Luận văn tạp chí khoa học tổng quan pháp luật việt nam về phòng chống ô nhiễm dầu ở các vùng biển

  • 15 trang
  • file .pdf
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238
Tổng quan pháp luật Việt Nam về phòng,
chống ô nhiễm dầu ở các vùng biển
Nguyễn Bá Diến* *
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 24 tháng 12 năm 2008
Tóm tắt. Ô nhiễm biển do dầu và vấn đề phòng, chống ô nhiễm do dầu gây ra ở các vùng biển đã
và đang là vấn đề lý luận và thực tiễn khá bức xúc ở Việt Nam hiện nay. Để góp phần làm sáng tỏ
một số nội dung tổng quan pháp luật Việt Nam về phòng, chống ô nhiễm do dầu gây ra ở các vùng
biển, tác giả bài viết đã phác họa một số nét chính về bức tranh ô nhiễm biển do dầu ở Việt Nam
trong thời gian qua, đồng thời hệ thống hóa và phân tích hệ thống các văn bản pháp luật chung và
văn bản pháp luật chuyên ngành từ Trung ương tới địa phương quy định về phòng, chống ô nhiễm
biển do dầu; từ đó, đưa ra một số đánh giá bước đầu về hệ thống pháp luật về phòng, chống ô
nhiễm dầu của Việt Nam.
Trên cơ sở những nội dung đã phân tích, bài viết cũng đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần
hoàn thiện hệ thống qui phạm pháp luật Việt Nam về phòng ngừa, xử lý và khắc phục ô nhiễm
biển do dầu - trong đó có việc xây dựng một “Nghị định phòng, chống ô nhiễm do dầu” với ý
nghĩa là văn bản pháp luật chuyên biệt và thống nhất về phòng, chống ô nhiễm dầu, đồng thời với
việc xúc tiến để tham gia các điều ước quốc tế quan trọng khác về ô nhiễm dầu và sửa đổi, bổ sung
các văn bản pháp lý có liên quan nhằm đảm bảo sự phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn
chung về ô nhiễm môi trường theo thông lệ quốc tế, có tính đến hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam.
1. Bức tranh về ô nhiễm dầu ở Việt Nam* đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các hoạt động
vận chuyển, thăm dò, khai thác dầu khí trên
Vài năm trở lại đây, Việt Nam trở thành các vùng biển Việt Nam cũng như ở khu vực
quốc gia xuất khẩu dầu thô có vị thế trên Biển Đông đang tăng lên hàng năm. Một
trường quốc tế. Hoạt động dầu khí trên biển trong những tuyến đường hàng hải quốc tế
Đông trở nên nhộn nhịp. Những hoạt động quan trọng nhất thế giới đi qua Biển Đông
dầu khí bao trùm hầu như toàn bộ Biển cùng với hoạt động thăm dò, khai thác dầu
Đông: Vịnh Bắc Bộ, vùng cửa Vịnh Bắc Bộ, khí, hoạt động vận tải, khai thác thuỷ sản…
vùng biển Đông Nam, vùng biển Tây Nam, luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây ô nhiễm
Vịnh Thái Lan và các vùng biển của hai quần môi trường do dầu. Từ năm 1987 đến nay, đã
_______ xảy ra hơn 90 vụ tràn dầu ở Việt Nam, gây ra
*
ĐT: 84-4-35650769. tổn thất lớn về sinh thái và kinh tế xã hội.
E-mail: [email protected]
224
N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238 225
Trong đó, có ba nguyên nhân chính dẫn đến 4 ở Trung Bộ, tháng 5 - 6 ở Bắc Bộ(2). Vùng
sự cố tràn dầu là do va chạm, quá trình bốc biển Trường Sa và tuyến hàng hải quốc tế có
dỡ và đắm tàu. Từ năm 1995 đến năm 2002, hàm lượng dầu trong nước biển thuộc loại
các cơ quan chức năng đã đòi bồi thường 14 cao nhất (đặc biệt vào mùa hè), chỉ sau vịnh
vụ tàu gây sự cố tràn dầu, buộc chủ phương Bắc Bộ(3). Qua ảnh chụp vệ tinh, có thể thấy
tiện bồi thường số tiền 5.501. USD và nhiều vệt dầu trên các tuyến hàng hải dọc hải
886.500.000 đồng Việt Nam. Đây là con số phận Việt Nam. Các tầu chở dầu làm thoát ra
quá nhỏ so với số lượng ô nhiễm dầu xảy ra biển tới 0,7% tải trọng của chúng trong quá
trên các vùng biển Việt Nam và trên Biển trình vận chuyển thông thường. Sóng biển và
Đông trong thời gian qua. Đặc biệt, trong 2 gió đều có chiều hướng đưa lượng dầu thoát
năm 2006 và 2007 tại ven biển các tỉnh miền ra tấp vào bờ biển Việt Nam. Như vậy, ô
Trung và miền Nam đã xảy ra một số sự cố nhiễm từ tàu biển có hoạt động dầu khí là
tràn dầu không rõ nguồn gốc, nhất là từ một trong những nguyên nhân phổ biến nhất
tháng 1/2007 đến tháng 6/2007, có rất nhiều gây ra tình trạng ô nhiễm dầu ở nước ta. Tuy
vệt dầu trôi dạt dọc bờ biển của 20 tỉnh từ nhiên, vận tải và các tai nạn hàng hải đối với
đảo Bạch Long Vĩ xuống tới mũi Cà Mau. tàu chở dầu không phải là nguyên nhân duy
Lượng dầu tràn gây ô nhiễm biển Việt Nam nhất dẫn đến ô nhiễm môi trường. Hiện nay,
đến năm 1992 là 7.380 tấn, năm 1995 là 10.020 các bờ biển Bắc, Trung, Nam xuất hiện các
tấn, và theo mức độ gia tăng của vận tải biển, vết dầu loang không rõ nguồn gốc, và chưa
khai thác dầu khí và công nghiệp hóa, năm xác định được nguyên nhân. Theo phỏng
2000 lên đến 17.650 tấn. Dự báo đến năm đoán của các nhà nghiên cứu và các cơ quan
2010, lượng dầu tràn gây ô nhiễm biển Việt chức năng, “thủ phạm” gây tràn dầu từ biển
Nam có thể lên đến trên 21.000 tấn(1). Đông có thể từ các giàn khoan (có thể là từ
Vịnh Bắc bộ và vùng biển Trung Nam là giàn khoan của Việt Nam hoặc từ giàn khoan
những khu vực trọng điểm về ô nhiễm dầu của các nước lân cận khai thác trong khu vực
tại hải phận Việt Nam. Tại xã Hải Ninh, biển Đông); dầu theo dòng hải lưu và gió
huyện Quảng Ninh, Quảng Bình, hiện tượng mùa tràn vào bờ biển Việt Nam(4). Ngoài ra,
dầu vón cục trên bờ biển đã xuất hiện vào còn có nguyên nhân do các dàn khoan sau
năm 2000 với mức độ còn nhiều hơn hiện khi dỡ bỏ không khai thác, các miệng dầu
nay. Ở bờ biển miền Trung, cứ đến tháng 3 - không được bịt kín, gây thất thoát dầu, làm ô
4 hằng năm lại xuất hiện dầu tràn không rõ nhiễm môi trường.
