái thần cộng đồng
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong tác phẩm Maritime Trade and State (TP.HCM) (thuộc Đông Nam Bộ). Phía Tây và
Development in Early Southeast Asia (Thương Tây Nam giáp biển Tây Nam nằm trong vịnh Thái
mại biển và sự phát triển của các nhà nước ở Lan, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông.
Đông Nam Á sơ kỳ), học giả Kenneth R. Hall cho Lãnh thổ Tây Nam Bộ được mở rộng ra ngoài
rằng từ những thế kỷ trước công nguyên đến biển Đông và biển Tây Nam đến 12 hải lý, tức là
khoảng thế kỷ thứ XV, Đông Nam Á từng có 5 trên 22 km và vùng kinh tế ra đến 200 hải lý (Lê
vùng kinh tế lớn (commercial zones), trong đó Bá Thảo, 2004, tr. 8).
vùng kinh tế thứ nhất hình thành ở bán đảo Malay Thực tế lịch sử đã cho thấy, biển luôn đóng một
và vùng biển phía Nam Việt Nam. Những hoạt vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh
động kinh tế này đã dẫn đến sự hình thành của tế - văn hóa – xã hội. Những người khai phá vùng
vương quốc Phù Nam, một vương quốc biển điển đất Tây Nam Bộ đa phần đến đây bằng đường
hình, ra đời vào loại sớm nhất Đông Nam Á (Hall, biển. Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, không
1985, tr. 20 - 25). gian biển hơn 1 triệu km2. Cứ 100 km2 đất liền thì
Vùng Tây Nam Bộ phía Bắc và Tây Bắc giáp có 1 km bờ biển, chỉ số này khá cao so với thế
Campuchia, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh giới (600/1). Chính đặc trưng này đã hình thành
97
An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 16 (4), 97 – 105
cho người Việt tư duy hướng biển. Từ việc khai thức, trong dòng máu và điều kiện tự nhiên, lịch
thác kinh tế biển như đánh bắt, chế biến hải sản; sử của vùng đất mới, nó phát triển trong điều kiện
giao thương mua bán hay chế tạo những đồ thủ cách xa vùng đất cội nguồn cả về không gian và
công mỹ nghệ, đặc sản từ biển; người Việt cổ đã thời gian… Cho nên, nền văn hóa này vừa có nét
phát triển văn hóa biển từ rất sớm mà đặc trưng là giống lại vừa có nét khác với nền văn hóa ở vùng
văn hóa Sa Huỳnh, Đông Sơn và Chămpa. đất cội nguồn của cùng một tộc người (Trần Quốc
Ngay từ xưa, các đô thị sầm uất ở vùng Tây Nam Vượng, 1998, tr. 288).
Bộ đều gần biển, nổi tiếng nhất có thể kể đến là Thật vậy, vùng đất Tây Nam Bộ đã trở thành
thị cảng Óc Eo, cảng quốc này hưng thịnh vào các trung tâm giao thoa văn hóa của các dân tộc Kinh
thế kỷ đầu công nguyên. Một cảng quốc khác – Hoa – Chăm - Khmer đang cùng sinh sống.
cũng không kém phần phát triển là cảng quốc Hà Ngoài những yếu tố tín ngưỡng bản địa có sẵn, sự
Tiên hưng thịnh vào thế kỷ thứ XVIII. Chính vì tiếp biến, giao thoa văn hóa từ tín ngưỡng của các
vậy, sự tác động của biển lên đời sống tâm lý – xã người dân mới đến vùng đất đã làm cho hệ thống
hội vùng này khá sâu sắc. Trong quá trình tiếp tín ngưỡng có sẵn biến đổi. Khi đến vùng đất mới,
xúc, khai thác các nguồn lợi từ biển, cư dân vùng cư dân chủ động mang theo các vị thần bảo trợ
Tây Nam Bộ, đặc biệt là dân “hạ bạc” và những của địa phương mình. Trong điều kiện địa văn hóa
cư dân làm nghề liên quan đến biển vô cùng kính mới, họ điều chỉnh làm cho chúng thích nghi, phù
trọng những vị thần bảo trợ cho người đi biển, họ hợp. Chính vì vậy, dù được xác định là có nguồn
sùng bái và thờ cúng rộng rãi đến mức những vị gốc khác nhau, nhưng các vị thần biển của cư dân
thần này trở thành thần cộng đồng bảo trợ chung các vùng ven biển Tây Nam Bộ lại vừa thống
cho tất cả các dân tộc. nhất, vừa phong phú, đa dạng. Thường thấy nhất
2. TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI THẦN CỘNG là các thần sau: Thiên Y A Na, Bạch Mã Thái
ĐỒNG CỦA CƯ DÂN BIỂN VÙNG TÂY Giám, Lang Lại Nhị Đại Tướng Quân, Linh Sơn
NAM BỘ Thánh Mẫu, Ngũ Hành Nương Nương, Chúa Xứ
Thánh Mẫu, Đại Càn Thánh Nương, Nam Hải
Vùng đất Tây Nam Bộ gồm 01 thành phố và 12
Tướng Quân, Bà – Cậu,… Trong đó, cụ thể nhất
tỉnh, trong đó chỉ có Thành phố Cần Thơ và 07
có thể kể đến 02 dạng tín ngưỡng: thờ cúng nhân
tỉnh giáp biển (Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh,
thần và nhiên thần (linh vật).
Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau). Tất
cả các vùng này đều được hình thành và phát triển 2.1 Tín ngưỡng thờ cúng nhân thần
từ những người dân nhập cư, có ý thức trong công 2.1.1 Thờ Mẫu
cuộc khẩn hoang, mở cõi. Đầu tiên là cư dân Trong sự giao lưu, tiếp biến văn hóa trong cộng
Khmer Nam Bộ, sau là các ngư dân miền Trung, đồng người Kinh – Khmer - Hoa – Chăm, có
thạo nghề biển, có hiểu biết về vùng đất này, rồi nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của các
mới đến những thành phần cư dân khác đến để “mẫu” được sùng bái tại các vùng biển khu vực
khai phá, giao thương, sinh sống. Khi đến vùng Tây Nam Bộ.
đất mới, họ mang theo tri thức về nền văn hóa
2.1.1.1. Quan điểm thứ nhất được kể đến là
cùng lối ứng xử với môi trường tự nhiên – xã hội
nguồn gốc của Thủy Long Thánh Mẫu
cũ. Cộng đồng quần cư khi ấy bắt đầu xảy ra hiện
tượng giao thoa văn hóa. Nói như tác giả Trần Một số nhà nghiên cứu cho rằng, tín ngưỡng thờ
Quốc Vượng (1998): Mẫu được “du nhập” vào khu vực Tây Nam Bộ
theo những người Việt Trung Bộ đến đây mở đất
Gần như một quy luật, văn hóa của lưu dân vùng
vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVII, đầu thế kỷ thứ
đất mới, dù là của tộc người nào cũng đều là sự
XVIII. Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất phát từ việc tôn
kết hợp giữa truyền thống văn hóa trong tiềm
sùng thờ thần Nước – mẹ Nước/Mẫu Thủy/Mẫu
98
An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 16 (4), 97 – 105
Thoải của người Kinh. Theo truyền thuyết dân thành vị ác thần đáng sợ! (Dẫn theo Văn hóa tín
gian Mẫu Thoải là hóa thân lần thứ ba của Thánh ngưỡng của cộng đồng ngư dân ven biển Bến Tre,
Mẫu Liễu Hạnh, còn được gọi là Mẫu Đệ Tam. 2008, tr. 47).
Mẫu Đệ Tam là “mẫu” cai quản vùng sông nước, Ở vùng Tây Nam Bộ, có khá nhiều miếu thờ Thủy
biển cả và chuyên cứu độ cho dân sinh sống bằng Long thánh mẫu được xây dựng cách đây 100
nghề thủy. Binh tướng của bà là những vị thần năm. Tâm lý thờ tự của người dân khu vực này
hình rồng, rắn, thuồng luồng,… có sức mạnh để cũng thể hiện sự khác biệt ở từng địa phương: ở
dẹp yên sóng gió, có khả năng làm mưa, chống lũ tỉnh Kiên Giang người ta gọi Bà là Thủy Long
lụt, hồng thủy,… Tín ngưỡng thờ Mẫu Thoải rất thánh mẫu; ở Bến Tre Bà được gọi là Bà Thủy; ở
phổ biến ở khu vực Bắc Bộ và vùng Bắc Trung Cà Mau cư dân gọi Bà là Bà Thủy Long; ngoài ra
Bộ. cư dân Cà Mau và Bạc Liêu còn gọi Bà bằng tên
Khi vào đến vùng đất Nam Trung Bộ (từ Thừa gọi khác là Bà Mã Châu (phiên âm của từ Mazou
Thiên Huế trở vào), tín ngưỡng Mẫu Thoải pha – Trung Quốc),… Dù cách gọi có khác nhau, thời
trộn với tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na và hai gian và cách thức cúng tế khác nhau nhưng ngư
người con trai của bà là Cậu Tài và Cậu Quý (nhị dân tin rằng: chỉ cần thờ Thủy Long thánh mẫu thì
vị công tử) của người Chăm. “Di cư” sâu hơn nữa khi đi biển có thể được phù hộ độ trì.
