Luận văn tiep can va day hoc truyen ngan viet nam hien dai trong chuong trinh ngu van 11 theo dac trung the loai o truong thpt chuyen nguyen thien thanh

  • 24 trang
  • file .pdf
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
BÙI THU HIỀN
TIẾP CẬN VÀ DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN 11 THEO ĐẶC TRƯNG
THỂ LOẠI Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN
NGUYỄN THIỆN THÀNH
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN ĐĂNG XUYỀN
TRÀ VINH, NĂM 2015
TÓM TẮT
Dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay là vấn đề đang được quan tâm.
Đặc biệt là dạy học TNVNHĐ, bởi vì nó chiếm một vị trí, vai trò quan trọng trong
chương trình THPT. Cho nên, bên cạnh việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực thì
người giáo viên phải đặc biệt chú ý về đặc trưng loại thể của tác phẩm để tiếp cận
và tìm hiểu thì mới phát huy được hiệu quả của việc dạy và học môn Văn trong nhà
trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Văn.
Vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài Tiếp cận và dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện
đại trong chương trình Ngữ văn 11 theo đặc trưng thể loại ở trường THPT Chuyên
Nguyễn Thiện Thành làm đối tượng nghiên cứu của mình. Với đề tài này, chúng tôi
sẽ tiến hành thực hiện trong 3 chương. Ở chương 1, chúng tôi sẽ tập trung trình bày
những vấn đề cốt lõi liên quan đến đề tài như: Quan niệm chung về truyện ngắn,
quan điểm dạy học TPVC theo đặc trưng loại thể, dạy học tác phẩm TNHĐ theo đặc
trưng loại thể. Bên cạnh đó, do đề tài nghiên cứu liên quan đến truyện ngắn, nên
chúng tôi cũng đặc biệt đề cập đến những vấn đề trọng tâm về đặc điểm chung của
truyện ngắn như: dung lượng, kết cấu, cốt truyện, chi tiết nghệ thuật, tình huống
truyện, nhân vật, ngôn ngữ… Ngoài ra, người viết tiến hành thống kê các thể loại
đưa vào chương trình Ngữ văn ở bậc THPT (khối 11 và khối 12), đặc biệt là thống
kê TNVNHĐ. Qua việc thống kê, chúng tôi nhận thấy rằng TNVNHĐ chiếm một số
lượng lớn trong toàn bộ chương trình Ngữ văn ở bậc THPT.
Chương 2, người viết đã cố gắng xây dựng những mô hình cụ thể để dạy học
TNVNHĐ trong chương trình Ngữ văn lớp 11 theo đặc trưng thể loại. Cụ thể là
trong quá trình tiếp cận và dạy học TNVNHĐ trong chương trình Ngữ văn 11 theo
đặc trưng thể loại ở trường THPT Chuyên Nguyễn Thiện Thành, người viết tập
trung tiếp cận những phương diện tiêu biểu nhất để làm nổi bật đặc trưng cơ bản
của thể loại truyện ngắn xoay quanh 3 tác phẩm: Hai đứa trẻ (Thạch Lam); Chữ
người tử tù (Nguyễn Tuân) và Chí Phèo (Nam Cao) như tiếp cận: cốt truyện và kết
- iii -
cấu; tình huống truyện; chi tiết nghệ thuật; nghệ thuật trần thuật; nhân vật và nghệ
thuật xây dựng nhân vật.
Để kiểm chứng hiệu quả những nội dung đã đề ra ở 2 chương trước, chúng tôi
tiến hành dạy học thực nghiệm ở chương 3. Ở chương này, chúng tôi sẽ nêu cụ thể
về mục tiêu thực nghiệm, yêu cầu thực nghiệm, đối tượng thực nghiệm, nội dung
thực nghiệm, thời gian thực nghiệm, địa điểm thực nghiệm, số tiết thực nghiệm,
thiết kế giáo án thực nghiệm và dạy học thực nghiệm. Sau khi thực nghiệm, chúng
tôi thu thập và phân tích, đánh giá làm rõ kết quả thực nghiệm.
Với những kết quả khả quan sau quá trình dạy học thực nghiệm, chúng tôi nghĩ
rằng đối với người GV, việc dạy học Văn theo đặc trưng loại thể đúng với bản chất
của đối tượng là một việc làm thiết thực và có ý nghĩa, nó giúp cho người GV tiếp
cận, phân tích và giảng dạy có hiệu quả hơn. Đặc biệt là trong dạy học truyện ngắn,
người GV phải tự trang bị cho mình những tri thức cần thiết về loại thể để dùng vào
việc phân tích tác phẩm, hiểu và cảm tác phẩm. Còn đối với HS, việc nắm được
những mô hình về truyện ngắn sẽ giúp các em hình thành các kỹ năng đọc
TNVNHĐ. Đặc biệt là có ý thức đọc TPVC theo đặc trưng loại thể. Như vậy, vấn
đề dạy học TPVC từ góc độ loại thể là một trong những cách thức tiếp cận, giải mã
văn bản phù hợp và hiệu quả nhất, nó phù hợp với nguyên lí đổi mới giáo dục và
nhất là đổi mới SGK giai đoạn sau 2015.