nguồn gốc nhưng hiện nay là nặng nhất. Xa Phần lớn các thiệt hại không được bồi
hơn nữa là các vụ xuất hiện vào mùa khô thường vì các cơ quan có thẩm quyền và
năm 1994 - 1995 ở bờ biển Bến Tre và Tiền chính quyền địa phương hầu như không có
Giang; 5/1994 tại Đồ Sơn (Hải Phòng) và Hải chuyên môn trong việc đánh giá mức độ thiệt
Hậu (Nam Định); 6/1995 tại Quảng Ninh, Hải hại, thiếu kinh nghiệm trong việc đòi bồi
Phòng và Nam Định, 4/1997 tại Sóc Trăng; thường một cách hiệu quả theo luật quốc tế.
5/1997 tại Khánh Hoà và tháng 6/1997 tại Đà
Nẵng. Trong thời gian 1987 - 1997 có đến 8 _______
vụ tràn dầu, trong đó có 42 vụ không rõ (2)
Khoa học và đời sống. TS. Trần Đức Thạnh, Viện
nguồn gốc và thường xuất hiện vào tháng 3 - Tài nguyên và Môi trường biển.
(3)
Báo cáo đề tài cấp nhà nước KT 03- 21(1991- 1995).
_______ (4)
Tin bài “ Tiếp tục giải mã vụ tràn dầu”, Báo điện
(1)
Số liệu Bộ Tài nguyên và Môi trường thống kê. tử Tuoitreonline.
226 N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238
Hiện nay, có tới 77% sự cố tràn dầu trên hải 2.1. Các văn bản pháp luật chung quy định về
phận Việt Nam chưa được bồi thường hoặc phòng, chống ô nhiễm dầu
đang trong quá trình giải quyết(5). Do pháp
1) Hiến pháp năm 1992, kế thừa và phát
luật Việt Nam còn yếu, thủ tục về bồi thường
triển tinh thần của Hiến pháp năm 1980, đã
không được quy định, các sự cố tràn dầu chỉ
có quy định về trách nhiệm bảo vệ môi
mới dừng lại ở việc xử lý ngăn chặn, còn
trường, trong đó có môi trường biển, đã trở
những vấn đề khắc phục thiệt hại trong
thành một nguyên tắc quan trọng, theo đó
tương lai, hầu như không được giải quyết.
các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi
Từ đầu năm 2008, một trạm quan trắc sự
công dân có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ
cố tràn dầu được đặt tại Từ Liêm, Hà Nội bắt
môi trường, nghiêm cấm mọi hành vi huỷ
đầu đi vào giai đoạn hoạt động thử nghiệm
hoại môi trường (Điều 11, 17, 18, 25, 29, và
trong 18 tháng, và đang xúc tiến hợp tác với
78). Từ nguyên tắc này, Luật Bảo vệ Môi
Pháp để nâng cấp khả năng quan trắc và tìm
trường đã được ban hành năm 1993 và từ đó
nguyên nhân, nguồn gốc các sự cố tràn dầu.
vấn đề bảo vệ môi trường đã được đưa vào
Hiện đã có 03 trung tâm UCCTD (thuộc
hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật
UBQGPCCH) nhằm ứng phó với các sự cố
liên quan đến việc khai thác, sử dụng tài
tràn dầu đang xảy ra ngày một nhiều trên các
vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống nguyên môi trường.
này chỉ mới phát hiện được các vệt dầu ô 2) Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 đã
nhiễm trên biển, nhưng lại không tìm được đưa ra các định nghĩa, khái niệm và các nội
nguyên nhân gây ô nhiễm. Để phân tích các dung quan trọng về môi trường như:
mẫu dầu ô nhiễm, cả 03 trung tâm đều không Định nghĩa về môi trường, thành phân
thể thực hiện và phải gửi mẫu phân tích sang môi trường, ô nhiễm môi trường;
nước ngoài để có được kết quả. Đây là một Quy định các nội dung cơ bản về quyền
yếu kém về trang thiết bị cũng như năng lực và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, tổ
của các trung tâm UCSCTD của Việt Nam. chức cá nhân trong việc phòng chống ô
nhiễm môi trường, trong đó có quy định liên
quan đến việc phòng ngừa, xử lý ô nhiễm do
2. Pháp luật Việt Nam về phòng, chống ô dầu: Tổ chức, cá nhân khi tìm kiếm thăm dò,
nhiễm dầu ở các vùng biển khai thác vận chuyển, chế biến, tàng trữ dầu
khí phải áp dụng công nghệ phù hợp, thực
Từ khi thực hiện chính sách hội nhập
hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, có
kinh tế quốc tế và chiến lược biển, pháp luật
phương án phòng tránh rò rỉ dầu, sự cố tràn
về bảo vệ môi trường biển bắt đầu được chú
dầu (Điều 21);
trọng. Việc phòng chống ô nhiễm môi trường
Quy định các nguyên tắc về xử lý, khắc
biển và ứng phó với các sự cố tràn dầu đã được
phục ô nhiễm môi trường, trong đó có nguyên
quy định rải rác trong các văn bản pháp luật
tắc “Người gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt
chung và văn bản pháp luật chuyên ngành.
hại, khắc phục hậu quả” (Điều 7, 52).
Nhằm cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi
trường, Chính phủ đã ban hành nhiều văn
_______ bản hướng dẫn như: Nghị định 175-CP ngày
(5)
Hội thảo về việc xử lý sự cố tràn dầu do Bộ Tài
18/10/1994 hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ
nguyên và Môi trường (Thông tin tại báo điện tử
www.vietnamnet.vn).