vào Nam, ở vùng Tây Nam Bộ, Thiên Y A Na hóa Bất kỳ ngư dân nào khi ra khơi đánh bắt hải sản,
thân thành Thủy Long thánh mẫu, đôi khi thờ đóng tàu thuyền mới hoặc dân thương hồ đều phải
riêng hoặc phối thờ cùng nhị vị công tử. vái van Bà Cậu phù hộ độ trì cho mọi điều yên
Trong sách Đình Nam bộ xưa và nay, Huỳnh lành và được nhiều vận may như đánh bắt được
Ngọc Trảng và Trương Ngọc Tường cho nhiều hải sản có giá trị hay mua bán thuận lợi,…
biết:“Thủy Long Thần Nữ được Nhà Nguyễn Nếu có sự cố khi ra khơi hay bán buôn thất bát,
phong Trứ Linh Chưởng Ứng Mục Uyên Hằng người ta thường cho rằng mình bị Bà Cậu quở, Bà
Bác Uông Nhuận Trung Đẳng Thần (tính đến thời Cậu không cho,… Lúc đó, toàn bộ ngư phủ hoặc
Tự Đức)” (Huỳnh Ngọc Trảng và Trương Ngọc chủ ghe phải kiểm điểm xem mình có vô tình mạo
Tường, 1997, tr. 129). phạm oai linh Bà Cậu hay việc thờ cúng có trang
Vì nhiều nơi phối thờ như vậy nên theo thói quen nghiêm không để chỉnh sai sót và cầu xin Bà Cậu
dân gian, người ta tục gọi Thủy Long thánh mẫu bỏ qua, tiếp tục phù hộ. Lễ vật cúng Bà Cậu
và nhị vị công tử là “Bà Cậu”. Hầu hết người đi thường là gà, vịt, trái cây vì theo quan niệm của
biển vùng Tây Nam Bộ đều rất tin tưởng Bà Cậu. cư dân: “Ông cúng gà, Bà cúng vịt”.
Trong đất liền người ta thấy các Dinh Cậu, miễu Tín ngưỡng thờ Bà Cậu không chỉ phổ biến ở
Cậu, còn Bà thì thường thờ trước mũi ghe, tàu với cộng đồng dân cư làm nghề “hạ bạc” mà còn phổ
bài vị bằng chữ Hán: “Thủy Long Thánh Mẫu” biến rộng trong nếp sống sinh hoạt hàng ngày.
hay “Thánh Mẫu Nương Nương”. Khi làm những điều chưa chắc chắn, mang tính
Theo Ngô Đức Thịnh, Thủy Long thánh mẫu là vị may rủi người Việt Tây Nam Bộ thường dùng một
thần vừa thiện, vừa ác: câu cửa miệng “nhờ Bà Cậu”. Tại Phú Quốc,
trước Dinh Cậu còn in hai câu đối thể hiện uy
Vị thần này thể hiện tính lưỡng diện, một mặt, Bà
quyền và công đức của Cậu như sau:
là nơi ngư dân gửi gắm sự bảo trợ của mình trong
mỗi chuyến đi biển đầy thách thức và may rủi, “Vạn cổ anh linh thông thiên địa
mặt khác, nếu làm điều gì “xúc phạm” tới Bà, như Thiên thu hiển hách chiếu càn khôn”
thả các vật dụng xuống “thủy cung”, cứu người đã 2.1.1.2. Quan điểm thứ hai được kể đến là nguồn
bị Bà dìm chết để trừng phạt, không làm các nghi gốc của Bà Chúa Xứ (Mẹ xứ sở)
lễ “vớt vong” hay “chuộc vong”… thì Bà lại trở
99
An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 16 (4), 97 – 105
Ngay trong hiện tượng tích hợp văn hóa ở tín dành cho Bà sự ưu ái đặc biệt hơn. Đa phần miếu
ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ, có sự tích hợp tín Bà Chúa Xứ hiện nay được xây riêng, một số nơi
ngưỡng thờ Mẫu của người Kinh – tín ngưỡng thờ có trang thờ tự Bà trong các đình, chùa. Cách bày
mẹ xứ sở của dân tộc Chăm – tín ngưỡng thờ Bà trí miếu hoặc trang thờ rất đơn giản nhưng nhất
Thiên Hậu của người Hoa và kể cả truyền thống thiết phải có tượng Bà ngồi trên ngai, mặc áo bào,
mẫu hệ của người Khmer. đầu đội mão, hai bên thường thờ thêm Tả - Hữu
Theo Nguyễn Duy Hinh: “Bà Chúa Xứ là hiện Ban. Bà Chúa Xứ là vị Mẫu không chỉ có chức
