Luận văn quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự lý luận và thực tiễn

  • 13 trang
  • file .pdf
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu 2
6. Kêt cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TRANH TỤNG TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ 4
1.1. Khái quát chung về tranh tụng và quyền tranh tụng trong
tố tụng dân sự 4
1.1.1. Khái niệm về tranh tụng và quyền tranh tụng trong tố tụng dân
sự 4
1.1.2. Vai trò, đặc điểm của tranh tụng trong tố tụng dân sự 6
1.1.2.1. Vai trò của tranh tụng trong tố tụng dân sự 6
1.1.2.2. Đặc điểm của tranh tụng trong tố tụng dân sự 7
1.2. Lược sử quy định về quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự 10
1.2.1. Thông tư 96 – NCPL ngày 08/02/1977 của Tòa án nhân dân tối
cao (Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm dân sự) 10
1.2.2. Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989 10
1.2.3. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật tố tụng dân sự 11
1.2.4. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 12
1.3. Mục đích của hoạt động tranh tụng trong tố tụng dân sự 15
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRANH
TỤNG VÀ CƠ CHẾ ĐẢM BẢO QUYỀN TRANH TỤNG
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 19
2.1. Quy định của pháp luật về quyền tranh tụng trong tố tụng
dân sự 19
2.1.1. Căn cứ pháp lý của quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự 19
2.1.2. Thời điểm tranh tụng trong tố tụng dân sự 22
2.1.3. Các giai đoạn tố tụng mà chủ thể thực hiện quyền tranh tụng 24
2.1.3.1. Thụ lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử 24
2.1.3.2. Xét xử sơ thẩm 29
2.1.3.3. Xét xử phúc thẩm 32
2.2. Vai trò của chủ thể trong hoạt động tranh tụng 35
2.2.1. Chủ thể tiến hành tố tụng 35
2.2.1.1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân 35
2.2.1.2. Kiểm sát viên 36
2.2.2. Người tham gia tố tụng 39
2.2.2.1. Đương sự 39
2.2.2.2. Người đại diện hợp pháp của đương sự 42
2.2.2.3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 42
2.3. Cơ chế đảm bảo thực hiện quyền tranh tụng trong tố tụng
dân sự 44
2.3.1. Quy định của pháp luật về cơ chế đảm bảo thực hiện quyền
tranh tụng 44
2.3.2. Hoạt động áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền 46
2.3.2.1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân 46
2.3.2.2. Kiểm sát viên 48
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN QUYỀN TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG
DÂN SỰ 52
3.1. Thực trạng về vấn đề thực hiện quyền tranh tụng 52
3.2. Hạn chế trong quy định của pháp luật về quyền tranh tụng 58
3.3. Kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện quyền
tranh tụng trong tố tụng dân sự 62
3.3.1. Hoàn thiện pháp luật Tố tụng dân sự 62
3.3.2. Kiến nghị về các hoạt động thực hiện quyền tranh tụng của 64
chủ thể tiến hành tố tụng
3.3.3. Kiến nghị về vai trò của người tham gia tố tụng trong việc thực
hiện quyền tranh tụng 68
3.3.4. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
trong nhân dân 69
Một số kiến nghị về các vấn đề khác có liên quan đến việc
3.3.5. thực hiện quyền tranh tụng 70
Đề tài: Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự: Lý luận và thực tiễn
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quyền tranh tụng là một trong những nội dung quan trọng, mang tính đột phá
trong cải cách tư pháp. Hiện nay ở nước ta đã được xác định trong Nghị quyết 08-
NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong
thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định phải đổi mới việc tổ chức phiên
tòa xét xử, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, đây được coi là
khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước
về cải cách tư pháp, khoản 5 điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Nguyên
tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” và từ đó gần đây nhất là Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015 đã thể hiện rõ quy định về “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử”
thành một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự.