Tóm lại, vấn đề tiếp cận và dạy học TNVNHĐ theo đặc trưng loại thể là một
vấn đề quan trọng, là “mấu chốt” và cũng là “chìa khoá” để thâm nhập vào tác
phẩm. Vì thế, muốn nâng cao chất lượng dạy và học Văn ở trường phổ thông hiện
nay, mỗi người GV cần phải có những kiến thức về đặc trưng loại thể để tiếp nhận
tác phẩm. Đó là cái gốc để vận dụng phương pháp giảng dạy tác phẩm văn học theo
loại thể được sáng tạo và thành công. Cho nên, để dạy học TNVNHĐ đạt hiệu quả
thì GV phải nắm được đặc trưng loại thể, đồng thời sử dụng các PPDH phát huy
tính tích cực của HS một cách linh hoạt, sáng tạo thì chắc chắn hiệu quả dạy học sẽ
được nâng lên.
- iv -
M ỤC L ỤC
Trang
Trang tựa
Quyết định giao đề tài
Lời cam đoan………………………………………...................................................i
Lời cám ơn ………………………………………………………………………….ii
Tóm tắt……………………………………………………………………………...iii
Mục lục……………………………………………………………………………...v
Các chữ viết tắt trong luận văn………………………………………………………….. ix
Danh sách các bảng .............................................................................................. …x
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài .....................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................4
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................13
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................13
5. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................13
6. Những đóng góp của luận văn .............................................................................15
7. Bố cục của luận văn. ............................................................................................15
PHẦN NỘI DUNG .................................................................................................16
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN. .................................................16
1.1. Khái quát chung về truyện ngắn .......................................................................16
1.1.1. Quan niệm chung về truyện ngắn ............................................................16
1.1.2. Quan điểm dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
truyện ngắn. .............................................................................................18
1.1.2.1. Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng loại thể ................18
-v-
1.1.2.2. Dạy học tác phẩm truyện ngắn hiện đại theo đặc trưng loại thể ..21
1.1.3. Đặc điểm chung của truyện ngắn ............................................................23
1.1.3.1. Dung lượng của truyện ngắn ........................................................23
1.1.3.2. Kết cấu của truyện ngắn ...............................................................25
1.1.3.3. Cốt truyện của truyện ngắn ..........................................................27
1.1.3.4. Chi tiết của truyện ngắn ...............................................................28
1.1.3.5. Tình huống truyện ........................................................................29
1.1.3.6. Nhân vật của truyện ngắn .....................................................…....31
1.1.3.7. Ngôn ngữ của truyện ngắn ...........................................................32
1.2. Truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn Trung học
phổ thông (THPT) .......................................................................................... 33
1.2.1.Thống kê các truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình
Ngữ văn 11.............................................................................................. 34
1.2.2.Thống kê các truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình
Ngữ văn 12.............................................................................................. 36
Chương 2: TIẾP CẬN TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI.......39
2.1. Tiếp cận cốt truyện, kết cấu ...............................................................................39
2.1.1. Tiếp cận cốt truyện ...................................................................................39
2.1.2. Tiếp cận kết cấu .......................................................................................44
2.2. Tiếp cận tình huống truyện ................................................................................51
2.3. Tiếp cận chi tiết nghệ thuật ................................................................................53
2.4. Tiếp cận nghệ thuật trần thuật ............................................................................59
2.5. Tiếp cận nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật. .........................................65
- vi -
Chương 3: THỰC NGHIỆM DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 THEO
ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN
NGUYỄN THIỆN THÀNH ................................................................75
3.1. Mục đích và yêu cầu thực nghiệm .....................................................................75
3.1.1. Mục đích thực nghiệm .............................................................................75
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm ...............................................................................75
3.2. Đối tượng và nội dung thực nghiệm ..................................................................76
3.2.1. Đối tượng thực nghiệm ............................................................................76
3.2.2. Nội dung thực nghiệm..............................................................................77
3.3. Tổ chức thực nghiệm..........................................................................................77
3.3.1. Thời gian, số tiết thực nghiệm .................................................................77
3.3.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm ...................................................................78
3.3.2.1. Phiếu học tập ................................................................................78