tượng cư dân Chăm miền Trung bộ di cư vào năng quản lý đất đai mà còn ban phúc, giáng họa,
Nam mang theo thần mẹ của họ”. Tác giả còn cho phù hộ việc kinh doanh cho cư dân vùng đất Bà
biết thêm: “ngự”. Với diện tích bao phủ của biển rộng lớn,
việc thờ Bà Chúa Xứ trở nên phổ biến ở tất cả các
Bà Chúa Xứ là hình tượng Mẹ Chăm được tôn
vùng đất giáp biển của vùng Tây Nam Bộ là điều
thần phồn thực, dạy dân cày cấy, đỡ đẻ, dạy dệt,
dễ hiểu, bình thường. “Ở Kiên Giang, Bà Chúa
tổ chức xã hội có phép tắc, phù hộ dân đi tầm, cứu
Xứ trên đất liền biến thành Bà chúa hòn ở vùng
khổ cứu nạn, chống hùm beo bệnh tật, đảo vũ
biển, đảo xa” (Nguyễn Thanh Lợi, 2015, tr. 107);
chống hạn.
ở Bạc Liêu người ta gọi Bà là Bà Chúa Xứ Thủy
(Dẫn theo Văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng ngư Tề.
dân ven biển Bến Tre, 2008, tr. 41).
2.1.1.3. Quan điểm thứ ba được kể đến là nguồn
Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, tín ngưỡng gốc của các Nữ thần/thánh khác phù trợ
thờ Mẫu liên quan đến biển ở khu vực Tây Nam người đi biển
Bộ còn có sự tiếp biến từ văn hóa của người
Hình tượng Mẹ Quan Âm Nam Hải cũng theo tín
Hoa. Khi đến vùng đất mới, người Hoa đã mang
ngưỡng Phật Giáo và người Hoa du nhập vào văn
theo nữ thần độ trì (mẹ xứ sở) của mình là Bà
hóa Việt. Bồ tát Quán Thế Âm là vị bồ tát quan
Thiên Hậu[1]. Người Hoa rất sùng bái Bà Thiên
trọng của Phật giáo Đại thừa, chuyên cứu nhân độ
Hậu, nơi đâu có mặt người Hoa thì nơi đó có đền
thế. Ở Ấn Độ và Trung Quốc có nhiều truyền
thờ Bà. Đối với họ, Bà không chỉ phù hộ những
thuyết liên quan đến Bà. Riêng ở Việt Nam, câu
người đi biển mà còn là vị thần bảo hộ tất cả các
chuyện được nhiều người biết đến và lưu truyền là
mặt đời sống của con người.
công chúa Diệu Thiện hiền hậu muốn một lòng tu
Trong quá trình người Hoa sống cộng cư với Phật, bị vua cha cấm cản, giam vào ngục. Sau khi
người Việt và người Khmer ở vùng Tây Nam Bộ được cứu thoát, Bà tu hành ở núi Hương Tích và
cũng tạo nên một hiện tượng giao lưu văn hóa được Đức Phật thử thách nhiều lần. Bà đắc đạo
đáng chú ý, đó là trong một số ngôi chùa của thành Bồ tát, có nhiều quyền năng để cứu giúp
người Việt, người Khmer cũng có đặt tượng thờ những người khốn khó. Trong Kinh Pháp Hoa,
Bà, ví dụ như tại Hải Phước Tự - huyện Vĩnh phẩm Phổ Môn có nhắc đến việc ai đi biển bị
Châu – tỉnh Sóc Trăng. giông bão nếu một lòng cầu nguyện thì Đức Phật
Quá trình giao thoa văn hóa giữa người Kinh – Bà sẽ xuất hiện cứu vớt, vì thế dân gian có câu:
Chăm – Hoa – Khmer tại khu vực Tây Nam Bộ đã “Gió đông đi biển chìm thuyền
tạo nên một hình ảnh Mẫu xứ sở mới, mang đậm
Niệm danh bồ tát sóng tan hết liền”
dấu ấn tín ngưỡng thờ Mẫu của người Kinh. Đầu
tiên Bà được phối thờ chung với Thành Hoàng Như vậy có nghĩa là dù được cho là có nguồn gốc
trong các Đình hoặc phối thờ tại các chùa Phật, từ tín ngưỡng của người Hoa, nhưng Mẹ Quan
chính vì vậy, các nghi lễ trong việc thờ cúng Bà Âm Nam Hải được “Việt hóa” rất rõ nét, trở thành
mang đậm dấu ấn Lễ Thần hoàng ở đình làng vị nữ bồ tát được đa số ngư dân thờ tự.