Môi trường, Nghị định 121/2004/NĐ-CP
N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238 227
ngày 12/5/2004 về xử phạt hành chính trong (Điều 1) và hành vi gây ô nhiễm môi trường
lĩnh vực Luật bảo vệ Môi trường (với một số biển là hành vi bị nghiêm cấm (Điều 10). Với
quy định về phòng ngừa, xử lý và khắc phục 16 điều đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường
ô nhiễm do dầu như Điều 18, Điều 21), Nghị biển, trong đó có hai điều trực tiếp điều
định 121/2004/NĐ-CP quy định hành vi vi chỉnh việc phòng ngừa, xử lý ô nhiễm biển
phạm các quy định về phòng chống sự cố do dầu (Điều 28 và Điều 223), BLHH đã bổ
môi trường trong tìm kiếm, thăm dò, khai sung nhiều nội dung cụ thể hoá các quy định
thác, vận chuyển dầu khí… có thể bị phạt của Công ước MARPOL 73/78 như các quy
tiền đến 70 triệu đồng và buộc khắc phục định về đăng kiểm, về giấy chứng nhận
tình trạng ô nhiễm môi trường. phòng ngừa ô nhiễm môi trường, về việc lưu
3) Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005. Theo giữ các tàu không đủ điều kiện bảo vệ môi
điều 624 BLDS, cá nhân, pháp nhân và các trường; việc kiểm tra, kiểm soát và cấm vào
chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường, gây cảng các tàu không đủ điều kiện về phòng
thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định ngừa ô nhiễm môi trường; nghĩa vụ bắt buộc
của pháp luật, trừ trường hợp người bị thiệt phải có bảo hiểm trách nhiệm dân sự về ô
hại có lỗi. Điều 623 quy định bồi thường thiệt nhiễm môi trường của các tàu dầu (Điều 28);
hại do nguồn nguy hiểm cao độ, trong đó có khiếu nại về ô nhiễm môi trường là khiếu nại
phát sinh quyền bắt giữ tàu biển (Điều 29, 41,
thiệt hại do dầu gây ra. Ngoài ra, có thể vận
69, 70)… Đặc biệt, Luật này còn quy định
dụng các quy định về bồi thường thiệt hại
việc gây ô nhiễm không được giới hạn trách
ngoài hợp đồng để truy cứu trách nhiệm đối
nhiệm dân sự (Điều 223). Như vậy, khi tàu
với các hành vi xả, thải, làm tràn dầu gây ô
gây ra sự cố tràn dầu, việc xem xét trách
nhiễm môi trường.
nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại sẽ được
4) Bộ luật Hình sự năm 1999 đã dành một
giải quyết theo CLC 1992 nếu tàu gây ô
chương riêng (Chương XVII) quy định các tội
nhiễm là tàu dầu và dầu tràn ra biển là dầu
phạm về môi trường. Theo Điều 183, người
nặng, khó phân huỷ.
nào thải vào nguồn nước dầu, mỡ… gây hậu
6) Luật Thuỷ sản 2003 (khoản 1 Điều 7)
quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc
nêu trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia
biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 05 năm
đền 10 năm và có thể bị phạt tiền từ khai thác nguồn lợi thuỷ sản là phải bảo vệ
10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm môi trường sống của các loài thuỷ sản. Đây là
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ một cơ sở bảo vệ các nguồn thuỷ sản khi bị ô
năm đến 05 năm. Bộ luật Hình sự còn áp nhiễm do dầu tác động.
dụng khung hình phạt khá nghiêm khắc (có 7) Luật Dầu khí 1993 sửa đổi năm 2008
thể bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm) đối với (lần 2) - Điều 5 - quy định các chủ thể tham
các tội: “Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản” gia hoạt động dầu khí phải có đề án bảo vệ
(điều 188), “Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt môi trường và các biện pháp ngăn ngừa bảo
đối với khu bảo tồn thiên nhiên” (Điều 191). vệ môi trường. Nghị định số 48/2000/NĐ-CP
5) Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2005 (Điều 7) quy định chi tiết thi hành Luật Dầu
(BLHH). Khác với BLHH năm 1990, BLHH khí quy định rõ hơn các chủ thể hoạt động
năm 2005 đã ghi nhận vấn đề bảo vệ môi dầu khí bao gồm: Báo cáo đánh giá tác động
trường là một nguyên tắc quan trọng: phòng môi trường; Chương trình quản lý an toàn và
ngừa ô nhiễm biển là một trong những nội đánh giá mức độ rủi ro kèm theo các biện
dung thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật pháp hạn chế sự cố và thiệt hại; Kế hoạch
228 N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238
ứng cứu khẩn cấp các sự cố bao gồm cả các biển thuộc quyền tài phán quốc gia của Việt
biện pháp kỹ thuật và việc sử dụng các Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam
phương tiện, thiết bị để khắc phục sự cố. Các và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt
tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động dầu khí Nam là thành viên (Điều 1, 6, 7).
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về 9) Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCNMT
thiệt hại đối với người, tài sản và môi trường, của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
kể cả việc làm sạch và khôi phục hiện trạng công bố danh mục tiêu chuẩn Việt Nam về
môi trường do tác hại trực tiếp hay gián tiếp môi trường bắt buộc áp dụng tại Điều IV: Tổ
của hoạt động dầu khí gây ra (Điều 9). Các chức, cá nhân người Việt Nam, tổ chức, cá
hành vi vi phạm về hoạt động dầu khí có thể nhân người nước ngoài có trách nhiệm thực
bị xử phạt theo các mức như sau: hiện các tiêu chuẩn liên quan nêu tại Điều I
a) Tiến hành hoạt động dầu khí trái phép thì của Quyết định này trong việc xây dựng dự án
bị phạt tới một trăm nghìn (100.000) đôla Mỹ; và triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh
b) Không tuân thủ các quy trình, quy trên lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
phạm, quy chế kỹ thuật về tìm kiếm thăm dò (CHXHCN) Việt Nam.
và khai thác dầu khí, gây thiệt hại đối với tài 10) Quy chế về bảo vệ môi trường trong
nguyên dầu khí hoặc môi trường, hoặc làm việc tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ, khai
thiệt hại tài sản Nhà nước và cá nhân, thì thác, tàng trữ vận chuyển chế biến dầu khí và
ngoài việc phải bồi thường thiệt hại còn bị các dịch vụ liên quan ban hành kèm theo
phạt tới một trăm nghìn (100.000) đôla Mỹ; Quyết định số 395/1998/QĐ-BKHCNMT
c) Tiến hành các hoạt động tìm kiếm thăm ngày 10/4/1998 của Bộ trưởng Bộ Khoa học
dò và khai thác dầu khí vượt quá phạm vi Công nghệ và Môi trường.
