Luận văn sáng kiến kinh nghiệm đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn hóa học nhằm từng bước nâng cao chất lượng học tập bộ môn hóa học trong trường thcs

  • 23 trang
  • file .pdf
Phần I
Đặt vấn đề
I. Nội dung đề tài sáng kiến kinh nghiệm.
Hóa học là một bộ môn khoa học có từ lâu đời, các nhà hóa học đã nghiên cứu và
tìm tòi ra các chất, nghiên cứu các tính chất vật lý, các tính chất hóa học, các hiện tượng
vật lý, hóa học, các hiện tượng thường sảy ra trong tự nhiên và giải thích tại sao lại như
vậy!
Môn hóa học là bộ môn khoa học gắn liền với tự nhiên, đi cùng đời sống của con
người. Việc học tốt bộ môn hóa học trong nhà trường sẽ giúp học sinh hiểu được rõ về
cuộc sống, những biến đổi vật chất trong cuộc sống hàng ngày. Từ những hiểu biết này
giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rất hạn chế của Tổ quốc, đồng
thời biết làm những việc bảo vệ môi trường sống trước những hiểm họa về môi trường do
con người gây ra trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm tạo dựng một cuộc
sống ngày càng tốt đẹp hơn.
Môn hóa học trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, tối thiểu để học sinh
khỏi bỡ ngỡ trong các tình huống gặp phải trong tự nhiên, trong cuộc sống. Từ đó lý giải
được các hiện tượng kỳ bí, bài trừ mê tín dị đoan.
Môn hóa học là bộ môn khoa học nghiên cứu về chất, sự biến đổi về chất- những
biến đổi vật chất trong tự nhiên. Ngày nay các nước trên thế giới, việc giảng dạy bộ môn
hóa học rất được coi trọng. Môn hóa học được đầu tư trang bị các thiết bị dạy học đầy đủ,
hiện đại, con người được bố trí phụ trách phòng thiết bị (đủ biên chế), phù hợp với mục
tiêu, yêu cầu giảng dạy bộ môn, phù hợp cấp học, bậc học, đồng thời đội ngũ giáo viên
được chuẩn hóa, được cập nhật thông tin đầy đủ, kịp thời. Trong thực tế giảng dạy, với
năng lực cụ thể của từng giáo viên, kỹ năng sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy
học, đặc biệt là các thao tác thực hiện kỹ thuật thực hành trong từng bài cụ thể: thí
nghiệm chứng minh, thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm thực hành,...chính nhờ những thao
tác kỹ năng thực hiện đó đã giúp cho học sinh nắm chắc kiến thức lý thuyết một cách chủ
động, sáng tạo và hứng thú. Đó chính là bản sắc riêng của từng thầy cô giáo, tựu chung
lại là giúp cho học sinh nắm kiến thức nhanh nhất, sâu sắc nhất, chủ động nhất. Bộ môn
hóa học là bộ môn được coi là bộ môn khó đối với học sinh, nhưng nếu tạo cho học sinh
hứng thú khi học bài trên lớp ...thì việc học môn hóa học lại trở nên nhẹ nhàng bằng cách
cho học sinh nắm chắc các kiến thức cơ bản, sát với thực tế đời sống, sản xuất, đáp ứng
được các yêu cầu cơ bản của nhu cầu lao động sản xuất và tiếp tục học lên cao của học
sinh. Vì vậy người giáo viên đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong chất lượng giảng
dạy nói chung, trong giảng dạy bộ môn hóa học nói riêng. Từ thực tế giảng dạy bộ môn
hóa học trong những năm thay sách hóa học ở bậc học THCS tôi mạnh dạn trao đổi với
đồng chí, đồng nghiệp một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn
hóa học trong trường THCS . Sáng kiến kinh nghiệm có tên: “ Đổi mới phương pháp
giảng dạy bộ môn hóa học nhằm từng bước nâng cao chất lượng học tập bộ môn hóa
học trong trường THCS”. Kính mong có sự trao đổi, đóng góp ý kiến của đồng chí,
đồng nghiệp để nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và chất lượng giảng dạy bộ
môn hóa học nói riêng, tôi xin trân trọng cảm ơn!
1
II-Cơ sở lý luận:
Căn cứ vào mục tiêu giảng dạy bộ môn hóa học ở trường THCS theo chương trình
SGK mới đó là:
1. Về kiến thức.
* Học sinh có một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản, ban đầu về hóa học bao
gồm:
1.1 Hệ thống khái niệm hóa học cơ bản.
1.2 Các kiến thức cơ bản về một số hợp chất vô cơ, hữu cơ quan trọng.
* Học sinh có được một số kiến thức cơ bản, kỹ thuật tổng hợp về nguyên liệu, sản
phẩm, quá trình hóa học, thiết bị sản xuất hóa học và bảo vệ môi trường.
2. Về kỹ năng.
* Học sinh có được một số kỹ năng phổ thông, cơ bản, thói quen làm việc khoa học
đó là:
2.1 Kỹ năng cơ bản, tối thiểu làm việc với hóa chất, với dụng cụ thí nghiệm.
2.2 Biết cách làm việc khoa học, biết tổ chức hoạt động
để chiếm lĩnh khoa học, kỹ thuật.
2.3 Có kỹ năng giải các bài tập định tính, định lượng.
2.4 Biết vận dụng kiến thức.
3. Về thái độ, tình cảm.
3.1 Giáo dục học sinh lòng say mê bộ môn hóa học.
3.2 Học sinh có niềm tin về sự tồn tại và sự biến đổi vật chất, đả phá sự mê tín dị
đoan, thấy được sức mạnh của tri thức con người, đó chính là sức mạnh tiềm tàng của
con người.
3.3 Học sinh có ý thức tuyên truyền, vận dụng những tiến
bộ khoa học trong đời sống hàng ngày.
3.4 Học sinh có những phẩm chất, thái độ cần thiết trong cuộc sống.
III- Cơ sở thực tế.
Trên cơ sở mục tiêu cụ thể của bộ môn hóa học cấp THCS đã
xác định ở trên, kết hợp tình hình thực tế giảng dạy bộ môn
hóa học cấp THCS trong giai đoạn cải cách chương trình và
thay sách giaó khoa, cùng với thực tế giảng dạy ở cơ sở
trường học, các điều kiện thiết yếu phục vụ công tác giảng
dạy (Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học,...) và
trình độ dân trí của địa phương trường đóng, đòi hỏi người
giáo viên giảng dạy phải linh hoạt, sáng tạo, chủ động, kết
phối hợp hài hòa giữa các nhóm phương pháp giảng dạy để hoàn
thành bài giảng một cách hiệu quả nhất.