người Việt. Về sau, cộng đồng cư dân nơi đây đã
100
An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 16 (4), 97 – 105
Một vị nữ thần có nguồn gốc từ văn hóa Chăm là Thần Nữ, Bà Cô, Cô Sáu, Bà lớn Tướng Lê Kim
Đại Càn Thánh Nương Vương, theo Huỳnh Ngọc Định,…
Trảng và Trương Ngọc Tường thì: Hàng trăm năm nay, tục thờ Mẫu đã hình thành và
Ở Nam Bộ có một số nơi làm nghề sông, biển như phát triển khắp các vùng biển ở khu vực Tây Nam
Vĩnh Thanh Vân (Rạch Giá) đã nhập Đại Càn Bộ. Bên cạnh những miếu, đền thờ riêng, hình
Thánh Nương Vương và Nam Hải Cự Tộc Ngọc thức phối thờ vẫn tồn tại song song tại các dinh,
Lân Tôn Thần Thành một vị thần biển. Bài vị chùa, đình. Điều này chứng tỏ vị trí của “mẫu”
thường ghi: Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Đại khá quan trọng trong tâm thức ngư dân, biểu hiện
Tướng Quân Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần (Huỳnh qua không gian và thời gian thờ cúng. Nghi lễ
Ngọc Trảng và Trương Ngọc Tường, 1997, tr. được cải biến cho phù hợp với từng địa phương,
69). các lễ vật dâng cúng mang đậm sắc thái văn hóa
Nói như vậy nghĩa là ở tỉnh Kiên Giang có sự lẫn vùng biển. Lễ hội tôn giáo dành riêng cho Mẫu
lộn giữa hai vị thần, tuy nhiên cần thấy rõ Đại được tổ chức hàng năm. Sự dung hợp giữa tín
Càn Thánh Nương Vương dù được thờ riêng hay ngưỡng thờ Mẫu của các dân tộc tại khu vực Tây
chung thì trong tâm thức của người dân Tây Nam Nam Bộ đã thể hiện nét văn hóa riêng của một
Bộ vẫn là một nữ thần phù hộ cho người đi biển. vùng đất.
Trong sự tiếp biến văn hóa, rõ ràng là không phải Tóm lại, tín ngưỡng thờ Mẫu đã để lại nhiều dấu
địa phương nào cũng giống địa phương nào, nó ấn văn hóa ở vùng Tây Nam Bộ, đặc biệt là đối
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố với cư dân biển. Nó góp phần làm rõ quy luật bất
địa văn hóa. biến và khả biến trong cùng một hiện tượng văn
hóa. Mặc dù đã có sự thích nghi, biến đổi nhưng
Ngay từ những ngày đầu mở đất, ngoài việc chủ
yếu tố cốt lõi của tín ngưỡng sùng bái các nữ thần,
động mang theo những vị thần bảo trợ từ nguyên
đặc biệt là những nữ thần phò trợ cho người đi
quán, họ còn mở rộng tín ngưỡng của mình bằng
biển không hề thay đổi trong tâm thức của những
cách tiếp thu việc tôn sùng, thờ tự các yếu tố khai
người dân di cư.
sinh vũ trụ trực thuộc nền văn hóa phương Đông.