diện tích hợp đồng khi chưa được cơ quan 11) Quy chế khai thác tài nguyên dầu khí
quản lý nhà nước về dầu khí cho phép thì bị ban hành kèm theo Quyết định số
phạt tới năm mươi nghìn (50.000) đôla Mỹ. 193/1998/QĐ-TTg có chương riêng quy định
d) Khai man, trốn thuế tài nguyên, thuế về việc bảo vệ môi trường. Trong quá trình
thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác hoạt động, các nhà điều hành phải kiểm tra
thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế nộp thiếu, van đặt ống phát hiện rò rỉ (Điều 66). Khi
còn phải nộp tiền phạt về khai man, trốn thuế ngừng sản xuất, nhà điều hành phải ngừng
theo quy định của pháp luật Việt Nam; các hoạt động khai thác ngay nếu xét thấy
e) Không thông báo cho cơ quan quản lý việc duy trì các hoạt động này sẽ thải ra môi
Nhà nước về dầu khí và Tổng công ty Dầu khí
trường các chất thải vượt quá giới hạn; hoặc
Việt Nam những khoáng sản khác ngoài dầu
gây mất an toàn cho người làm việc, mất an
khí hoặc cổ vật, tài sản có giá trị được phát hiện
toàn đối với giếng hoặc không bảo đảm an
trong diện tích hợp đồng dầu khí thì bị phạt tới
toàn cho các hoạt động của công trình khác
mười nghìn (10.000) đôla Mỹ và bị tịch thu các
(Điều 72). Nhà điều hành có trách nhiệm
mẫu vật, cổ vật, tài sản đó (Điều 71);
trong việc thực hiện các kế hoạch phòng
8) Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển
ngừa sự cố ít nhất 12 tháng một lần; nhà điều
Việt Nam năm 2008. Theo quy định của đạo
hành các công trình khai thác phải tổ chức
luật này, một trong những nhiệm vụ của lực
luyện tập cho những người làm việc trên
lượng cảnh sát biển là bảo vệ tài nguyên,
công trình theo những quy định đang áp
phòng chống ô nhiễm môi trường (bao gồm
dụng để ứng phó và thu dọn dầu tràn (Điều
việc phòng chống ô nhiễm dầu) trên các vùng
N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238 229
76). Việc điều tra sự cố và ghi chép sự cố định về trang thiết bị an toàn hàng hải và
được quy định tại Điều 80 và 82. Nhà điều phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển lắp đặt
hành thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng trên tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến nội
tháng về xử lý dầu, khí (Điều 90) và hoạt địa. Theo Điều 20 văn bản này, tàu phải trang
động của các van an toàn trong lòng giếng bị hệ thống lọc dầu theo quy định sau đây:
(Điều 92). - Tầu hàng, tầu khách dưới 1000 GT, tầu
12) Nghị định số 36/1999/NĐ-CP quy dầu dưới 400 GT không yêu cầu trang bị hệ
định về xử phạt vi phạm hành chính trong thống lọc dầu.
vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng - Tầu hàng, tầu khách từ 1000 GT đến
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước dưới 10000 GT, tầu dầu từ 400 GT đến dưới
CHXNCN Việt Nam tại Mục II Điều 22 (về 10000 GT phải trang bị hệ thống lọc dầu đảm
xử phạt đối với hành vi vi phạm về xả các bảo sao cho bất kỳ hỗn hợp dầu nước nào sau
chất thải có lẫn dầu gây ô nhiễm môi trường). khi qua hệ thống lọc phải có hàm lượng dầu
13) Chỉ thị số 17/2003/CT-TTg của Thủ không quá 15 phần triệu.
tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác - Tầu từ 10000 GT trở lên phải trang bị hệ
quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo đảm an thống lọc dầu theo quy định tại khoản 2 Điều
toàn hàng hải. này và thiết bị lọc dầu đó phải có báo hiệu
14) Nghị định số 03/NĐ-CP của Chính ánh sáng và âm thanh và tự động đóng khi
phủ quy định về bảo vệ an ninh, an toàn dầu hàm lượng dầu trong nước thải vượt quá 15
khí quy định “mọi tổ chức cá nhân khi phát phần triệu.
hiện sự cố dầu khí phải có trách nhiệm tìm 19) Nghị định số 91/1997/NĐ-CP của
cách ngăn chặn và báo cho cơ quan công an, Chính phủ ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam -
quân đội, chính quyền địa phương, hoặc cơ TCVN6276 về quy phạm các hệ thống ngăn
quan, tổ chức khác nơi gần nhất để kịp thời ngừa ô nhiễm tàu; TCVN 6278 về trang bị an
xử lý, ngăn ngừa thiệt hại” (Điều 4). toàn tầu biển.
15) Nghị định số 139/NĐ-CP của Chính 20) Nghị định số175/1994/NĐ-CP của
phủ ngày 11/11/2005 ban hành hợp đồng Chính phủ quy định khả năng lập một quỹ dự
mẫu của hợp đồng chia sản phẩm dầu khí phòng quốc gia nhằm chủ động đối phó với các
(mục 20.5.2) quy định trong hợp đồng mẫu trường hợp đối xuất về sự cố môi trường, ô
về trách nhiệm của nhà thầu đối với trách nhiễm môi trường và suy thoái môi trường.
nhiệm về thiệt hại hoặc tổn thất bao gồm cả ô 21) Quyết định số 782/2003/QĐ-BTNMT
nhiễm môi trường phát sinh từ hoạt động của Bộ Tài nguyên Môi trường về việc ban
dầu khí. hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ
16) Quyết định số 1581/1999/QĐ -BGTVT môi trường Việt Nam
của Bộ Giao thông Vận tải ban hành Khung 22) Quyết đinh số 02/2003/QĐ-BTNMT
định biên an toàn tối thiểu cho tàu biển quy của Bộ Tài nguyên Môi trường ban hành Quy
định tiêu chuẩn cho loại tàu chuyên dùng chế Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch.
vận chuyển dầu khí. 23) Thông tư số 2592/1996/TT-BKHCNMT
17) Quyết định số 49/2005/QĐ-BGTVT của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
của Bộ Giao thông Vận tải ban hành quy tắc về kiểm soát ô nhiễm dầu do tầu thuyền và
phòng ngừa, đâm va tàu trên biển. phương tuyện vận tải đường sông.
18) Quyết định số 59/2005/QĐ-BGTVT 24) Thông tư số 07/TT-BTNMT của Bộ Tài
của Bộ Giao thông Vận tải ban hành Quy nguyên Môi trường hướng dẫn phân loại và
230 N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238
quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi cháy nổ và ứng phó sự cố tràn dầu, theo quy
trường có: Cơ sở khai thác dầu thô, cơ sở sửa định của pháp luật…
chữa và đóng mới tàu thuỷ, cơ sở vệ sinh và
xúc rửa tàu thuỷ với các tiêu chuẩn quy định 2.2. Pháp luật về phòng, chống ô nhiễm dầu
trong phụ lục kèm theo, các cơ sở vượt quá chuyên biệt
tiêu chuẩn phải có biện pháp xử lý.