Phần II
Giải quyết vấn đề
I- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.
2
* Tổ chức tiến hành phương pháp nghiên cứu trên cơ sở
lý luận và thực tiễn, đặc biệt là trong quá trình thực tế
giảng dạy bộ môn hóa học trong trường THCS những năm đổi mới
chương trình và thay sách giáo khoa.
II- Quá trình thực hiện nội dung.
Qua quá trình nghiên cứu SGK, tài liệu tham khảo, SGV,
sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III, tạp chí giáo dục
THCS,...tôi nhận thấy vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
nhằm đáp ứng nhu cầu người học, đáp ứng các kién thức của
chương trình, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là một vấn
đề cấp bách mang tính sống còn quyết định hiệu quả giảng
dạy của giáo dục nói chung, của bộ môn hóa học nói riêng,
đáp ứng quá trình hội nhập toàn diện của Việt Nam với nền
kinh tế quốc tế, nhằm đẩy nhanh công cuộc xây dựng đất nước
giàu đẹp sánh vai với các cường quốc năm châu.
1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học bộ môn hóa
học ở trường THCS.
1.1 Đổi mới hoạt động của giáo viên.
Dạy học theo hướng tích cực hóa người học là quá trình
giáo viên thiết kế tổ chức điều khiển các hoạt động của học
sinh theo mục tiêu cụ thể.
1.2 Đổi mới hoạt động học tập của học sinh.
Dạy học theo hướng tích cực là quá trình học sinh tự
nhận thức, tự khám phá, tự tìm tòi các tri thức hóa học một
cách chủ động, tích cực là quá trình tự phát hiện và giải
quyết các vấn đề thông qua các hoạt động của học sinh.
1.3 Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học.
Khi đổi mới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp
học cũng phải đa dạng hóa, phong phú hơn cho phù hợp với
viẹc tìm tòi cá nhân, hoạt động nhóm và hoạt động toàn lớp.
Sử dụng tổng hợp, linh hoạt các phương pháp dạy học
theo đặc thù bộ môn với cách thức thiết kế tổ chức hoạt dộng
dạy và học.
Sử dụng một cách hợp lý, tổng hợp, các phương pháp dạy học
truyền thống theo hướng tích cực.
Kết hợp một số cách thức thiết kế, tổ chức hoạt động
học tập của học sinh nhằm phát huy cao độ tính tích cực chủ
động tự giác của học sinh trong học tập bộ môn.
1.4 Đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh.
* Chú ý đến mục tiêu cần đánh giá.
* Chú ý đến nội dung đánh giá: Kỹ năng thực hành, kỹ
năng nghiên cứu, kỹ năng tư duy, kỹ năng viết CTHH,...
3
* Dùng đa dạng các phương pháp đánh giá khác nhau: Giáo
viên đánh giá, học sinh tự đánh giá, học sinh đánh giá lẫn
nhau,...
* Dùng nhiều loại hình đánh giá: Bài tập tự luận, bài
tập trắc nghiệm kết quả, bài tập lý thuyết định lượng, định
tính, bài tập thực nghiệm, bài tập có kênh hình, kênh chữ,
...
2. Vận dụng cụ thể việc đổi mới phương pháp giảng dạy
dạy học tích cực vào môn hóa học ở trường THCS.
A. Sử dụng tốt các thí nghiệm hóa học để giảng dạy tích cực:
+ Đây là phương pháp đặc thù của bộ môn, một bộ môn
khoa học thực nghiệm. Để giờ học thực sự có hiệu quả ta cần
triệt để tận dụng các dụng cụ, hóa chất hiện có trong phòng
thí nghiệm có thể thể hiện qua các cách sau:
* Thí nghiệm để làm xuất hiện vấn đề.
* Thí nghiệm để giải quyết vấn đề đặt ra: Thí nghiệm
nghiên cứu, thí nghiệm đối chứng, thí nghiệm kiểm tra giả
thuyết hay dự đoán,...
* Thí nghiệm chứng minh một vấn đề đã được khẳng định.
* Thí nghiệm thực hành: Củng cố lý thuyết, rèn luyện kỹ
năng thực hành.
* Thí nghiệm trong bài tập thực nghiệm: Giải các bài
tập bằng phương pháp thực nghiệm hóa học.
+ Sử dụng thí nghiệm để dạy học tích cực có các mức độ
khác nhau, song cần chú ý cho phù hợp thể hiện ở bốn mức độ
khác nhau:
* Mức độ 1. Rất tích cực.
Các nhóm học sinh thực hiện thí nghiệm, quan sát hiện
tượng, giải thích, nhận biét sản phẩm, và viết PTHH. Từ đó
học sinh rút ra nhận xét về tính chất hóa học, quy tắc, định
luật...
* Mức độ 2. Tích cực.
Các nhóm học sinh quan sát thí nghiệm biểu diễn của
giáo viên và học sinh mô tả hiện tượng, giải thích nhận biết
sản phẩm, và viết PTPƯ. Từ đó học sinh rút ra nhận về tính
chất hóa học, quy tắc, định luật...
* Mức độ 3. Tương đối tích cực.
Các nhóm học sinh làm thí nghiệm để chứng minh cho một
tính chất, quy tắc, định luật hoặc kiến thức đã biêt.
* Mức độ 4. ít tích cực.
4
Học sinh quan sát thí nghiệm do giáo viên biểu diễn,
chứng minh cho một tính chât, một quy tắc, định luật hoặc
điều đã biết.
B. Sử dụng các phương tiện hiện có của nhà trường để dạy học
tích cực nâng cao chất lượng giảng dạy.
+ Sử dụng mô hình hình vẽ, sơ đồ, như là nguồn kiến
thức để học sinh khai thác thông tin mới. Các phương tiện
này được sử dụng hầu hết trong các loại bài học.
+ Sử dụng máy chiếu, bản trong, giáo án điện tử,...
được dùng một cách nhanh chóng hiệu quả, tiết kiệm thời gian
đảm bảo tính trực quan sinh động như:
. Nêu câu hỏi và bài tập trong tiết học:
. Nêu hướng dẫn cho học sinh làm thí nghiệm hoặc những
yêu cầu của giáo viên đối với học sinh.
. Trình diễn bài làm của học sinh.
. Những nội dung cần chốt lại trong bài học, phần học.