3.3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm .......................................................78
3.4. Kết quả thực nghiệm .......................................................................................107
3.4.1. Phát phiếu thăm dò .................................................................................107
3.4.1.1. Phiếu thăm dò học sinh…………………………………....... 108
3.4.1.2. Phiếu thăm dò giáo viên………………………………………108
3.4.2. Kết quả thu được từ phiếu thăm dò ........................................................108
3.4.2.1. Kết quả thăm dò từ phía học sinh ...............................................108
3.4.2.2. Kết quả thăm dò từ phía giáo viên .............................................109
3.5. Nhận xét, đánh giá kết quả thực nghiệm .........................................................111
3.5.1. Phiếu kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh .......................................111
- vii -
3.5.2. Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm ...............................................111
3.5.2.1. Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm mức độ hiểu bài
của học sinh .............................................................................111
3.5.2.2. Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm về việc thiết kế
giáo án .....................................................................................112
3.5.2.3. Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm về thái độ học
tập của học sinh .......................................................................113
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................115
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................117
PHỤ LỤC………………………………………………………………………...120
Phụ lục 1……………………………………………………………………..120
Phụ lục 2……………………………………………………………………..131
Phụ lục 3…………………………………………………………………….149
Phụ lục 4……………………………………………………………………..151
Phụ lục 5……………………………………………………………………..156
Phụ lục 6……………………………………………………………………..158
- viii -
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
HS Học sinh
GV Giáo viên
VN Việt Nam
TP Tác phẩm
XH Xã hội
SGK Sách giáo khoa
SGV Sách giáo viên
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
PPCT Phân phối chương trình
NXB Nhà xuất bản
TPVH Tác phẩm văn học
TPVC Tác phẩm văn chương
PPDH Phương pháp dạy học
THPT Trung học phổ thông
VHHĐ Văn học hiện đại
VBVH Văn bản văn học
TNVNHĐ Truyện ngắn Việt Nam hiện đại
- ix -
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Thống kê các thể loại được đưa vào giảng dạy Ngữ văn 34
lớp 11 (Ban cơ bản)
Bảng 1.2 Thống kê các truyện ngắn Việt Nam hiện đại được đưa 34
vào chương trình giảng dạy ở môn Ngữ văn lớp 11 (Ban
cơ bản)
Bảng 1.3 Thống kê các thể loại được đưa vào giảng dạy Ngữ văn 35
lớp 11 (Ban nâng cao)
Bảng 1.4 Thống kê các thể loại được đưa vào giảng dạy Ngữ văn 36
lớp 12( Ban cơ bản)
Bảng 1.5 Thống kê các thể loại được đưa vào giảng dạy Ngữ văn 37
lớp 12 (Ban nâng cao)
Bảng 3.1 Thống kê kết quả thăm dò học sinh 108
Bảng 3.2 Thống kê kết quả thăm dò giáo viên 109
Bảng 3.3 Thống kê mức độ hiểu bài của học sinh 112
-x-
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Trong những năm gần đây, chất lượng giáo dục môn Ngữ văn ở trường
THPT ngày càng xuống thấp. Điều này được thấy rõ qua các kì thi chung của cả
nước như thi Tốt nghiệp THPT hay các kì thi tuyển sinh vào Cao đẳng - Đại học mà
trên đài hay báo chí đã đưa tin … Tỉ lệ kết quả các bài thi có điểm kém khá cao, khi
đọc ta không biết nên cười hay nên khóc, những bài văn đó thường mắc các lỗi như
chính tả, ngữ pháp, thậm chí nhầm lẫn kiến thức từ tác phẩm này với tác phẩm
khác… Qua kết quả đó cho thấy một điều là học sinh ngày nay không còn hứng thú
với việc học văn với nhiều lí do khác nhau, mà biểu hiện rõ thấy nhất đó là học sinh
không chú ý, thiếu tập trung vào giờ học, tiết học chưa thật sự sinh động, sôi nổi.
Biểu hiện cụ thể thường gặp là các em mệt mỏi, uể oải, ngao ngán hay đem bài môn
học khác ra làm, hay nói chuyện riêng trong lớp, thậm chí là ngủ gục trong giờ học.
Đối với các em, học văn trở thành một công việc nặng nề, ít hấp dẫn…Vậy, nguyên
nhân là do đâu? Có rất nhiều nguyên nhân. Đó có thể do xu hướng chọn nghề của
các em hiện nay, các em không chỉ chọn nghề theo sở thích của bản thân mà còn do
nhu cầu của xã hội, hay do ý thức chủ quan các em không thấy được tầm quan trọng
của môn Ngữ văn trong cuộc sống .
Tuy nhiên, chất lượng học văn trong nhà trường lại sa sút nghiêm trọng như
thế không phải chỉ do phía người học mà còn là trách nhiệm của những người làm
công tác giáo dục, của người trực tiếp đứng lớp. Bởi vì giảng dạy văn học là giảng
dạy một bộ môn văn hóa. Nó vừa có tính chất khoa học, vừa mang tính nghệ thuật,
thông qua đó học sinh sẽ học được cách làm người, học cách rung động trước cái
hay, cái đẹp, cái cao cả của cuộc đời, học cách phẫn nộ trước cái xấu, cái ác. “Nói
đến tính chất của môn Văn của văn học nhà trường là nói đến yêu cầu về nội dung
giáo dục nhận thức học sinh. Dạy văn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những
hiểu biết về thế giới bên ngoài, về xã hội và con người” [41, tr.481] . Vì thế thông
qua dạy văn, người giáo viên sẽ giáo dục lòng nhân văn cho học sinh. Cho nên vấn
đề đặt ra trong dạy học hiện nay là người giáo viên phải nhận thức đúng đắn về bản
-1-
chất, chức năng của môn học nghệ thuật này. Bên cạnh đó Nghị quyết số 29 -
NQ/TW, Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo để đáp ứng theo yêu cầu của xã hội, một
trong những đổi mới đó là đổi mới về phương pháp dạy học. Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi
dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và
ý chí vươn lên. Chính vì vậy, người giáo viên cần phải có những phương pháp dạy
học thích hợp, phương pháp đó phải luôn đổi mới, tìm tòi sáng tạo để bắt kịp với
khoa học hiện đại. Đặc biệt là tầm quan trọng của những kiến thức về đặc trưng loại
thể của tác phẩm văn chương để tìm hiểu, tiếp cận, tránh được tình trạng áp đặt, suy
diễn một cách máy móc khô cứng khi phân tích tác phẩm.