1) Thông tư 2262/TT-MTG ngày
25) Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT của
29.12.1995 của Bộ Khoa học Công nghệ và
Bộ Tài nguyên Môi trường hướng dẫn điều
Môi trường về việc khắc phục sự cố tràn
kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký,
dầu. Đây có lẽ là văn bản pháp quy đầu tiên
cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải
hướng dẫn việc khắc phục và xử lý sự cố tràn
nguy hại quy định tại mục 1.6. (xây dựng và
dầu. Văn bản này đã xác định các trường hợp
thực hiện kế hoạch hoặc biện pháp phòng
được coi là “sự cố tràn dầu”; đưa ra các biện
ngừa, ứng phó sự cố do chất thải nguy hại
pháp phòng ngừa; các biện pháp xử lý khi phát
gây ra), gồm các nội dung: biện pháp, quy
hiện dấu hiệu sự cố tràn dầu; thủ tục đòi bồi
trình phòng ngừa, ứng phó khẩn cấp đối với
thường khắc phục thiệt hại về môi trường.
các loại sự cố có thể xảy ra (cháy, nổ, rò rỉ, đổ
2) Nghị định 137/2004/NĐ-CP ngày
tràn, tai nạn lao động, tai nạn giao thông…);
16/6/2004 về xử phạt vi phạm hành chính
sơ đồ thoát người; thủ tục thông báo và yêu
trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt
cầu trợ giúp khi có sự cố (địa chỉ, số điện
Nam đã có nhiều quy định về xử phạt các
thoại, trình tự thông báo cho các cơ quan liên
hành vi vi phạm về phòng ngừa ô nhiễm biển
quan như môi trường, công an, phòng cháy
do dầu và các quy định buộc thực hiện các
chữa cháy, y tế...); phương án, địa điểm cấp
biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường, và
cứu người; tình huống và kế hoạch sơ tán
nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Lực
người tại cơ sở và khu vực phụ cận; biện
lượng cảnh sát biển Việt Nam có thẩm quyền
pháp xử lý ô nhiễm môi trường sau khi kết
xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng
thúc sự cố; các vấn đề liên quan khác.
biển và thềm lục địa Việt Nam (Điều 23); các
26) Thông tư liên tịch số
lực lượng khác xử phạt các vi phạm liên quan
12/2005/TTLT/BTM-BTNMT-BGTVT hướng
dẫn điều kiện an toàn môi trường biển đối đến lĩnh vực ngành mình quản lý (Điều 25).
với hoạt động cung ứng dầu cho tầu biển quy Nghị định đã góp phần bảo đảm thi hành các
định về điều kiện của các chủ thể trong hoạt quy định của Công ước MARPOL cũng như
động cung ứng, đối với doanh nghiệp cung các văn bản pháp luật Việt Nam về ô nhiễm
ứng dầu: Bố trí đủ nhân lực, phương tiện, môi trường biển.
thiết bị kỹ thuật chuyên dùng và có quy trình 3) Quyết định số 103/2005/QĐ-TTg ngày
khai thác phù hợp để sẵn sàng phòng chống 12.5.2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành
cháy, nổ, khắc phục sự cố tràn dầu, xây dựng Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu
kế hoạch, phương án ứng phó sự cố tràn dầu, quy định về đối tượng, phạm vi sự cố tràn
đầu tư các trang thiết bị và tổ chức lực lượng dầu và các tổ chức chuyên môn có trách
bảo đảm ngăn ngừa, ứng phó kịp thời, hiệu nhiệm quản lý sự cố tràn dầu (Uỷ ban quốc
quả sự cố tràn dầu theo quy định của cấp cơ gia tìm kiếm cứu nạn và 03 trung tâm ứng
sở tại Quyết định số 129/2001/QĐ-TTg ngày phó sự cố tràn dầu ở các khu vực Bắc, Trung,
29/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ; Đối với Nam). Quy chế được ban hành với mục đích
tầu biển phải có trang thiết bị phòng, chống triển khai thực hiện các nội dung của Bản Kế
N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238 231
hoạch quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu. Quy đảm bảo tài chính cho các lực lượng ứng cứu
chế vẫn phân cấp ứng cứu thành 3 cấp (cấp sự cố tràn dầu tại các cơ sở xã hội, quốc
cơ sở, cấp khu vực, và cấp quốc gia) tuy phòng, an ninh… Việc chưa cụ thể hoá được
nhiên đã bổ sung quy định vị trí, vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của các lực lượng
trách nhiệm của cấp tỉnh trong việc ứng phó tham gia ứng cứu sẽ gây ra không ít khó
sự cố tràn dầu cấp khu vực như: Xây dựng kế khăn trong thực tiễn thực thi Quy chế này.
hoạch ứng phó sự cố tràn dầu trình cấp có 4) Thông tư số 3370/1995/TT-BKHCNMT
thẩm quyền phê duyệt; thẩm định, phê duyệt của Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường
kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu của các cơ hướng dẫn tạm thời về khắc phục sự cố môi
sở trên địa bàn. Đặc biệt, đối với các vụ tràn trường do cháy nổ xăng dầu khẳng định hậu
dầu trong phạm vi 20km trở ra, việc tổ chức quả của sự cố môi trường do cháy nổ xăng
ứng phó, chỉ huy hiện trường sẽ do các trung dầu không chỉ gây thiệt hại trước mắt mà còn
tâm ứng phó sự cố tràn dầu khu vực (Điều 6). gây ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, cần
Trong các trường hợp khẩn cấp, các cơ quan, phải có biện pháp khắc phục môi trường
lực lượng như Cảng vụ, Cảnh sát biển, Cảnh ngoài việc cứu chữa và hướng dẫn lập hồ sơ,
sát giao thông đường thuỷ, Bộ đội Biên thủ tục bồi thường thiệt hại về môi trường.
phòng được quyền huy động lực lượng, tổ 5) Quyết định số 395/1998/QĐ -
chức ứng phó ngay đồng thời báo cáo Uỷ ban BKHCNMT của Bộ Khoa học Công nghệ Môi
Nhân dân (UBND) cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố trường về việc ban hành Quy chế Bảo vệ môi
và Uỷ ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn (Điều trường trong việc tìm kiếm, thăm dò, phát
8). Quy chế đã quy định các nguyên tắc để triển mỏ, khai thác, tàng trữ vận chuyển, chế
xác định thiệt hại, trách nhiệm dân sự của các biến dầu khí và các dịch vụ có liên quan quy
tổ chức cá nhân gây thiệt hại và trình tự giải định không được thải các loại dầu mỡ ra môi
quyết bồi thường thiệt hại, trong đó xác định trường (Điều 33); khả năng ứng cứu trong
hai cơ quan chịu trách nhiệm chính trong vòng 24h đối với sự cố tràn dầu dưới 500 tấn
việc xác định, giải quyết bồi thường thiệt hại của các giàn khoan trên biển (Điều 36); Điều
là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với các vụ 37, 38, 39 quy định về việc xử lý dầu tràn từ
tràn dầu trên phạm vi của tỉnh và Uỷ ban mỏ và trách nhiệm khắc phục dầu tràn.