C. Sử dụng bài tập hóa học để dạy học tích cực nâng cao chất
lượng dạy học môn hóa học.
1. Vai trò của bài tập hóa học trong việc dạy hóa học
và nâng cao chất lượng giảng dạy.
1.1 Các dạng bài tập hóa học.
* Bài tập tự luận: ( Bài tập lý thuyết, bài tập thực
hành).
* Bài tập trắc nghiệm khách quan: ( Bài tập dạng câu
điền khuyết, câu đúng sai, câu có/không, câu nhiều lựa chọn,
câu cặp đôi).
1.2 Bài tập hóa học có vai trò to lớn trong việc giảng
dạy, củng cố và nâng cao chất lượng dạy và học.
* Bài tập hóa học như là nguồn kiến thức để học sinh
tìm tòi, phát hiện kiến thức, rèn luyện kỹ năng.
* Bài tập hóa học mô phỏng một số tình huống đời sống
thực của con người.
* Bài tập hóa học được nêu lên như tình huống có vấn
đề.
* Bài tập hóa học là một nhiệm vụ mà giáo viên, học
sinh cần giải quyết.
1.3 Bài tập hóa học chính là một phương tiện giúp người
giáo viên tích cực hóa hoạt động của học sinh, trong quá
trình học tập và lĩnh hội kiến thức mới.
* Hình thành kiến thức kỹ năng mới.
* Vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải bài tập.
5
+ Ví dụ 1.
Hoàn thành PTPƯ sau:
SO3 + H2O --> H2SO4
P2O5 + H2O --> H3PO4
CO2 + H2O --> H2CO3
? Cho biết các chất tạo ra sau PƯHH thuộc loại chất
nào.
? Cho biết thành phần phân tử của H2SO4 ,H3PO4 ,H2CO3 có
gì giống nhau.
? Nhóm nguyên tố SO4, PO4, CO3 được gọi là gốc axit. Vậy
căn cứ vào hóa trị của H là I, cho biết hóa trị của các gốc
axit trên?
? Hãy cho biết hợp chất axit có thành phần như thế nào.
+ Ví dụ 2.
Có hỗn hợp gồm các chất khí thải độc hại sau đây: HCl,
Cl2, CO2, CO, SO2... Hãy nêu biện pháp để xử lý chất thải đó
bằng phương pháp hóa học?
+ Ví dụ 3.
Có 3 lọ đựng 3 dd NaOH, HCl, nước cất. Chỉ dùng một
chất hãy nhận biết mỗi lọ đựng chất nào. Dụng cụ hóa chất
coi như đủ....
* Tóm lại:
Để tích cực hóa hoạt dộng của học sinh trong giờ học
hóa học thông qua các bài tập hóa học, bài tập đưa ra như
một vấn đề cần giải quyết, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm
tòi theo một quy trình nhất định để tìm ra kết quả.
D. Sử dụng phương pháp học tập hợp tác theo nhóm nhỏ để nâng
cao chất lượng dạy học môn hóa học trong trường THCS.
1. Cách vận dụng phương pháp học tập hợp tác theo nhóm
nhỏ trong dạy học môn hóa học trong trường THCS nhằm nâng
cao chất lượng giảng dạy:
+ Nhóm học sinh nghiên cứu thí nghiệm để rút ra kết
luận về tính chất của chất.
+ Nhóm học sinh thảo luận để tìm ra lời giải, một nhận
xét, một kết luận nào đó.
+ Nhóm học sinh cùng thực hiện một nhiệm vụ do giáo
viên giao cho.
Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp này muốn tăng hiệu quả cần
chú ý:
* Phân công nhóm thường xuyên, nhóm cơ động: Để duy trì
hoạt động nhóm có thể phân công học sinh thành nhóm thường
xuyên (một bàn hoặc hai bàn ghép lại) có đặt tên nhóm
6
(1,2...) có thể thay đổi nhóm theo nhiệm vụ cần thiết (nhóm
cơ động, không cố định).
* Phân công trách nhiệm cho các thành viên trong nhóm
để thực hiện một nhiệm vụ nhất định ( nhóm trưởng, thư ký),
sự phân công có thể thay thế cho các thành viên để phát huy
tính chủ động sáng tạo của từng thành viên trong nhóm: Nhóm
trưởng có trách nhiệm tổ chức, đôn đốc, yêu cầu các thành
viên trong nhóm thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ. Thư ký
làm nhiệm vụ ghi chép tổng hợp kết quả hoạt động của nhóm
khi cần thiết, nhóm trưởng có trách nhiệm báo cáo kết quả
hoạt động của nhóm khi có yêu cầu.
* Giáo viên giao nhiệm vụ hoạt động cho từng nhóm, theo
dõi các nhóm hoạt động để có thể giúp đỡ, định hướng, điều
khiển, điều chỉnh kịp thời để hoạt động nhóm đi đúng hướng.
1. áp dụng cho chương trình lớp 8:
Ví dụ 1:
ở bài 24: tính chất của oxi
HĐN được tổ chức như sau:
Các thành viên Nhiệm vụ
Nhóm
Phân công, điều khiển chịu trách nhiệm
trưởng
Thư ký Ghi chép kết quả báo cáo của các thành viên.
Các thành viên Quan sát thí nghiệm S, P (phi kim), Fe (kim loại) cháy trong oxi.
- Trạng thái, màu sắc của S, O2, P, Fe trước khi PƯ.
- Hiện tượng sảy ra: màu ngọn lửa, khói như thế nào?
Các thành viên
- Sau PƯ: Sản phẩm là gì?
nêu nhận xét
- Lập công thức của oxit tạo thành và viết PTHH.
- Rút ra nhận xét về tác dụng của phi kim.
+ Trao đổi thảo luận bổ xung cho nhau về hiện tượng quan sát được
trong mỗi thí nghiệm, nhận xét về mỗi sản phẩm tạo thành.
Các thành viên
+ Trao đổi về nhận xét rút ra qua 3 thí nghiệm: Tác dụng với KL và tác
dụng với PK.
đại diện nhóm Báo cáo KQ hoặc bổ xung KQ các nhóm khác.
GV yêu cầu HS hoàn thành ND phiếu HT sau:
Phiếu HT 1.
Tác dụng của oxi với PK HT, GT và viết PTHH Rút ra nhận xét
1. TN oxi t/d với lưu huỳnh
2. TN oxi t/d với phốt pho
3. TN oxi t/d với cácbon
Nhận xét chung
Phiếu HT 2.