1.2. Muốn phát triển năng lực của người học cần phải có hướng tiếp cận đúng
theo đặc trưng thể loại thì mới phát huy được hiệu quả của việc dạy và học môn văn
trong nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn. Vì thế, việc tìm hiểu
đặc trưng của các thể loại văn học là vô cùng quan trọng “việc làm rõ loại thể của
tác phẩm là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trước khi bước vào nghiên cứu tác
phẩm cụ thể. Trong sự tương tác giữa thể và loại thì chất của loại vẫn là yếu tố khó
nắm bắt nhất. Mà phải nắm bắt được thì hiệu quả của các khâu tiếp theo mới có thể
đi đến đích một cách đúng đắn” [1, tr.83].
Chính vì lẽ đó mà khi tiếp cận và giảng dạy các tác phẩm văn chương, đòi hỏi
người giáo viên phải có hướng tiếp cận, định hướng đúng đắn về loại thể, điều đó sẽ
giúp cho người giáo viên cảm thụ các tác phẩm được sâu sắc hơn, toàn diện hơn,
giảng dạy có kết quả hơn. Đúng như Trần Thanh Đạm khẳng định:“đối với các giáo
viên văn học chúng ta, tìm hiểu sự phân chia loại thể văn học là nhằm mục đích
trang bị cho mình những tri thức cần thiết để dùng vào việc phân tích tác phẩm, từ
đó làm cho việc hiểu và cảm, dạy và học tác phẩm có kết quả hơn” [2, tr.7]. Bởi vì
nói đến tác phẩm văn học là nói đến tính chỉnh thể, sự thống nhất giữa nội dung và
hình thức của nó và mỗi văn bản tồn tại ở một loại hình nhất định, nên mỗi giờ dạy
sẽ có những phương pháp, hoạt động riêng biệt, phù hợp cho từng thể loại thì giờ
-2-
dạy mới thành công. “Có giờ dạy tác phẩm văn mà giáo viên không hề quan tâm gì
đến đặc trưng thể loại. Dạy học truyện cổ tích mà lại máy móc cho học sinh đọc
diễn cảm, phân tích tâm trạng nhân vật; dạy một bài thơ trữ tình mà giáo viên lại đi
vào sự kiện, cốt truyện” [41, tr.598].
1.3 Trong chương trình THPT, Văn học nhìn chung rất phong phú, đa dạng về
các thể loại. Trong đó, tác phẩm truyện ngắn chiếm một vị trí và vai trò quan trọng.
Chính vì thế nên việc lựa chọn phương pháp, biện pháp phù hợp vào việc tiếp cận
và giảng dạy truyện ngắn là vấn đề đang được quan tâm hiện nay.
Ở chương trình Ngữ văn 11 (Ban cơ bản) được đưa vào giảng dạy, nhìn chung
truyện ngắn Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 – 1945 chiếm phần lớn tác phẩm và
số tiết qui định trong nền văn học Việt Nam, những tác phẩm đó đã làm nên tên tuổi
của các tác giả như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nam Cao, …Nhưng để tiếp cận và
giảng dạy hiệu quả thể loại này là điều không dễ dàng gì. Bởi vì trên thực tế, không
ít giáo viên khi giảng dạy chỉ tìm kiếm ở nội dung tư tưởng một cách chung chung
mà không chú trọng đến hình thức nghệ thuật và ngược lại. Vì thế việc vận dụng thể
loại vào dạy học văn vẫn chưa đạt được hiệu quả.
Xuất phát từ thực tiễn dạy học văn ở trường phổ thông, vấn đề dạy học tác
phẩm văn chương theo đặc trưng loại thể chưa được chú ý đúng mức, không phải
giáo viên nào cũng nắm vững kiến thức về loại thể. Vả lại các công trình nghiên cứu
về tác phẩm văn học thì rộng lớn, mang tính bao quát, chưa nghiên cứu một cách
tường tận, cụ thể về việc tiếp cận và dạy học một tác phẩm văn chương theo đặc
trưng loại thể, điều này dẫn đến việc khó khăn cho giáo viên khi soạn giáo án cũng
như khi dạy học. Vì thế, muốn nâng cao chất lượng dạy và học của môn văn, đòi hỏi
người giáo viên phải có những phương pháp tiếp cận phù hợp với đặc trưng của
môn học, của từng thể loại. “Nhà văn sáng tác theo loại thể thì người đọc cũng cảm
thụ theo loại thể và người dạy cũng giảng dạy theo loại thể” [2, tr.26]. Cho nên,
vấn đề về loại thể phải được đặt lên hàng đầu, nó là tiêu chí đầu tiên và quan trọng
không thể thiếu khi tiếp cận và dạy học tác phẩm văn chương.