quốc gia tìm kiếm cứu nạn trong trường hợp 6) Quyết định số 129/2001/QĐ-TTg ngày
vụ tràn dầu xảy ra trên diện rộng ngoài 29/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê
phạm vi một địa phương. Quy chế cũng đã duyệt Kế hoạch Quốc gia ứng phó sự cố tràn
khắc phục được một số hạn chế khác trong dầu giai đoạn 2001-2020. Bản Kế hoạch đã
kế hoạch quốc gia ứng cứu sự cố tràn dầu phân sự cố tràn dầu thành 3 mức: Mức 1 -
như các quy định về trách nhiệm thông tin và dưới 100 tấn; Mức 2 - từ 100 - 2.000 tấn; Mức
xử lý thông tin, vấn đề phòng chống cháy 3 - trên 2.000 tấn và đặt mục tiêu đến năm
nổ… Tuy nhiên, một số hạn chế trong Bản kế 2010 sẽ hoàn chỉnh hệ thống chính sách, tổ
hoạch quốc gia ứng cứu sự cố tràn dầu vẫn chức lực lượng ứng phó sự cố tràn dầu từ
được khắc phục như: Chưa dự liệu được các trung ương đến cơ sở. Về tổ chức lực lượng
vụ tràn dầu xảy ra ở các khu vực chồng lấn được phân thành 03 cấp: cấp cơ sở, cấp khu
hoặc ở vùng biển không thuộc Việt Nam vực và cấp quốc gia.
nhưng có khả năng thực tế gây thiệt hại cho 7) Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày
môi trường biển Việt Nam; các quy định về 8/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án
232 N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238
Nhân dân Tối cao (TANDTC) hướng dẫn áp các sở ban ngành, trong đó phòng và ứng
dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi cứu sự cố tràn dầu được giao cho sở giao
thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Văn bản thông vận tải; Quyết định số 75/QĐ-UB của
này cũng sẽ là một trong những cơ sở pháp UBND tỉnh về việc ban hành chương trình
lý quan trọng cho việc xác định đòi bồi hành động thực hiện Nghị quyết số 41 về bảo
thường đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu gây vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá,
ra trên biển. hiện đại hoá.
8) Nghị định số 26/NĐ-CP của Chính phủ * Tỉnh Quảng Bình: Quyết định số
quy định xử phạt hành chính về bảo vệ môi 29/2006/QĐ-UBND ngày 6/23/2006 phê duyệt
trường (Điều 12) quy định về vi phạm việc Chương trình phát triển thủy sản giai đoạn
phòng tránh sự cố môi trường trong tìm 2006-2010; Quyết đinh số 351/QĐ-UBND
kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu ngày 2/26/2008 ban hành Chương trình hành
khí. động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết
9) Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu của 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính
Tổng công ty Dầu khí (ban hành kèm theo phủ và Chương trình hành động số 13-
Quyết định số 949/QĐ-KHCNMT ngày CTr/TU ngày 10/9/2007 của Tỉnh ủy Quảng
5/3/2001). Bình về Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Quyết
2.3. Các văn bản pháp luật và pháp quy do địa định 37/2005/QĐ-UBND7/28/2005 về việc
phương ban hành phê duyệt Chương trình Bảo vệ và Phát triển
nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Bình đến năm
* Tỉnh Quảng Ninh: Quyết định số
2010.
2584/QĐ-UBND ngày 31/8/1998 phê duyệt
* Tỉnh Quảng Nam: Công văn chỉ đạo số
phương án phòng chống, khắc phục và xử lý
03/CĐ-UBND ngày 2/6/2007 về việc giải
ô nhiễm môi trường do dầu gây ra; Quyết
quyết ô nhiêm môi trường do sự cố tràn dầu;
định số 2287/1998/QĐ-UB ban hành quy định
Công văn số 15/BC-UBND ngày 2/2/2007 về
phối hợp các lực lượng giải quyết sự cố tràn
sự cố tràn dầu trên vùng biển tỉnh Quảng
xăng dầu.
Nam; Công văn số 422/UBND-KTN ngày
* Thành phố Hải Phòng: Quyết định
2/15/2007 về khắc phục ô nhiễm và báo cáo
1183/QĐ-UB về xử phạt vi phạm hành chính
thiệt hại do sự cố môi trường tràn dầu và
về lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định
dăm gỗ trên địa bàn tỉnh; Công văn số
1221/QĐ-UB ngày 3/6/2003 của Uỷ ban Nhân
314/UBND-KTN ngày 2/2/2007 về khắc phục
dân (UBND) thành phố phê duyệt Kế hoạch
sự cố môi trường tràn dầu trên địa bàn tỉnh.
xử lý các khu vực ô nhiễm môi trường trên
* Tỉnh Khánh Hoà: Chỉ thị số 20/2001/CT-
địa bàn Hải Phòng.
UB Về việc tăng cường bảo vệ các công trình
* Tỉnh Nghệ An: Quyết định số 74/QĐ-
dầu khí trên biển.
UBND ngày 12/6/2007 ban hành quy định
* Tỉnh Ninh Thuận: Quyết định số
bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, trong đó
1773/2007/QĐ-UBND thu gom và xử lý dầu
Điều 13 quy định về việc bảo vệ môi trường
vón cục trôi dạt vào vùng biển tỉnh Ninh
trong khai thác khác khoáng sản bao gồm
Thuận; Chỉ thị số 20/2007/CT-UBND về việc
việc khảo sát, thăm dò, chế biến, vận chuyển
xử lý hiện tượng tràn dầu trên vùng biển tỉnh
dầu khí (khoản 4); Điều 24 về sự cố môi
Ninh Thuận.