7
Tác dụng của oxi với KL HT, GT và viết PTHH Rút ra nhận xét
1. TN oxi t/d với Sắt
2. TN oxi t/d với đồng
3. TN oxi t/d với natri
Nhận xét chung
* Chú ý:
+ GV cho HS biết hóa trị của các ntố trong oxit tạo thành và y/c HS lập CTHH.
+ Với các trường hợp không làm TN chỉ cho HS viết PTHH và rút ra nhận xét.
+ Hiện tượng: Mô tả ngắn gọn trạng thái, màu sắc, của
chất phản ứng và so sánh ( ghi dưới công thức chất ), ngọn
lửa...
Ví dụ 3.
*Tổ chức HĐN theo bàn cùng QS một số TN của GV, nhận xét rút ra KL.
Bài 32: PƯ oxi hóa - khử.
GV phân công nhóm và giao nhiệm vụ cho từng nhóm.
Để biết k/n phản ứng oxi hóa - khử, trước hết hãy tìm hiểu thế nào là sự khử. Mỗi
nhóm hãy đọc tóm tắt nội dung trong bài học bằng cách điền các nội dung còn thiếu vào
phiếu học tập.
+ Giao phiếu học tập cho nhóm trưởng. Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ cho
mỗi thành viên, thảo luận và ghi kết quả chung vào bảng sau:
Hoàn thành PTPƯ hidro
Quá trình HS viết
khử oxit KL
CuO+H2 to ...+... Oxi đã tách ra khỏi h/c.... Hiđro đã khử .... của .....
Hiđro đã chiếm oxi của ...
PbO+ H2 to Oxi đã tách ra khỏi h/c.... Hiđro đã khử .... của .....
...+... Hiđro đã chiếm oxi của ...
Fe2O3+H2 to ...+... Oxi đã tách ra khỏi h/c.... Hiđro đã khử .... của .....
Hiđro đã chiếm oxi của ...
HgO+ H2 to ...+... Oxi đã tách ra khỏi h/c.... Hiđro đã khử .... của .....
Hiđro đã chiếm oxi của ...
* KL: Sự khử là .......
2.2 áp dụng cho chương trình hóa học lớp 9.
Ví dụ 1.
Hoạt động nhóm nghiên cứu tính chất chung của axit
thông qua thí nghiệm nghiên cứu dd H2SO4 tác dụng với Cu(OH)2
và NaOH.
Hoạt động nhóm của học sinh có thể thực hiện như sau:
8
Các thành
Nhiệm vụ
viên
Nhóm trưởng Phân công điều khiển
Thư ký Ghi kết quả báo cáo của các thành viên
Các thành Quan sát trạng thái, màu sắc của dd H 2SO4
viên ,Cu(OH)2 và NaOH.
TN1. Nhỏ từ từ dd H2SO4 vào ống nghiệm đựng
Thành viên 1
dd Cu(OH)2.
TN2. Nhỏ từ từ dd H2SO4 vào ống nghiệm đựng
Thành viên 2
dd NaOH.
Các thành Quan sát hiện tượng sảy ra ở TN1, TN2,
viên giải thích và viết PTPƯ, rút ra kết luận.
Chỉ đạo các thành viên trong nhóm thảo
luận để rút ra kết luận đúng.
Nhóm trưởng
Báo cáo kết quả hoạt động của nhóm trước
lớp.
GV yêu cầu các nhóm HS điền KQ vào phiếu HT:
Thí nghiệm HT, GT, viết PTHH Rút ra nhận xét
1. H2SO4(l) t/d với Cu(OH)2
2. H2SO4(l) t/d với dd NaOH
có vài giọt fenolftalein.
Nhận xét chung
VD2. Khi HS nghiên cứu t/d của H2SO4(đ/n) và Cu.
*HĐ của GV và nhóm HS
HĐ của GV HĐ của nhóm HS
+ Nêu mục đích của TN. + Nghe để nắm được MĐ, NV.
+ nêu nhiệm vụ của nhóm HS: QS trạng
thái, màu sắc, của chất trước khi và sau khi
PƯ.
+ Cho HS QS trạng thái của H2SO4 và Cu + QS và mô tả:
+ Hãy dự đoán liệu có PƯ sảy ra không? Cu: Rắn màu đỏ
Vì sao? Hãy KT bằng TN: H2SO4: Lỏng , sánh không màu.
+ Làm TN: Cho Cu vào H2SO4(đ/n), đưa + Dự đoán:Không sảy ra PƯHH vì Cu
giấy quỳ ẩm vào miệng ống nghiệm. đứng sau H.
+ Có vì....
- QS mô tả HT:
+ Hãy giải thích HT: - Cu tan tạo dd màu xanh.
- Có khí mùi hắc bay ra, khí này làm quỳ
tím hóa đỏ...
9
- GT: Cu đã PƯ với H2SO4(đ/n), khí tạo
thành t/d với nước tạo thanhg axit làm đỏ
giấy quỳ, dd có màu xanh lam là CuSO4.
+ Hãy viết PTPƯ sảy ra khi biết khí tạo + Viết PTPƯ:
thành là SO2. Cu + H2SO4(đ/n) --> CuSO4+ SO2+
H2O
+ Qua PƯ này rút ra NX gì? (rắn,đỏ) (xanh) (
khí mùi hắc)
+ HĐN thảo luận rút ra NX: H2SO4(đ/n) t/d
được cả những KL kém HĐ như Cu nhưng
không giải phóng H2.
2. Tổ chức HĐN trong giờ TH hóa học.
+ Tùy theo điều kiện về dụng cụ, hóa chất có thể chia
lớp thành 4 hoặc 8 nhóm.
+ Mỗi nhóm HS thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Báo cáo mục đích mỗi thí nghiệm, các dụng cụ, hóa chất cần thiết, cách tiến hành
thí nghiệm, và những điểm lưu ý. Nghe báo cáo của các nhóm khác, bổ xung hoàn thiện.
- Tiến hành các thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên:
* Lắp dụng cụ nếu có, lấy hóa chất. Quan sát trạng thái, màu sắc trước phản ứng.
* Thực hiện thí nghiệm.
* Quan sát hiện tượng sảy ra, giải thích hiên tượng, dự đoán chất tạo thành, viết
phương trình phản ứng.
VD1. Tổ chức HĐN HS thực hành bài TN bài 39 SGK hóa học 8.
TN3. Nước tác dụng với điphotpho penta oxit.