-3-
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Tiếp cận và dạy học truyện ngắn
Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 11 theo đặc trưng thể loại ở trường
THPT Chuyên Nguyễn Thiện Thành làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn của
mình. Tôi hi vọng rằng đề tài này sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và
học văn ở trường THPT Chuyên Nguyễn Thiện Thành nói riêng và các trường
THPT hiện nay nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều công trình
của các nhà nghiên cứu liên quan đến đề tài này. Sau đây, chúng tôi xin điểm qua
một số công trình nghiên cứu, những bài viết, những tác giả có liên quan đến
phương pháp dạy học văn theo đặc trưng loại thể, vấn đề về thể loại truyện, về
truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 và dạy học TNVNHĐ trong chương
trình Ngữ văn 11.
2.1 Lịch sử nghiên cứu dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng loại thể:
Có nhiều tác giả nghiên cứu như: Trần Thanh Đạm, Phan Trọng Luận, Nguyễn Thái
Hoà, Nguyễn Viết Chữ,Trần Đăng Suyền, Nguyễn Thị Dư Khánh, Đỗ Đức Hiểu…
Trong công trình nghiên cứu về Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại
thể, tác giả Trần Thanh Đạm đã chỉ ra vai trò của loại thể văn học khi giảng dạy tác
phẩm văn học: “Giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể chính là một phương
diện lớn của việc giảng dạy các tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữa hình
thức với nội dung, một sự giảng dạy đi đúng với qui luật và bản chất của văn học,
đồng thời bảo đảm hiệu quả giáo dục cao nhất” [2, tr.38] . Theo ông thì việc cảm
thụ và dạy học tác phẩm văn chương phải đặc biệt chú ý đến hai mặt thống nhất
giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm, không được coi nhẹ
bên nào, nếu như tìm ra được đúng bản chất của loại thì mới đạt được kết quả cao.
Cũng trong quyển sách này, khi trình bày một số kiến thức cơ bản về phương pháp
giảng dạy truyện xuất phát từ đặc trưng thể loại, ông đặc biệt chú trọng đến ba yêu
cầu sau: Yêu cầu thứ nhất là “Làm cho học sinh nắm vững được sự phát triển của
tình tiết trong tác phẩm tức là nắm cốt truyện” [2, tr.149]; yêu cầu thứ hai là “Làm
-4-
cho học sinh cảm thụ được sâu sắc, đánh giá được đúng đắn nhân vật trong tác
phẩm” [2, tr.154]; yêu cầu thứ ba “Làm cho học sinh cảm và hiểu được cái ý vị
trong lời kể của các tác giả (hay của người kể chuyện)” [2, tr.163].
Trong tuyển tập của Phan Trọng Luận, khi nghiên cứu Tiếp cận đồng bộ tác
phẩm văn chương trong nhà trường. Tác giả đưa ra nhiều phương pháp, quan điểm
để tiếp cận tác phẩm văn chương. Nhà nghiên cứu khẳng định: “Một trong những
con đường đi vào tác phẩm văn chương là nhận diện được loại thể. Đến với thơ
không giống với tự sự hay kịch. Đến với văn học dân gian không hoàn toàn giống
với văn học viết. Văn học trung đại và hiện đại có những đặc trưng thủ pháp riêng.
Với văn học dịch cũng cần có những cách tiếp cận riêng” [41, tr.592]. Theo tác giả,
điều đầu tiên khi tiếp cận tác phẩm văn chương là phải nhận diện được loại thể,
cùng là tác phẩm văn chương nhưng không phải cách tiếp cận nào cũng giống nhau
và ông cũng cho rằng do chưa phân biệt đầy đủ đặc trưng thi pháp của loại thể nên
việc cắt nghĩa tác phẩm văn chương ở nhà trường vẫn còn hạn chế, chưa phát huy
được hiệu quả. Khi nói về Đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương,
ông cho rằng cần phải thay đổi phương pháp dạy học cũ trước đây thay vào đó là
đổi mới phương pháp theo hướng “tích cực hoá”trong tiếp cận và tiếp nhận tác
phẩm ở người học, phát huy tính chủ thể của học sinh. Vì thế, dạy học bám sát theo
đặc trưng thi pháp loại thể cũng là một trong những yêu cầu của đổi mới phương
pháp dạy học trong nhà trường hiện nay, nên khi dạy học tác phẩm văn chương phải
đặc biệt chú ý đến thể loại, không nên xa rời thể loại.
Trong cuốn Những vấn đề thi pháp của truyện của Nguyễn Thái Hoà, tác giả
đã khảo sát bằng cách miêu tả các khái niệm cơ sở của Thi pháp học thể loại truyện
ở góc nhìn ngôn ngữ học. Trong quyển sách này, ông đã đi tìm những đặc trưng cơ
bản của thi pháp truyện như: Chuyện của con người và con người trong truyện; Lời
kể và lời thoại trong truyện; Không gian như một nhân tố nghệ thuật của truyện;
Thời gian như một nhân tố cấu trúc nghệ thuật của truyện….