trường; Điều 26 quy định về trách nhiệm của
N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238 233
2.4. Một vài đánh giá về hệ thống pháp luật về trong pháp luật phòng chống ô nhiễm biển ở
phòng, chống ô nhiễm dầu của Việt Nam Việt Nam. Tình trạng ít văn bản hướng dẫn,
quy định không cụ thể, không rõ ràng về
Mặc dù hệ thống pháp luật về bảo vệ môi
trách nhiệm của các ban ngành dẫn đến sự
trường của Việt Nam đã được hình thành,
chồng chéo trong quản lý (Ví dụ: Trường hợp
nhưng pháp luật về phòng chống ô nhiễm
tràn dầu do tai nạn hàng hải thì cơ quan nào
dầu chỉ mới dừng lại ở một số văn bản mang
có trách nhiệm đứng ra giải quyết: cơ quan
tính đơn lẻ, không thống nhất và tính pháp
cảnh sát biển, Sở Tài nguyên Môi trường cấp
quy chưa cao. Việc phòng chống, ứng cứu sự
tỉnh hay cơ quan quản lý tầu biển?). Tính ứng
cố tràn dầu chỉ được quy định rải rác trong dụng trong thực tiễn của pháp luật có hiệu
một số điều luật về phòng chống ô nhiễm quả thấp. Hầu như các vụ tràn dầu trên biển
môi trường(6). khi xảy ra mới có văn bản hướng dẫn thực
Về kỹ thuật pháp lý, pháp luật về ứng hiện hoặc đợi hướng dẫn của cấp trên trong
cứu sự cố môi trường hầu như chỉ hướng dẫn khi công tác ứng cứu đòi hỏi phải tiến hành
chung chung, mang tính ứng phó trước mắt khẩn cấp. Trong 29 tỉnh thành ven biển, chỉ
nên không có cái nhìn tổng quát. Phạm vi của có tỉnh Nghệ An có Quy định về bảo vệ môi
Luật Bảo vệ Môi trường vẫn còn hẹp và trường trên địa bàn tỉnh trong đó có việc
chung chung, vì vậy quyền và nghĩa vụ của khắc phục sự cố tràn dầu. Chính quyền 28
các chủ thể không được bao quát hết. Đặc tỉnh thành còn lại chỉ có văn bản hướng dẫn
biệt, vấn đề trách nhiệm và bồi thường thiệt khi sự cố xảy ra. Việc chính quyền cấp địa
hại không có quy định rõ ràng, không có biện phương không có văn bản pháp lý cụ thể nào
pháp cưỡng chế dẫn đến sự hạn chế, tiêu hao cho địa phương mình cũng là một lỗ hổng
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Trách lớn trong hệ thống pháp luật hiện nay. Việc
nhiệm pháp lý trong sự cố tràn dầu không đầu tư xây dựng cho ba trung tâm ứng phó
quy định rõ ràng cho chủ thể nào, hiện nay sự cố tràn dầu được thành lập tại 03 miền
hầu hết mới chỉ áp dụng luật dân sự vào bồi Bắc, Trung, Nam còn chậm. Sự phối hợp và
thường thiệt hại trong dầu khí. phân chia trách nhiễm giữa Uỷ ban quốc gia
Hệ thống pháp luật về phòng chống ô và Bộ Tài nguyên Môi trường chưa cụ thể.
nhiễm dầu trên biển hiện nay ngoài 03 Quyết Trên thực tế, biện pháp cưỡng chế thi
định số 103, 395, 129(7) là những văn bản hành hầu hết nghiêng về mệnh lệnh hành
chuyên biệt, không có một văn bản hay dự chính, số tiền phạt không đủ để răn đe với
luật nào về phòng chống ô nhiễm dầu. Ngay một sự cố tràn dầu lớn; vấn đề đền bù chưa
trong Luật Bảo vệ môi trường cũng chỉ có được chú trọng; biện pháp khẩn cấp trong
một điều định nghĩa về sự cố ô nhiễm trên ứng cứu sự cố tràn dầu còn yếu. Việc quản lý
biển mà cũng không có nghị định hướng dẫn việc xử lý dầu tràn còn nhiều bất cập; xử lý
thi hành nào về vấn đề này. Luật Dầu khí hành vi vi phạm đều dựa vào các văn bản
cũng không đề cập đến vấn đề môi trường hành chính, nếu nặng hơn là hình sự. Nhiều
một cách cụ thể. Đây là một thiếu sót lớn vụ việc không có đền bù mà chỉ ứng cứu
trước mắt, ví dụ: Vụ công ty TNHH Sông
_______ Xanh được Bộ Tài nguyên và Môi trường
(6)
Số liệu Cục Môi trường, TRIMAR - AB, Thuỵ Điển giao cho xử lý dầu tràn thu được từ tầu Đức
trích “ Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam luật pháp
Trí đã đem chôn xuống đất, sau khi bị phát
và thực tiễn” TS. Nguyễn Hồng Thao.
(7) hiện, cơ quan quản lý yêu cầu công ty đào
Xem thêm hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam
về phòng chống ô nhiễm dầu tại mục 2. dầu đem xử lý.
234 N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238
Kế hoạch về ứng cứu sự cố tràn dầu do nhiễm do tàu thuyền (MARPOL 73/78); Công
Chính phủ ban hành chỉ mang tính định ước trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt
hướng, chưa phải là hướng dẫn hành động hại do dầu năm 1969 và Công ước bổ sung
mặc dù Quy chế UCSCTD (2005) là tài liệu năm 1992 (CLC). Sau khi gia nhập Công ước
quý bổ sung cho Kế hoạch Quốc gia song vẫn Marpol, Việt Nam đã ban hành TCVN 6276
còn nhiều điều bất cập, chưa rõ ràng trong về hệ thống ngăn ngừa ô nhiễm biển của tầu,
các vấn đề như: phân vùng ứng cứu, việc tiêu chuẩn dầu thải cũ… Ngày 17/6/2004,
ứng cứu trên sông rạch, phân cấp phê duyệt Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối
Kế hoạch UCSCTD... Các nguồn lực ứng cứu với thiệt hại do ô nhiễm dầu 1992 (viết tắt là
hiện nay chỉ có thể đáp ứng việc ứng cứu CLC 92) có hiệu lực ở Việt Nam [2]. Thuận lợi
tràn dầu với khối lượng dầu tràn khoảng lớn khi Việt Nam tham gia CLC 92 là từ nay,
1.000 tấn, tương đương với cấp độ 2 theo các tầu dầu nước ngoài khi đến Việt Nam sẽ
phân cấp của Kế hoạch Quốc gia. Quy chế phải xuất trình giấy chứng nhận đã có bảo
hoạt động của các nguồn lực ứng cứu chưa hiểm hay đảm bảo tài chính; từ đó, có thể
được đề cập. nắm rõ tên, địa chỉ của chủ tầu, người bảo
Đồng thời với hệ thống pháp luật bảo vệ hiểm hoặc người cung cấp bảo đảm tài chính
môi trường còn tản mạn, các khía cạnh pháp cho chủ tầu. Trường hợp xảy ra ô nhiễm, dù
lý về vấn đề ô nhiễm do dầu ở Việt Nam còn con tầu này tại thời điểm xảy ra sự cố có thể
nhiều thiếu sót, bất cập. Việt Nam chưa có cơ do người thuê tầu trần hay người quản lý tầu
chế riêng về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm khai thác, nạn nhân bị ảnh hưởng từ vụ ô
dầu và cũng chưa có quỹ bồi thường thiệt hại nhiễm có thể khởi kiện đòi chủ tầu, người
do ô nhiễm dầu (theo Công ước CLC 1992). bảo hiểm hay người bảo đảm tài chính bồi
Vì vậy, khi các vụ gây ô nhiễm dầu xảy ra, thường. Thêm nữa, theo quy định của Công
việc giải quyết đòi bồi thường thiệt hại đều ước, khi xảy ra sự cố ô nhiễm tại vùng biển
làm cho các cơ quan chức năng lẫn nạn nhân Việt Nam, các phán quyết của Tòa án Việt
đều lúng túng. Dù đã có Thông tư số Nam sẽ được Tòa án các nước thành viên
2262/1995/TT-MTG của Bộ trưởng Bộ Khoa Công ước thừa nhận [3]. Tuy vậy, việc thực
học Công nghệ và Môi trường hướng dẫn về thi Công ước không đơn giản bởi Việt Nam
vấn đề bồi thường do ô nhiễm dầu song các có quá ít kinh nghiệm trong việc đánh giá
thủ tục không thống nhất trong hệ thống các mức độ ô nhiễm, tính toán thiệt hại, thủ tục
cơ quan, dẫn đến việc bồi thường diễn ra và nội dung khiến nại, v.v... Khi tham gia các
chậm chạp, luôn phải đợi ý kiến của cấp trên Công ước này, Việt Nam có thể tranh thủ và
hướng dẫn. Hơn nữa, việc đòi bồi thường kế thừa các thành tựu nghiên cứu khoa học
thiệt hại rất khó khăn không chỉ đối với các kỹ thuật và kỹ thuật lập pháp về ứng cứu sự
vụ việc giữa các chủ thể trong nước mà đặc cố tràn dầu của quốc tế.