HĐN có thể là:
HĐ của GV HĐ của nhóm HS do nhóm trưởng phân công
+ HS1. MĐ TN. + KT t/d của nước với P2O5
1. Y/C đại diện các nhóm
+ HS2. Dụng cụ hóa chất. + Bình TT, muỗng sắt, đèn
báo cáo MĐ, Dc, HC cần
cồn, khí O2, Pđỏ, nước, giấy
cho TN.
quỳ tím.
+ TN gồm 2 TN nhỏ: + Đốt mẩu Pđỏ ngoài kk rồi
HS3. Đ/C P2O5 đưa nhanh vào bình O2, đậy
HS4. Cho P2O5 t/d với nút bông tẩm xút.
2. Y/C đại diện nhóm nêu
nước, xđ chất tạo thành. + cho khoảng 2 ml nước
cách tiến hành TN.
vào bình lắc nhẹ.
+ cho vào bình 1 mẩu giấy
quỳ tím.
HS5&HS 6. Thực hiện + P cháy sáng có khói trắng
3. Y/C đại diện nhóm tiến
TN1. gồm những hạt liti.
hành TN, QS, mô tả, GT
HS7 &8. Thực hiện TN2. + Bột trắng tan dễ dàng
HT.
Các HS QS HT, mô tả Ht. trong nước tạo thành dd
10
Thư ký ghi chép KQ. không màu.
+ dd không màu làm quỳ
tím hóa dỏ.
+ Tất cả HS trong nhóm 4P + 5O2 --> 2 P2O5
đều ghi tường trình. (r, đỏ) (khí) (r,
+ TN. trắng)
+ HT, GT, PTHH. P2O5+ 3H2O--> 2H3PO4
4. Y/C ghi tường trình TN. + Rút ra NX. (r, trắng) ( dd không
màu)
dd H3PO4
+ oxit axit tác dụng với
nước tạo thành axit.
VD2. Tổ chức cho HS HĐN tiến hành TN TH hóa học 9.
TN2. PƯ của rượu etylic và axit axetic ( bài 49- SGK hóa học 9).
* HĐN có thể tổ chức như sau:
HĐ của GV HĐ của nhóm HS do nhóm trưởng phân công
+ HS1. MĐ TN. + Kiểm tra t/d của rượu
+ HS2. Dụng cụ hóa chất. etylic và axit axetic.
+ ống nghiệm chịu nhiệt,
1. Y/C đại diện các nhóm nút cao su có ống dẫn khí
báo cáo MĐ, Dc, HC cần xuyên qua, cốc nước lạnh, 1
cho TN. ống nghiệm khô sạch, đèn
cồn, giá TN, rượu etylic,
axit axetic, H2SO4(đ/n), nước
muối ăn bão hòa.
+ TN gồm 2 TN nhỏ: + Thực hiện TN:
2. Y/C đại diện nhóm nêu + HS3. Cho rượu etylic t/d
cách tiến hành TN. với axitaxetic có H2SO4(đ/n),
+ HS4. XĐ SP:
+ HS5 &HS6. Thực hiện + Có chất lỏng ở
TN 1. ống nghiệm ngâm
+ HS7&8. Thực hiện TN2. trong cốc nước
3. Y/C đại diện nhóm tiến
+ Các HS khác QS HT, mô lạnh. Mùi thơm
hành TN, QS, mô tả, GT xuất hiện.
tả HT.
HT.
+ Thư ký ghi chép KQ. + Tạo thành lớp chất lỏng
không màu, có mùi thơm,
nổi lên trên mặt nước.
+ Tất cả HS trong nhóm C2H5OH + CH3COOH
đều ghi tường trình. H2SO4đ/n
4. Y/C ghi tường trình TN.
+ TN. CH3COOC2H5
+ HT, GT, PTHH.
11
+ Rút ra NX. + C2H5OH t/d với
CH3COOH tạo thành este(
etyl axetat) có mùi thơm.
3. Kết luận.
PP dạy học tập hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học hóa học góp phần giúp học
sinh giải quyết một số nhiệm vụ học tập khó khăn cần có sự hợp tác giữa học sinh khá,
giỏi và học sinh trung bình, yếu. Phương pháp này giúp học sinh phát triển năng lực hợp
tác trong công việc, trong cuộc sống, khả năng tổ chức, điều khiển của học sinh.
Phương pháp này có thể vận dụng khi giải quyết những nhiệm vụ khó khăn, giúp
học sinh chủ động, tích cực xây dựng kiến thức mới, hoặc trong việc rèn kỹ năng thí
nghiệm thực hành. Không nên sử dụng tràn lan phương pháp này mà chúng ta cần sử
dụng có chọn lọc.
Các hoạt động chủ yếu khi thực hiện phương pháp dạy học tập hợp tác theo nhóm
nhỏ là:
+ Phân nhóm gồm nhóm trưởng, thư ký và các thành viên.
+ Giao nhiệm vụ cần thực hiện để xây dựng kiến thức, rèn kỹ năng, nên có phiếu
học tập rõ ràng.
+ Theo dõi định hướng uốn nắn trong quá trình học sinh thực hiện hoạt động
nhóm, chú ý việc phân công trách nhiệm các thành viên trong nhóm.
+ Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả, chia sẻ kinh nghiệm, hoàn thiện kiến
thức.
+ Giáo viên kết luận đánh giá kết quả, trong đó có hoạt động nhóm..
Có thực hiện đúng và đầy đủ quy trình dạy học theo phương
pháp học tập hợp tác theo nhóm nhỏ thì mới góp phần nâng cao
chất lượng giảng dạy bộ môn hóa học trong trường THCS.
Đ. Sử dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề nhằm tích cực hóa người học,
nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học:
1. Cách sử dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề nhằm tích cực hóa
người học, nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học.
Việc vận dụng phương pháp này cần thực hiên qua ba bước sau:
1.1 Nêu vấn đề:
Các vấn đề nảy sinh trong dạy học bộ môn hóa học THCS khi xuất hiện mâu thuẫn
nhận thức giữa cái biết và hiện tượng cần xem xét. Khi nêu vấn đề cần chú ý đến đối
tượng học sinh để nêu ra vấn đề phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng học
sinh.
1.2 Giải quyết vấn đề:
Giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề bằng cách gợi ý cho học sinhvận
dụng những kiến thức đã được học để giải quyết các vấn đề được nêu ra, từ đó tìm ra
kiến thức mới.
Giáo viên cung cấp các thông tin cần thiết, tạo cho học sinh các tình huống để giải
quyết vấn dề nhanh chóng, chính xác.