Người Tây Nam Bộ cũng tôn sùng các yếu tố khai 2.1.2 Thờ các nhân thần khác
sinh vũ trụ, mà cụ thể là Ngũ Hành Nương Bên cạnh tín ngưỡng thờ Mẫu, cư dân biển vùng
Nương. Ngũ hành tượng trưng cho 5 yếu tố: Kim, Tây Nam Bộ còn thờ các nhân thần khác. Tất cả
Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Ngũ Hành Nương Nương những vị thần này đều được tôn sùng như đấng
gồm: Kim Đức Thánh Phi (áo màu trắng), Mộc cứu độ cho những người đi biển hoặc làm nghề
Đức Thánh Phi (áo màu xanh), Thủy Đức Thánh liên quan đến biển. Vị nhân thần đầu tiên cần nhắc
Phi (áo màu đen), Hỏa Đức Thánh Phi (áo màu đến là Ông Bổn.
đỏ), Thổ Đức Thánh Phi (áo màu vàng). Hiện nay Không riêng gì Bà Thiên Hậu, hình tượng Ông
ở Phú Quốc có 3 nơi thờ Ngũ Hành Nương Bổn cũng theo văn hóa của người Hoa đi vào đời
Nương, các nơi này đều có người trông coi nhang sống tâm linh người Việt Tây Nam Bộ.
khói. “Ngũ Hành Nương Nương được nhà
Đối với người Hoa, Ông Bổn có nghĩa là “Ông
Nguyễn tặng mỹ tự Tư Hóa Mặc Vận Thuận
tổ”,“Bổn” có nghĩa là gốc. Ông Bổn chỉ là một
Thành Hòa Tự Tư Nguyện Trang Huy Dực Bảo
biểu tượng, không phải là một nhân vật cụ thể. Đa
Trung Hưng Thượng Đẳng Thần (sắc Duy Tân
số người Hoa đều quan niệm rằng “Ông Bổn” là
thứ V) (Huỳnh Ngọc Trảng và Trương Ngọc
“Phước Đức Chánh Thần”. Theo các tác giả
Tường, 1997, tr. 135).
Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường
Ngoài ra, ở vùng Tây Nam Bộ người Việt còn thờ thì trong tâm thức của người Hoa,“Ông Bổn là
các nữ thần khác liên quan đến biển là Kiêm Giao người giúp đỡ và hướng dẫn cho người Hoa vượt
101
An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 16 (4), 97 – 105
biển yên lành đến nơi cư trú ở Nam Bộ và giúp họ cư” vào vùng Tây Nam Bộ lại điều chỉnh và thích
làm ăn ổn định, gia đình khỏe mạnh” (Nguyễn ứng một lần nữa. Tuy nhiên, không ai có thể phủ
Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, 1990, tr. nhận nguồn gốc của vị thần này. Sự giao thoa văn
379). Mặc dù đối tượng thờ được định danh giống hóa thể hiện ở việc kết hợp một vị thần Chăm với
nhau nhưng ở mỗi vùng người Hoa lại có những một danh xưng dành cho thần linh người Việt:
quan niệm và tín ngưỡng riêng về Ông Bổn. Thần Hoàng + Maha Cẩn.
Tuy nhiên, dù có gốc tích thế nào đi nữa thì người Thần Hoàng Ma ha Cẩn Đại Vương trở thành tín
ta vẫn cho rằng được Ông Bổn độ trì là sẽ được ngưỡng chung của những người dân xứ biển với ý
mọi may mắn, thuận lợi trên đường “du hành” nghĩa đầy đủ của một vị thần bảo vệ cho dân tộc
trên biển. Chỉ riêng ở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Chăm trong những chuyến “hải trình” trước đây,
Vinh đã có đến 4 chùa thờ Ông Bổn, ngày trước khi đến vùng đất mới, được người Việt thờ tự,
các chùa đều có tục Ông Bổn “lên xác” vào những mặc nhiên cũng trở thành vị thần bảo hộ luôn cho
ngày lễ hội, tức là Ông sẽ “nhập xác” vào một họ.