Quyển Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể), tác giả
Nguyễn Viết Chữ đã điểm lại một số công trình nghiên cứu văn học và các nhà
-5-
phương pháp dạy học văn tiêu biểu trong và ngoài nước, cuối cùng ông chỉ ra điểm
gặp gỡ giữa họ là cần phải xác định rõ “loại”trong “thể”của tác phẩm cụ thể khi ta
tiến hành nghiên cứu hay trong dạy học văn, do đó việc xác định “chất của loại”
trong thể rất cần chính xác. Bên cạnh đó, việc xác định loại thể là vấn đề mấu chốt
trong quá trình phát triển khoa học phương pháp dạy học tác phẩm văn chương.
“Xa rời bản chất loại thể của tác phẩm, thực chất là xa rời tác phẩm cả về linh hồn
và thể xác” [1, tr. 99].
Trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp của Nguyễn Thị
Dư Khánh, tác giả cũng cho rằng giữa nội dung và hình thức phải có sự kết hợp với
nhau, không thể tách rời nhau. Và khi nghiên cứu về loại thể, tác giả chỉ ra người ta
có thể đứng ở những bình diện, mục đích, quan điểm khác nhau… nhưng mọi sự
phân chia chỉ có ý nghĩa tương đối, không nên tách bạch một cách rõ ràng, cụ thể vì
chúng có sự thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau: “Ranh giới giữa loại và thể cũng
chẳng phải là rạch ròi. Thường giữa chúng vẫn có những vùng“giao thoa”, xen kẽ,
lồng trong nhau” [36, tr.17]. Vì vậy, khi phân tích tác phẩm văn học ta không nên
đi tìm biên giới thật dứt khoát giữa các thể loại.
Đổi mới phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu, đây là một công trình nghiên cứu
về Một số vấn đề thi pháp học. Ở quyển này, tác giả giới thiệu bốn vấn đề Thi pháp
học mang tính lí thuyết. Bốn vấn đề trọng tâm mà ông đề cập đến đó là: Vấn đề thứ
nhất là Thi pháp là gì? Vấn đề thứ hai là Thi pháp Thơ, vấn đề thứ ba là Thi pháp
Tiểu thuyết, vấn đề thứ tư là Phê bình phong cách học.
Ngoài ra, Bộ giáo trình Lí luận văn học do Trần Đình Sử (chủ biên) (tập 2) là
công trình nghiên cứu của các tác giả có tên tuổi. Cuốn sách này đã đưa ra rất nhiều
ý kiến bao quát một cách đầy đủ về thể loại tác phẩm văn học từ: Khái niệm thể loại
văn học, sự phân loại văn học và phân chia thể loại tác phẩm văn học; các đặc trưng
thể loại của: Thơ ca, truyện và tiểu thuyết, văn học kịch, các loại hình kí văn học,
tác phẩm chính luận, một số thể loại văn học trung đại…
Bên cạnh đó, trong chuyên luận Phương pháp nghiên cứu và phân tích tác
phẩm văn học, tác giả Trần Đăng Suyền đã dành cả một chương (IV), tổng cộng 60
-6-
trang để nghiên cứu về vấn đề Tiếp cận và phân tích văn học theo đặc trưng thể
loại. Mở đầu chương ông đặc biệt nhấn mạnh khi phân tích tác phẩm văn học cần
phải chú ý đến đặc trưng thể loại, gắn tác phẩm vào một thể loại nhất định, ông cho
rằng mỗi tác phẩm có một thể loại riêng tùy thuộc tác phẩm thuộc thể loại nào mà
có huớng tiếp cận cho phù hợp:“Phân tích tác phẩm văn học phải gắn với đặc trưng
thể loại” [55, tr.101], và ông khẳng định: “Mỗi tác phẩm thường thuộc một thể loại
nhất định” [55, tr.101] và nó được tái sinh, đổi mới trong từng giai đoạn mới của sự
phát triển văn học, từng tác phẩm và thể loại nó có đời sống riêng. Vì thế, khi ý thức
được thể loại sẽ giúp cho người nghiên cứu đi đúng hướng. “Ý thức về thể loại giúp
người nghiên cứu định hướng đúng mục tiêu chính của việc phân tích tác phẩm văn
học. Tùy thuộc vào loại thể, thể tài của đối tượng phân tích mà tìm cách tiếp cận
cho thích hợp” [55, tr.103]. Cũng ở chương này tác giả tập trung chú ý xoáy sâu
vào cách tiếp cận và phân tích tác phẩm Thơ, Tự sự, Kịch (đây là ba thể loại tiêu
biểu nhất). Bởi vì theo nhà nghiên cứu, tiếp cận và phân tích tác phẩm trữ tình
không giống như cách tiếp cận và phân tích tác phẩm tự sự và càng không giống
cách tiếp cận và phân tích tác phẩm kịch.