1.3 Kết luận vấn đề:
12
Sau khi học sinh sinh giải quyết vấn đề, giáo viên yêu cầu học sinh nêu kết luận về
vấn đề cần giải quyết, đồng thời giáo viên và học sinh bổ xung hoàn thiện, chuẩn hóa
kiến thức.
2.Vận dụng cụ thể:
Trong thực tế giảng dạy việc sử dụng dạy học nêu vấn đề cần linh hoạt và không nhất
thiết phải sử dụng tất cả các bước nêu và giải quyết vấn đề.
Ví dụ:
Trong khi dạy bài : Định luật bảo toàn khối lượng các chất, GV có thể thực hiện thí
nghiệm 2 như sau:
Lấy 2 cốc đựng dung dịch HCl và Na2CO3 riêng biệt và thực hiện tương tự. Hiện
tượng sảy ra: Kim của cân đã lệch sang trái, khối lượng của sản phẩm nhỏ hơn khối
lượng chất đem phản ứng.
Vấn đề đặt ra là: Vậy điều đó có trái với nội dung định luật không?
Giáo viên yêu cầu HS giải quyết vấn đề: Đó là do có sản phẩm có chất đã bay ra
khỏi dd do đó nên kim của cân đã bị lệch sang trái.
Khi dạy học các nội dung khác tương tự, có thể sử dụng dạy học nêu vấn đề một
cách linh hoạt giúp học sinh tích cực phát hiện, nêu và giải quyết vấn đề hóa học để tìm
ra kiến thức mới.
Tóm lại: Dạy học tích cực là quan điểm dạy học, bao gồm hệ thốngcác phương
pháp dạy học hóa học theo hướng giáo viên tổ chức học sinh tích cực, chủ động tìm tòi,
phát hiện xây dựng kiến thức mới. Đây là một thành tố quan trọng giúp đổi mới chương
trình sách giáo khoa và nâng cao cvhất lượng dạy học hóa học trong trường THCS.
E. Sử dụng phương pháp dạy học vấn đáp tìm tòi nhằm tích cực hóa hoạt
động học nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong trường THCS.
Phương pháp dạy học vấn đáp tìm tòi là phương pháp dạy học quan trọng có nhiều
ưu điểm. Muốn áp dụng có kết quả phương pháp này người giáo viên cần thiết kế đúng
hệ thống câu hỏi vấn đáp, xây dựng các loại câu hỏi chính phụ theo mứca độ nhận thức (
hiểu, biết, vận dụng), đồng thời phải biết tổ chức hoạt động vấn đáp tìm tòi.
Các công việc cụ thể như sau:
1. Thiết lập hệ thống câu hỏi trong vấn đáp tìm tòi:
Hệ thống câu hỏi của giáo viên giữ vai trò chỉ đạo có tính chất quyết định chất
lượng lĩnh hội kiến thức của cả lớp. Hệ thống câu hỏi đó hướng tư duy của học sinh đi
đúng hướng theo một logic hợp lý, kích thích tnhs tìm tòi trí tò mò khoa học và cả ham
muốn giải đáp của học sinh.
Hệ thống câu hỏi vấn đáp phải được lựa chọn sắp xếp hợp lý. Câu hỏi được phân
chia thành câu chính, câu phụ, câu phức tạp, câu đơn giản. Câu chính, câu phức tạp lại
được chia ra thành những vấn đề nhỏ hơn và phù hợp với trình độ học sinh nhưng không
nên chia quá nhỏ và rời rạc.
Câu hỏi cần được nêu ra một cách rõ ràng, đễ hiểu và chính xác phù hợp trình độ
học sinh.
Số lượng và tính phức tạp của câu hỏi cũng như mức độ phân chia câu hỏi phụ
thuộc vào:
13
+ Tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu.
+ Trình độ phát triển, kỹ năng, kỹ sảo của học sinh tham gia các bài học vấn đáp
tìm tòi.
2. Các loại câu hỏi trong dạy học vấn đáp tìm tòi.
* Dựa vào mục đích và nội dung vấn đề có thể chia ra:
+ Câu hỏi chính.
+ Câu hỏi phụ.
* Dựa vào những mức độ nhận thức khác nhau có thể chia ra:
+ Câu hỏi yêu cầu học sinh biết, nhớ lại hiện tượng sự kiện.
+ Câu hỏi yêu cầu học sinh hiểu, so sánh các sự vật hiện tượng.
+ Câu hỏi yêu cầu học sinh hiểu, hệ thống hóa, khái quát hóa.
+ Câu hỏi yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân của sự vật hiện tượng.
+ Câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học.
* Chú ý:
Khi xây dựng các loại câu hỏi vấn đáp tìm tòi chúng ta cần nghiên cứu kỹ sách
giáo khoa, sách tham khảo, tài liệu giảng dạy,... để xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp
với từng nội dung, từng mục trong từng loại bài.
Câu hỏi cần rõ ràng chỉ có một câu trả lời đúng.
Làm cho người học tìm tyòi trên cơ sở vận dụng các điều đã biết.
Khuyến khích người học hiểu hơn là ghi nhớ mà không hiểu.
Đem lại những phản hồi tức thì về kết quả cho cả giáo viên và học sinh.
Đảm bảo để bài học được triển khai vừa sức học sinh.
Gây được hứng thú học tập cho học sinh.
Tạo cho học sinh cơ hội hưởng thụ sự thành công và tìm ra cái mới trong học tập.
Tạo cơ hội để giáo viên phát hiện những khó khăn học sinh có thể gặp phải.
Cho phép đánh giá việc học của học sinh và việc dạy của giáo viên.
3. Tổ chức vấn đáp tìm tòi.
3.1 Quy trình tổ chức vấn đáp tìm tòi:
Giáo viên nêu câu hỏi cho cả lớp, yêu cầu học sinh suy nghĩ và chuẩn bị trả lời (
không chỉ định học sinh trả lời trước khi nêu câu hỏi).
Cả lớp suy nghĩ từ 1-2 phút.
Một số học sinh xin ý kiến trả lời.
Giáo viên chỉ định học sinh trả lời.
Giáo viên và học sinh nghe ý kiến trả lời của học sinh được chỉ định phát biểu.
Các học sinh khác theo dõi nhận xét , nêu ý kiến bổ xung chỉnh sửa.
Giáo viên nhận xét đánh giá xếp loại.
3.2 Những chú ý khi tổ chức quy trình vấn đáp tìm tòi ở lớp học.
Giáo viên đưa ra câu hỏi với thái độ khuyến khích, giọng nói ôn tồn nhẹ nhàng.