người đã được chọn lựa kỹ lưỡng, thể hiện sự linh Ngoài các vị thần có nguồn gốc “ngoại lai”, còn
ứng của mình bằng nhiều cách rất rùng rợn như: có những vị thần “thuần Việt”, ví dụ như: Lý Ngư
rạch lưỡi, đánh trái chông,… Mỗi chùa đều có – Lý Lực, Nam Hải Long Vương Thượng Đẳng
một “xác” Ông Bổn để khi cần kíp, Ông sẽ nhập Thần, Tam Vị Long Vương, Thủy Long Tôn
về để chỉ dẫn cho người dân địa phương một số Thần, Thủy Bá Đại Vương,…Những vị thần này
việc cần làm. Hiện nay, chỉ còn mỗi huyện Cầu đều có nguồn gốc xuất thân từ xứ biển. Theo hai
Kè (tỉnh Trà Vinh) là còn giữ tục này. tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường:
Ngoài Ông Bổn, những người đi biển còn thờ Ma “Các đình vùng Rạch Giá tòng tự một số thần
ha Cẩn Thành Hoàng Đại Vương. “Thần Hoàng mang dấu ấn của nghề đánh cá từ miền Trung đưa
Việt Nam là thần làng, là tổ tiên của làng…” vào, trong số đó có thờ Lý Ngư, Lý Lực là hai vị
(Nguyễn Duy Hinh, 1996, tr. 98). thần cá, cận vệ Nam Hải tướng quân tôn thần”
Ma ha có nghĩa là “lớn”, “Cẩn” là phiên âm tên (Huỳnh Ngọc Trảng và Trương Ngọc Tường,
của một người Chàm. Đây là một thần linh Chăm 1997, tr. 141).
đã hội nhập vào hệ thống thần linh Việt ở Trung Không kể đến nguồn gốc du nhập, bản thân những
Bộ và theo những lưu dân Nam tiến đến vùng đất tín ngưỡng này đã là dấu ấn của người Việt trong
này (Huỳnh Ngọc Trảng và Trương Ngọc Tường, tín ngưỡng sùng bái thần cộng đồng, mong muốn
1997, tr. 73). có một đấng thiêng liêng bảo trợ.
Sự cộng sinh văn hóa đã làm cho hệ thống nhân Ở vùng Tây Nam Bộ, người Việt còn có tục thờ
thần được thờ tự ở vùng Tây Nam Bộ rất phong người chết trên biển, gọi là Cô Hồn, Cô Bác. Theo
phú, đa dạng. Khi đến một cùng đất mới, lối sống họ, những vong linh chết bất thường này không
thay đổi, quan điểm sống thay đổi, các yếu tố siêu thoát được mà còn vất vưởng trên trần gian,
truyền thống ít nhiều cũng bị chi phối, biến đổi cụ thể là nơi họ chết. Quyền năng của những linh
cho thích nghi với hoàn cảnh mới. Bối cảnh văn hồn chưa tới số này rất lớn, nếu không thờ phụng,
hóa là yếu tố chi phối rất lớn đến hình thức tổ cúng bái họ thì sẽ bị quở, bị phá. Người dân thờ
chức và niềm tin tín ngưỡng. Ngoài văn hóa Hoa, phụng Cô Hồn, Cô Bác rất chu đáo, không chỉ
văn hóa Chăm khi đến vùng Tây Nam Bộ cũng dưới biển mà cả trên đất liền. Ngoài mong muốn
cộng sinh với các nền văn hóa khác tạo nên nét tránh sự trừng phạt họ còn cầu mong sự bình an,
đặc trưng cho văn hóa bản địa. Ma ha Cẩn Thành suôn sẻ trong việc đánh bắt, giao thương. Tín
Hoàng Đại Vương là tín ngưỡng người Việt miền ngưỡng này còn đi đôi với Lễ Tống Phong, tức là
Trung tiếp nhận được của người Chăm, rồi khi “di bỏ mọi xui xẻo lên trên một chiếc bè chuối hoặc
102
An Giang University Journal of Science – 2017, Vol. 16 (4), 97 – 105
thuyền giấy, đẩy ra biển. Ngoài gạo, muối, gà, hiện trong biển Nam, từ sông Gianh vào đến Hà
vịt,… họ còn cắt những hình nhân chèo thuyền và Tiên.
quần áo giấy để gửi cho Cô Hồn, Cô Bác. Về nguồn gốc của tín ngưỡng này, có nhiều tài
Việc thờ tự và sùng bái các vị thần cộng đồng của liệu cho rằng xuất phát từ văn hóa Chăm. Người
cư dân biển vùng Tây Nam Bộ là hình ảnh kết Chăm kể rằng:
tinh của sự tiếp biến, giao thoa văn hóa. Chính Cá Voi vốn là hóa thân của vị thần biển tên là Cha
những điều này đã tạo nên một nét đặc trưng trong – Ail – Va, vì nôn nóng trở về xứ sở sau một thời
văn hóa sùng bái biển và góp phần ghi dấu lịch sử gian khổ luyện pháp thuật nên vị thần này đã cãi
của một vùng đất. Niềm tin vào sự che chở của lời thầy, tự ý biến thành cá Voi ra sông lớn mà đi.