Trong sách giáo viên Ngữ văn 11 (tập I) của nhiều tác giả do Phan Trọng
Luận (tổng chủ biên) đã đưa ra các ý kiến, quan niệm khác nhau khi phân loại
“Nguyễn Lương Ngọc nói đến bốn loại lớn: thơ, tiểu thuyết, kịch và một số loại văn
xuôi khác; Hà Minh Đức gọi tên các loại: thơ trữ tình, các thể kí văn học, tiểu
thuyết, kịch…Còn Lê Ngọc Trà cho rằng có ba loại: truyện, thơ và kịch…” [14,
tr.149] và các nhà nghiên cứu cũng cho rằng văn học có ba loại lớn: tự sự, trữ tình
và kịch và mối quan hệ giữa loại và thể trong văn học. Bên cạnh loại và thể thì ở
quyển sách này, các nhà nghiên cứu cũng tập trung làm rõ đặc trưng khái quát của
một số thể loại văn học tiêu biểu như: thơ, truyện.
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, chúng ta nhận thấy các nhà nghiên cứu,
giảng dạy văn học đôi lúc có những quan điểm, ý kiến chưa được thống nhất về loại
và thể trong tác phẩm văn học. Nhưng giữa họ cũng có điểm gặp gỡ nhau đều xác
định loại và thể là “mấu chốt”, là “chìa khoá” để tiếp cận và giảng dạy tác phẩm
-7-
văn chương. Nhưng từ thực tế đó, chúng ta lại thấy rằng chưa có một tài liệu nào
phân tích, hướng dẫn dạy học một tác phẩm thật cụ thể, đầy đủ về một văn bản
truyện ngắn hiện đại theo đặc trưng thể loại.
2.2. Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn và dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện
đại giai đoạn 1930 – 1945 có nhiều công trình nghiên cứu, các bài phê bình, bình
luận tiêu biểu như: Trần Thanh Đạm, Nguyễn Viết Chữ, Bùi Việt Thắng, Phan Cự
Đệ, Trần Đăng Suyền, …
Trong công trình nghiên cứu Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể,
Trần Thanh Đạm đã giới thiệu một số kiến thức đặc trưng cơ bản về truyện và giảng
dạy truyện. Đối với thể truyện, khi phân tích cấu tạo hình tượng, không thể không
lưu tâm ba yếu tố: tình tiết, nhân vật và lời kể. Đặc biệt, ông nhấn mạnh khi phân
tích và giảng dạy truyện cần “phân tích lời kể của truyện, phân tích phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm. Lời kể của truyện là những sợi tơ dệt nên tình
tiết và nhân vật, dệt nên toàn bộ hình tượng” [2, tr.174].
Quyển Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể) của
Nguyễn Viết Chữ, khi đề cập đến phương pháp dạy học truyện ngắn, tác giả nhấn
mạnh: “Vấn đề cơ bản của truyện ngắn là tình huống của nó […] Với những truyện
ngắn tự sự, biết được thi pháp tác giả có thể theo bước tác giả, theo nhân vật […]
để tìm ra tư tưởng chủ đề. Nhưng lại có những nhà văn đi tới những triết luận bất
ngờ mà sâu sắc kiểu Nam Cao […] , Nguyễn Khải […], ta phải tuỳ từng tác phẩm
cụ thể mà có phương pháp, biện pháp thích hợp” [1, tr.120 - 121].
Cuốn Bình luận truyện ngắn của Bùi Việt Thắng, là một công trình nghiên cứu
về truyện ngắn Việt Nam có qui mô lớn, có giá trị cao về mặt văn học, người viết đã
tổng hợp lại một số nội dung trọng tâm bắt đầu từ quá trình hình thành và phát triển
của truyện ngắn Việt Nam: Truyện ngắn và sự sáng tạo tình huống; Về các cách kết
thúc truyện ngắn; Vai trò của chi tiết trong sáng tạo truyện ngắn; Về một số tác giả
- tác phẩm…. được tìm hiểu, nhận xét thấu đáo. Cũng trong tuyển tập này, tác giả
đã nhận xét một cách sâu sắc về phong cách nhà văn, những quan điểm sáng tác của
họ. Chẳng hạn, khi viết về Thạch Lam – người chắt chiu cái đẹp, ông viết “không
-8-
khí truyện ngắn Thạch Lam ít ngột ngạt và cùng quẫn, trái lại nó tĩnh lặng và thâm
trầm” [56, tr.237] hay “Thạch Lam là người có ý thức chắt chiu và bảo tồn cái đẹp
có giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc” [56, tr.240].