Thu hút học sinh vào nội dung câu hỏi, giành thời gian thích hợp cho học sinh suy
nghĩ.
Phân phối hợp lý số học sinh được chỉ định trả lời.
Có thể cho học sinh hoạt động theo cặp như sau:
+ Viết câu hỏi lên bảng.
14
+ Phân chia học sinh theo cặp (nhóm cặp hai).
+ Giao nhiệm vụ cho các cặp ( nội dung, thời gian).
+ Theo dõi kiểm tra công việc của các cặp.
+ Yêu cầu học sinh trả lời nhận xét và đánh giá câu trả lời.
Khi học sinh trả lời nhắc học sinh phát biểu cần giơ tay.
G. Sử dụng phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong nâng
cao chất lượng dạy học hóa ở trường THCS.
Nét đặc trưng chủ yếu của dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề là sự lĩnh hội
kiến thức thông qua đặt và giải quyết vấn đề. Đây cũng là một trong những phương pháp
dạy học tích cực đêm lại hiệu quả cao trong giảng dạy hóa học ở trường THCS. Để đạt
được kết quả trong vận dụng phương pháp dạy học này chúng ta cần thực hiện tốt các
công việc chính sau:
1. Đặt vấn đề.
+ Tạo tình huống có vấn đề (xây dựng bài toán nhận thức).
+ Phát biểu và nhận dạng vấn đề nảy sinh.
+ Phát biểu vấn đề cần giải quyết.
Những chú ý khi tạo tình huống có vấn đề:
Vạch ra những điều chưa biết, chỉ ra cái mới trong mối quan hệ cái đã biết, với cái
cũ. Trong đó điều chưa biết, cái mới là cái trung tâm của tình huống có vấn đề, sẽ được
khám phá ra trong giai đoạn giải quyết vấn đề ( đặt giả thiết, lập kế hoạch giải quyết vấn
đề vấn đề đó).
Tình huống đặt ra phải kích thích, gây hứng thú, nhận thứca đối với học sinh, tạo
cho học sinh ý thức tự giác tích cực trong hoạt động nhận thức .
Tình huống đưa ra phải phù hợp khả năng của học sinh, để học sinh căn cứ vào
những kiến thức cũ, để giải quyết được vấn đề đặt ra bằng hoạt động tư duy của học
sinh.
+ Câu hỏi nêu vấn đề của giáo viên cần phải chứa đựng các yếu tố sau:
Chứa đựng mâu thuẫn nhận thức: Có một hay vài khó khăn, đòi hỏi học sinh phải
tư duy, huy động và vận dụng các kiến thức đã có ( nghĩa là câu hỏi phản ánh được mối
liên hệ bên trong giữa điều đã biết và điều chưa biết).
Chứa đựng phương hướng giải quyết vấn đề, thu hẹp phạm vi tìm kiếm câu trả lời,
tạo điều kiện làm xuất hiện giả thiết, tạo điều kiện tìm ra được con đường giải quyết.
Gây được cảm xúc mạnh đối với học sinh khi nhận ra mâu thuẫn nhận thức liên
quan đến vấn đề.
2. Giải quyết vấn đề.
Gồm các bước sau:
2.1 Xây dựng các giả thuyết.
2.2 Lập kế hoạch giải quyết vấn đề.
2.3 Thực hiện giải quyết vấn đề, kiểm tra các giả thuyết bằng các phương pháp
khác nhau.
3. Kết luận:
Gồm các bước sau:
3.1 Thảo luận các kết quả thu được và đánh giá.
15
3.2 Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu.
3.3 Phát biểu kết luận.
3.4 Đề xuất vấn đề mới.
Tuy nhiên khi vận dụng phương pháp này chúng ta cần chú ý lựa chọn mức độ cho
phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh và nội dung cụ thể cảu từng bài thì hiệu quả
mới được nâng cao.
Ví dụ:
 Giáo viên nêu và giải quyết vấn đề ( Thuyết trình hoặc làm thí nghiệm).
 Giáo viên nêu vấn đề và tổ chức cho học sinh tham gia giải quyết vấn đề.
 Giáo viên nêu vấn đề và gợi ý học sinh tìm cách giải quyết vấn đề.
 Giáo viên cung cấp thông tin, tạo tình huống để học sinhphát hiện vấn đề và
giải quyết vấn đề.
 Học sinh tự phát hiện vấn đề, tự lực giải quyết và tự đánh giá.
2. Vận dụng dạy học nêu vấn đề khi giảng dạy hóa học ở trường THCS.
2.1 Vận dụng:
Dạy học nêu vấn đề khi giảng dạy hóa học ở trường THCS chỉ thực hiện trong
phạm vi hẹp trong một số bài cụ thể:
Ví dụ 1. Khi nghiên cứu thí nghiệm: Nhôm phản ứng với dd kiềm trong bài nhôm
ở lớp 9.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
+ Nêu vấn đề: Nhôm có đầy đủ TCHH + Nhóm HS : Thả dây nhôm vào ống
chung của kim loại, ngoài ra nhôm còn nghiệm đựng dd NaOH, có ống vuốt dẫn
có tính chất gì đặc biệt ? khí ra ngoài.
+ Hãy nghiên cứu thí nghiệm nhôm tác + Quan sát hiện tượng: Có khí thoát ra.
dụng với dd NaOH.
+ Gợi ý: Phản ứng này có mâu thuẫn với + Châm lửa đốt, khí cháy, ngọn lửa xanh
những điều đã học ? -> Khí tạo ra là H2.
+ Giải quyết mâu thuẫn: Điều này không
sai và không mâu thuẫn. Đó là do hợp + HS nêu vấn đề: Phản ứng Al với dd
chất của nhôm có tính chất đặc biệt, ta sẽ NaOH có mâu thuẫn với TC của KL đã
học ở lớp trên. học không ? Hay TN sai ?
Ví dụ 2. Khi nghiên cứu tính chất hóa học của axit sùnuric đặc nóng, với đồng thì
vấn đề xuất hiện là: Trái với tính chất của kim loại đã học đó là : Kim loại đứng sau hiđrô
trong dãy hoạt động hóa học đã phản ứng với axit. Điều này đúng hay sai ?
Ta hãy xem điều kiện và sản phẩm cảu phản ứng H2SO4 tác dụng với Cu như thế
nào ?
Học sinh phát biểu: H2SO4 đặc, nóng.
Cu kim loại hoạt động yếu ( đứng sau H)
Sản phẩm: Khí không màu, mùi khó chịu, làm đổi màu quỳ tím thành đỏ. dd
CuSO4 màu xanh.