Quyền tranh tụng không chỉ được nhắc đến trong thực tiễn tiến hành tố tụng
đối với các vụ án dân sự mà quyền tranh tụng còn được quy định ngay trong quá
trình lập pháp, cụ thể là quy định của pháp luật về thời điểm tranh tụng, chủ thể
trong hoạt động tranh tụng, cơ chế đảm bảo quyền tranh tụng, v.v… Phải nói rằng,
tranh tụng có vai trò rất quan trọng trong hoạt động tố tụng. Trước tiên, tranh tụng
góp phần xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự. Tranh tụng thực chất là
hoạt động mà trong đó các bên tham gia tố tụng có quyền thực hiện việc chứng
minh cho yêu cầu của mình là hợp lý, xác đáng và đúng theo pháp luật. Quyền tranh
tụng chính là việc cho phép các bên tham gia tố tụng có quyền chứng minh cho yêu
cầu của mình, đặc biệt là chứng minh tại phiên tòa. Pháp luật tố tụng cho phép các
chủ thể có quyền thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và được tranh luận tại phiên
tòa. Tòa án chỉ có thể nhận thức một cách đầy đủ, chính xác, khách quan sự thật về
vụ việc khi nghe các bên trình bày những ý kiến, nguyện vọng và xem xét những
chứng cứ mà các bên đưa ra để chứng minh.
Nhiệm vụ của hoạt động tố tụng không chỉ là giải quyết đúng đắn, khách quan
vụ án, bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, mà còn giáo
dục công dân tuân thủ luật pháp, ngăn ngừa vi phạm pháp luật. Tuy nhiên thời gian
GVHD: Diệp Huyền Thảo Trang 1 SVTH: Nguyễn Thị Phương Tuyền
Đề tài: Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự: Lý luận và thực tiễn
qua, thực tiễn cho thấy công dân Việt Nam chưa nhận thức rõ và nắm được các
quyền và lợi ích của mình trong hoạt động tranh tụng. Cũng như việc quy định về
quyền tranh tụng mới được nhắc đến trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và nguyên
tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử của chủ thể có thẩm quyền còn chưa hiệu quả,
dẫn đến vẫn còn nhiều vướng mắc tồn động. Nhận thấy được tầm quan trọng đó,
người viết quyết định chọn đề tài “Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự: lý
luận và thực tiễn” để làm luận văn tốt nghiệp cử nhân luật.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu về Quyền tranh tụng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân
sự năm 2015. Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về quyền tranh tụng để
thấy được sự tiến bộ, hoàn thiện của pháp luật tố tụng dân sự trong việc bảo đảm
quyền công dân cũng như sự phù hợp giữa pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc
tế về quyền tranh tụng của công dân trong pháp luật tố tụng. Từ những nghiên cứu
lý luận và thực tiễn, người viết nêu ra những vướng mắc còn tồn tại của quy định
pháp luật về quyền tranh tụng. Song, thông qua nghiên cứu, người viết đưa ra
những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tranh tụng rong
tố tụng dân sự.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong đề tài nghiên cứu “Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự: lý luận
và thực tiễn”, người viết tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về
quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự. Mà chủ yếu là trong hoạt động giải quyết vụ
án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được người viết nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Ngoài ra, người
viết còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp so
sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp để nghiên cứu nội dung của đề
tài, để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu về lý luận và về thực tiễn.
5. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
Từ việc nghiên cứu những điểm mới của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, đề
tài giúp đọc giả thấy được điểm tiến bộ phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà
GVHD: Diệp Huyền Thảo Trang 2 SVTH: Nguyễn Thị Phương Tuyền
Đề tài: Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự: Lý luận và thực tiễn
nước và pháp luật trong vấn đề bảo đảm quyền tranh tụng của công dân trong tố
tụng dân sự. Nâng cao tầm hiểu biết của người dân đối với quyền tranh tụng trong
tố tụng dân sự, để từ đó bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Song,
bài viết sẽ là nguồn cho các nghiên cứu khoa học nối tiếp hay là tài liệu tham khảo
cho việc học tập hoặc nghiên cứu pháp luật. Đồng thời có thể là tài liệu cho Tòa án,
Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng dân sự.
6. KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị thì nội dung chính của
luận văn gồm:
Chương I: Lý luận chung về quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự.
Chương II: Quy định của pháp luật về quyền tranh tụng và cơ chế đảm bảo
thực hiện quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự.
Chương III: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tranh
tụng trong tố tụng dân sự.