biệt đối với nhiều vụ việc do tầu nước ngoài
gây ra. Các cơ quan nhà nước hiện đang
thiếu một cơ chế giám sát thực thi pháp luật 3. Hoàn thiện hệ thống qui phạm pháp luật
phòng chống ô nhiễm do dầu, vì vậy mà hiệu Việt Nam về phòng ngừa, xử lý và khắc
lực của pháp luật trong thực tiễn không cao. phục ô nhiễm biển do dầu
Việt Nam là một trong những quốc gia
tham gia tích cực các điều ước quốc tế về bảo 3.1. Đối với Luật Bảo vệ Môi trường
vệ môi trường [1]. Tuy nhiên, hiện nay Việt
Nam mới chỉ tham gia một số điều ước về ô Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ Môi trường
nhiễm dầu như: Công ước về ngăn ngừa ô theo hướng xác định bảo vệ môi trường biển
N.B. Diến / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 224-238 235
là một phần riêng và vấn đề phòng chống ô Dân sự (điều này đặt ra vấn đề sửa đổi điều
nhiễm biển do dầu được qui định trong một 628 BLDS). Những qui định đó mang tính
chương với những nội dung cơ bản: khái khái quát làm cơ sở pháp lý cho các luật
niệm môi trường biển, ô nhiễm biển, ô nhiễm chuyên ngành cụ thể hoá.
biển do dầu và các khái niệm khác có liên
quan; những nguồn chính có thể gây ô nhiễm 3.2. Đối với các luật chuyên ngành
biển, ô nhiễm biển do dầu, ô nhiễm có nguồn
gốc từ đất liền (hoạt động trong lĩnh vực * Trong lĩnh vực hàng hải
công nghiệp, hoạt động của các đô thị, của Một điều rất thuận lợi của công tác xây
tầu sông) từ hoạt động của tầu thuyền, từ dựng và hoàn thiện pháp luật về phòng
hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, đánh chống ô nhiễm biển do dầu trong lĩnh vực
bắt hải sản…; các biện pháp chủ yếu để hàng hải là Công ước MARPOL 73/78 và các
phòng ngừa, xử lý, khắc phục ô nhiễm biển công ước khác như: OPRC1990, FC 1992 quy
do dầu; quyền, nghĩa vụ cơ bản của các tổ định khá đầy đủ và cụ thể. Điều mà pháp luật
chức, cá nhân trong việc thực hiện các qui Việt Nam trong lĩnh vực này ít quan tâm là:
định về phòng ngừa, xử lý, khắc phục ô Áp dụng các qui định của Công ước, thực
nhiễm biển do dầu…Trong công tác phòng thi nghiêm chỉnh và chuyển hoá những qui
ngừa sẽ có qui định về nghĩa vụ chấp hành định của các Công ước, nhất là các Công ước
các tiêu chuẩn kỹ thuật, các tiêu chuẩn về mà Việt Nam chưa đủ điều kiện tham gia,
môi trường, các qui định về lắp đặt thiết bị vào luật Việt Nam. Phải quy định các biện
tiếp nhận dầu cặn, nước lẫn dầu ở một số pháp điều tra xác minh triệt để đối với các
cảng lớn cũng như qui định về thẩm quyền hành vi vi phạm Công ước và đặt ra các chế
kiểm tra, kiểm soát lượng dầu thải ra môi tài đủ nghiêm khắc để xử lý những người và
trường, về chấp hành các qui định về tiêu phương tiện đã thực hiện những hành vi vi
chuẩn chuyên môn đối với những người điều phạm. Ngoài ra, những quy định về trách
khiển các máy móc, phương tiện có khả năng nhiệm dân sự của chủ tầu đối với những
gây ô nhiễm dầu phù hợp với qui định của thiệt hại về môi trường cũng phải phù hợp
MARPOL 73/78 và các điều ước quốc tế mà với Công ước Quốc tế và pháp luật dân sự
Việt Nam đã ký kết. Trong công tác xử lý, Việt Nam. Những quy định này phải rõ ràng,
khắc phục ô nhiễm dầu sẽ có những nội dung cụ thể, không để cho các đối tượng lợi dụng
cơ bản gồm: Quyền và nghĩa vụ của các tổ tìm cách né tránh trách nhiệm bồi thường
chức, cá nhân trong việc ứng cứu, xử lý ô như vụ tàu Neptune Aries năm 1994. Cần
nhiễm dầu và công tác khắc phục ô nhiễm nghiên cứu đặc điểm của Việt Nam, xác định
biển do dầu; công tác phối hợp với các tổ đầy đủ những quan hệ chưa được Công ước
chức quốc tế, với nước ngoài trong việc ứng đề cập để đưa vào Luật điều chỉnh. Để giải
cứu sự cố tràn dầu cũng như khắc phục quyết được những yêu cầu này, Chính phủ
những hậu quả do dầu gây ra [4]. Về vấn đề cần tiếp tục ban hành các văn bản bổ sung
bồi thường thiệt hại nên dẫn chiếu đến Công quy định về phòng ngừa, xử lý và khắc phục
ước CLC 1992 trong trường hợp việc bồi ô nhiễm dầu mà Bộ luật Hàng hải 2005 còn
thường thoả mãn các yêu cầu của CLC như: thiếu - nhất là những quy định về trách nhiệm
Sự cố tràn tàu dầu và dầu tràn ra môi trường
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu không
là dầu nặng khó phân huỷ. Các trường hợp
thuộc phạm vi điều chỉnh của CLC 1992.
khác sẽ bồi thường theo quy định của Bộ luật