các vị thần linh không phải là mê tín, đó đơn Sau đó bị thầy trừng phạt. Cha – Ail – Va bị các
thuần chỉ là tạo cho con người một chỗ dựa tinh loài thủy tộc ở biển Đông hành hình, bị hóa thành
thần để có thể chuyên tâm hơn vào công việc đánh Thiên Nga, sau cùng trở lại hình người. Cha – Ail
bắt, giao thương. – Va đổi tên tự xưng là Pô – ki – i – ăk (tức là
2.2 Tín ngưỡng thờ cúng nhiên thần (linh thần sóng biển). Từ đó trở đi, vị thần này là ân
vật). nhân của những người đi biển bị đắm thuyền. Mỗi
Đối với cư dân biển, nhiên thần (linh vật) được khi ghe nạn nhân kêu cứu thì vị thần này hóa
thờ cúng phổ biến nhất là cá Ông. “Tục thờ cá thành cá Voi tới cứu thuyền bè và người bị nạn
Ông là một tín ngưỡng dân gian khá phổ biến của (Lê Văn Kỳ, 2015, tr. 224).
ngư dân ven biển nước ta, từ Thanh Hóa vào đến Cũng có một truyền thuyết khác được Toan Ánh
tận Kiên Giang” (Nguyễn Thanh Lợi, 2015, tr. ghi lại trong Nếp cũ Hội hè đình đám rằng: “Tục
20). Có nhiều cách mô tả về cá Ông hay cá Voi truyền cá voi là tiền thân của Đức Quan Thế Âm
như: Bồ Tát đã có lần hóa thân để cứu khổ chúng sinh.
“Cá Voi có tục danh là cá Ông Voi, đầu tròn, nơi Ngài đã hóa thân thành Ông Nam Hải đi tuần du
trán có lỗ phun nước ra, sắc đen trơn láng, không biển Nam Hải” và “những người dân sống về biển
có vảy, đuôi có hai chĩa như đuôi tôm, có tánh từ cả đều cầu nguyện đến cá voi mỗi lần gặp nạn”
thiện, hay giải cứu cho người khi qua biển mắc (Toan Ánh, 1993, tr. 131 - 133).
nạn. Đầu niên hiệu Minh Mạng, vua đặt tên là Tuy nhiên, truyền thuyết được nhiều nhà nghiên
Nhân Ngư, đầu niên hiệu Tự Đức đổi lại Đức cứu và ngư dân cho là đáng tin cậy hơn cả là tín
Ngư. Loại cá này ở trong Nam Hải thì linh, còn ở ngưỡng thờ cá Ông đã được người Việt miền
biển khác thì không linh” (Quốc sử quán triều Trung tiếp thu từ người Chăm. Trong quá trình
Nguyễn, bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, 1962, Nam tiến, tín ngưỡng này trở thành một tín
tr. 111). ngưỡng truyền thống của cư dân biển Tây Nam
Hay trong Thoái thực ký văn miêu tả: Bộ. Hằng năm, vào tháng 2 – tháng 3 (lịch Chăm),
ở các làng Chăm Bà – la - môn và Hồi giáo người
“Hải thu tục gọi là cá Ông Voi, mình dài không
ta vẫn tổ chức lễ hội để ghi nhớ công đức và sự hi
vảy, đuôi giống tôm, kỳ nó rất sắc, mũi ở trên
sinh cứu độ của cá Ông. Đối với các tỉnh ven biển
trán, tính có nhân hay cứu người. Người đi thuyền
Tây Nam Bộ, ngày cúng cá Ông thường là ngày
gặp phong ba mà đắm, nó thường đội trên lưng
ông lụy (chết và được phát hiện) đầu tiên. Một số
đưa vào gần bờ, vẩy đuôi bỏ lên. Người miệt biển
lăng miếu có thay đổi ngày cúng vì những lý do
rất kính (Nguyễn Thanh Lợi, 2015, tr. 14).
khác nhau. Lăng Ông Vàm Láng (Gò Công Đông,
Tuy có nhiều tài liệu viết về cá Ông (cá Voi) khác Tiền Giang): ngày 10/3 âm lịch, Giang Nam đàn
nhau, nhưng tựu chung lại đều nói về tính linh hay (Cần Đước, Long An): ngày 23/4 âm lịch, An
cứu người của cá. Loài cá này thường chỉ xuất Thủy (Ba Tri, Bến Tre): ngày 10 - 17/01 âm lịch,
103