* Kết luận: Điều này không mâu thuẫn gì với TCHH chung của axit và dd H2SO4
loãng. Đó là do TCHH đặc biệt của H2SO4 đặc, nóng....
16
IV. Kết luận:
Dạy học nêu và giải quyết vấn đề góp phần rất lớn trongviệc giúp học sinh tích cực
phát hiện kiến thức mới, và có thể áp dụng một cách linh hoạt hiệu qủa trong dạy học đặc
biệt là dạy kiến thức mới. Tuy nhiên muốn thật sự mang lại hiệu quả cao người dạy,
người học phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình thực hiện phương pháp này để tạo tịnh
huống, giải quyết tình huống một cách nhanh chóng, hiệu quả, chính xác nhất.
Bên cạnh việc thực hiện đổi mới PPGD để đáp ứng yêu cầu này vấn đề soạn giáo
án (thiết kế bài giảng) cũng phải được đổi mới cho phù hợp. Để thiết kế một bài soạn
trước khi lên lớp đáp ứng yêu cầu của đổi mới chương trình, SGK, PPGD thì người GV
cần phải lập được kế hoạch bài dạy có hiệu quả đáp ứng các yêu cầu của đổi mới nhằm
nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn hóa học trong trường THCS trên cơ sở SGK,
SGV các tài liệu tham khảo khác.
Dạy học tích cực đòi hỏi vai trò của người giáo viên là người thiết kế, tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động độc lập theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chủ động chiếm lĩnh
nội dung học tập, chủ động đạt được mục tiêu kiến thức cần đạt theo chương trình đổi
mới. Trên lớp học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã tuy nhiên quá trình
chuẩn bị đòi hỏi người giáo viên đầu tư nhiều công sứchơn, chu đáo hơn thì mới có thể
thực hiện giờ lên lớp đạt hiệu quả cao trên cương vị là người gợi mở, xúc tác, động viên
cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi tranh luận của học sinh. Do vậy người thầy
cũng cần quan tâm đúng mức trong công tác chuẩn bị bài giảng cụ thể như sau:
a. Xác định mục tiêu:
+ Mục tiêu học tập.
+ Mục tiêu phát triển.
+ Mục tiêu phân hóa.
+ Mục tiêu khả thi, căn cứ để đánh giá.
b. Soạn nội dung:
+ Tập chung vào hoạt động của học sinh.
+ Hoạt động học -> Hoạt động dạy.
+ Giáo viên <-> học sinh -> Kiến thức + phương pháp.
+ Học sinh <-> Học sinh.
c. Trên lớp:
+ Học sinh hoạt động là chính.
+ Học sinh thực hiện các công tác độc lập/ theo nhóm.
+ Giáo viên tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh.
* Mục tiêu cuối cùng là trong mỗi tiết học học sinh được :
+ Hoạt động nhiều hơn.
+ Thực hành nhiều hơn.
+ Thảo luận nhiều hơn.
+ Suy nghĩ nhiều hơn.
Để tiết dạy thực sự hiệu quả người gaío viên cần thực hiện đầy đủ quy trình thiết
kế 1 bài học:
Bước 1: Xác định mục tiêu của bài.
+ Là cái đích cần đạt sau mỗi bài học.
17
+ Mục tiêu của bài học chỉ đạo toàn bộ nội dung, phương pháp dạy học, nội dung
phương pháp đánh giá.
+ Mục tiêu của bài gồm ba thành tố: Kiến thức, kỹ năng, thái độ.
+ Khi xác định mục tiêu, cần chú ý đến những kiến thức và đặc biệt là các kỹ năng
thái độ ẩn chứa trong nội dung từng bài.
+ Trong mục tiêu nêu rõ sau khi học song phần đó học sinh biết cách tiến hành
hoạt động để có thể có được kiến thức mới nào?kỹ năng mới nào ?có thái độ tích cực gì ?
+Các bài soạn thuộc mỗi dạng bài có thể có những mục tiêu chung, chỉ khác nhau
ở đối tượng cụ thể.
Bước 2. Chuẩn bị đồ dùng dạy học.
Cần chuẩn bịo đủ, đúng các đồ dùng dạy học cần thiết, các hóa chất cụ thể, các
phương tiện cần thiết phục vụ cho bài dạy một cách chu đáo. ( Cho từng cá nhân, cho
từng nhóm,...).
Bước 3. Xác định phương pháp dạy học chủ yếu.
Cần xác định phương pháp dạy học đơn giản xong phải hiệu quả và phù hợp với đối
tượng học sinh trên cơ sở mục tiêu cuả bài học. Phối kết hợp nhuần nhuyễn giữa các
nhóm phương pháp dạy học với nhau một cách sáng tạo.
Bước 4. Thiét kế các hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp.
Có thể chia ra các hoạt động kế tiếp nhau. Mỗi hoạt động nhằm thực hiện một nhiệm vụ
cụ thể hóa mục tiêu bài học. Trong các hoạt động đó có thể gồm các hoạt động cơ bản
khác nhau để thực hiện mục tiêu đó.
Các hoạt động này được sắp xếp hợp lý lôgic có dự kiên sthời gian cụ thể.
Hoạt động của giáo viên và học sinh trong một tiết học được chia theo quá trình của tiết
học, có thể phân chia thành:
* Hoạt động khởi động: Hoại động này có thể là mở đầu, có thể nêu mục tiêu của bài ,
kiểm tra bài cũ, nêu vấn đề của bài mới, một câu chuyện có liên quan đến bài học,...
* Tiếp theo sau của hoạt động khởi động là hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của bài
học về kiến thức, kỹ năng bao gồm:
- Hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức mới.
- Hoạt động củng cố.
- Hoạt động để hình thành kỹ năng.
Cuối cùng là hạot động kết thúc tiết học, bao gồm:
- Hoạt động đánh giá.
- Ra bài tập về nhà và dặn dò chuẩn bị cho bài sau.
Bước 5. Ra bài tập để học sinh tự đánh giá và vận dụng kiến thức.
Câu hỏi và bài tập để học sinh tự đánh giá và vận dụng kiến thức sau mỗi tiết học
cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
- bám sát mục tiêu đề ra.
- Đảm bảo kiểm tra đánh giá được kiến thức kỹ năng cơ bản sau mỗi tiết học.
- Kiểm tra được nhiệu học sinh.
- Đảm bảo thời gian.
Bước 6. Dặn dò, ra bài tập về nhà.
18