Công trình Truyện ngắn Việt Nam: Lịch sử - Thi pháp - Chân dung do Phan
Cự Đệ làm chủ biên là một tổng kết về mặt lí luận và văn học sử chủ yếu là dùng
phương pháp luận nghiên cứu mác xít, phương pháp văn học so sánh và thi pháp
học. Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện, tiêu biểu những chặng đường
phát triển của truyện ngắn Việt Nam từ thời kì trung đại đến thời kì hiện đại. Đặc
biệt là khi nói đến truyện ngắn Việt Nam hiện đại, tác giả điểm lại một số trọng tâm
cơ bản về truyện ngắn như: Đặc trưng của thể loại truyện ngắn hiện đại; Thi pháp
truyện ngắn hiện đại; Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu…những bài nghiên cứu này
vừa mang tính lí thuyết, vừa mang tính thực hành. Ví dụ như khi đề cập đến đặc
trưng của thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại, ông điểm lại những quan niệm
khác nhau khi định nghĩa về truyện ngắn hiện đại của các nhà văn và nhà lí luận phê
bình trong và ngoài nước để tổng kết thành một định nghĩa có khả năng bao quát về
truyện ngắn vào những năm đầu của thế kỉ XX. Ngoài ra, trong quyển sách này tác
giả còn chỉ ra được những nét riêng về phong cách của các nhà văn cũng như những
quan điểm của họ khi sáng tác truyện ngắn giai đoạn 1930 – 1945 đó là: Nguyễn
Công Hoan ,Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân… Chẳng hạn như khi viết về nhà
văn Nguyễn Tuân, ông cho rằng: “Truyện ngắn Nguyễn Tuân cứ như một cuộc họp
mặt của những kẻ tài hoa tài tử có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”: kẻ tử tù với viên
quản ngục và thầy thơ lại trong Chữ người tử tù” [7, tr.341], hay viết về nhà văn
Thạch Lam “Thạch Lam không phải con người hành động, bởi thế nhân vật của
ông cũng thường thiên về suy nghĩ, nội tâm, mang những đặc điểm phong cách của
ông: tinh tế, đa cảm, giàu lòng yêu thương con người” [7, tr. 508]. Còn Nam Cao
“Nam Cao đã góp phần quan trọng trong quá trình hiện đại hoá truyện ngắn với lối
kết cấu tâm lí, lối kể chuyện từ ngôi thứ nhất với cách thay đổi điểm nhìn của người
trần thuật và sử dụng một thứ ngôn ngữ đa thanh, giàu chất tạo hình” [7, tr.307].
-9-
Khi nghiên cứu chuyên luận về Phương pháp nghiên cứu và phân tích tác
phẩm văn học, tác giả Trần Đăng Suyền lưu ý các vấn đề khi tiếp cận và phân tích
tác phẩm tự sự đó là “tình tiết, cốt truyện, kết cấu, nhân vật và ngôn ngữ nghệ
thuật” [55, tr.123], ngoài ra cần chú ý đến tình huốngtruyện, nghệ thuật trần thuật
và gọng điệu. Bên cạnh đó, ông đưa ra nhiều quan niệm khác nhau của những nhà
nghiên cứu khi định nghĩa về truyện ngắn, các cách phân tích tác phẩm tự sự tiêu
biểu giai đoạn 1930 – 1945 như: Chữ người tử tù, Chí Phèo…
Bên cạnh đó, còn phải kể đến một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học viết về
giai đoạn văn học 1930 - 1945 như: Đỗ Đức Hiểu, Hà Minh Đức, Nguyễn Thanh
Hùng, Trần Đăng Suyền... Các nhà nghiên cứu có cái nhìn nhận, đánh giá dưới
nhiều góc độ khác nhau. Như trong quyển Thi pháp hiện đại của Đỗ Đức Hiểu khi
nhận xét về phố huyện của Thạch Lam trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, tác giả đã
khái quát về phong cách truyện ngắn của Thạch Lam như: “một “phong cách
Thạch Lam” – nhẹ nhàng, buồn hiu hắt, đậm đà hương vị đồng quê, nhiều bóng tối
mà chói sáng mối tình thương yêu hiền hoà, nhân hậu, phảng phất chất thơ toả lên
từ quê hương, đất nước” [30, tr.165] hay “Bao giờ văn phong của ông cũng bình
lặng – bình lặng, thong thả, lắng dần vào tâm hồn người đọc. Câu của ông ngắn
khiêm nhường. Dù diễn tả cái náo nức bên trong, cái sôi động của ước mơ, Thạch
Lam vẫn nhẹ nhàng, tự nén ngòi bút” [30, tr.168], hay Nguyễn Thanh Hùng khi bàn
về Hiểu văn dạy văn, trong việc tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa, bình giá tác phẩm văn
chương trong nhà trường, tác giả nhận xét về nhà văn Nam Cao khi viết về nhân vật
Chí Phèo “Nam Cao không giống với những nhà văn cùng dòng. Ông đã làm một
cuộc chia tay với những nhân vật đương thời đẹp đẽ như những pho tượng không có
sinh lực. Về phương diện này Nam Cao gần với Vũ Trọng Phụng hơn Ngô Tất
Tố...” [33, tr. 200].
Trong lời giới thiệu tuyển tập Nam Cao về tác gia và tác phẩm do Bích Thu
tuyển chọn, tập hợp các bài giới thiệu, phê bình, nghiên cứu, các nhà giảng dạy văn
học… Đây là một quyển sách phong phú và độc đáo về nhiều phương diện của sự
nghiệp Nam Cao. Trong đó có lời nhận xét rất xác đáng của Giáo sư Hà Minh Đức
- 10 -