GVHD: Diệp Huyền Thảo Trang 3 SVTH: Nguyễn Thị Phương Tuyền
Đề tài: Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự: Lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TRANH TỤNG TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRANH TỤNG VÀ QUYỀN TRANH
TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm tranh tụng và quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự
- Tố tụng dân sự: “là trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án
hoặc việc dân sự liên quan đến các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động” 1. Khi chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của
mình hay của người khác bị xâm hại và trong phạm vi pháp luật cho phép, họ có thể
thực hiện việc tự bảo vệ bằng một trình tự tố tụng, trình tự này được gọi là tố tụng
dân sự. Do đó, khi tham gia vào tố tụng dân sự, các chủ thể của quan hệ pháp luật tố
tụng có yêu cầu khởi kiện vụ án đến Tòa án thì khi đó các chủ thể đã phát sinh tranh
chấp, mâu thuẫn với nhau về quyền và nghĩa vụ. Các bên đã xâm phạm đến quyền,
lợi ích của nhau mà không thể điều hòa và có thể việc hòa giải cơ sở cũng không
giải quyết được. Do đó, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc dân sự, có
thể các bên sẽ tự thỏa thuận được với nhau hoặc có những yêu cầu mà bên đương sự
này đưa ra, phía bên kia không chấp nhận hoặc phản bác lại bằng cách đưa ra yêu
cầu đối kháng. Khi đó, những vấn đề mà các bên còn tranh chấp thì Tòa án sẽ mở
thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án. Trong quá trình đó Tòa án sẽ tạo điều kiện cho
các bên tranh tụng, tiếp tục bàn bạc giải quyết về các vấn đề còn tranh chấp đó.
Tranh tụng được hiểu: theo từ điển Hán Việt thì tranh tụng có nghĩa là “cái
lẽ, cãi nhau để tranh lấy phần phải” 2. Tức là bàn cãi có phân tích lí lẽ để tìm ra lẽ
phải, yêu cầu xét xử việc người khác đã làm thiệt hại đến mình. Còn theo Đại từ
điển Tiếng Việt thì tranh tụng là việc “kiện tụng” 3. Theo cách giải thích này, thì
tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ kiện dân sự, theo đó các đương sự được
tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Do đó, tranh luận chỉ đặt ra khi cá nhân, cơ quan, tổ chức cho rằng quyền lợi
của họ hay của người khác bị xâm phạm và yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ
cho họ. Yêu cầu này được Tòa án chấp nhận giải quyết theo trình tự tố tụng pháp
1
Giáo trình luật Tố tụng dân sự của Đại học luật Hà Nội (2012), NXB: Công an nhân dân.
2
Xem: Từ điển Hán Việt - tái bản: 03/02/2002 (Đào Duy Anh), NXB: Khoa học xã hội.
3
Xem: Đại từ điển Tiếng Việt (2008), NXB: Đại học quốc gia TP.HCM.
GVHD: Diệp Huyền Thảo Trang 4 SVTH: Nguyễn Thị Phương Tuyền
Đề tài: Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự: Lý luận và thực tiễn
luật quy định nếu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Vì vậy, tranh tụng là một
quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm
các giai đoạn khởi kiện, thu thập chứng cứ, đối chất giữa các bên đương sự mà còn
ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được
tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án,
quyết định về vụ kiện bị Tòa án cấp trên huỷ theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
để tiến hành xét xử lại.
- Bộ luật tố tụng dân sự có quy định về quyền tranh tụng. Tuy nhiên không đưa
ra một khái niệm rõ ràng về quyền tranh tụng. Thông qua tìm hiểu các tài liệu
nghiên cứu có được, theo quan điểm của người viết thì: Quyền tranh tụng được
hiểu là quyền mà các bên tham gia tố tụng chứng minh, bảo vệ yêu cầu của mình là
hợp pháp, quyền tranh luận với nhau thông qua các chứng cứ, lý lẽ, lập luận trong
quá trình giải quyết vụ việc nhằm chứng minh những yêu cầu của mình hoặc chứng
minh cho những phản bác của mình đối với bên kia là xác đáng, có căn cứ, có cơ sở
và đúng pháp luật giữa các bên có quyền lợi đối lập nhau (bao gồm đương sự hoặc
người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan), nhằm mục đích là bảo vệ được
quyền và lợi ích của mình trong suốt cả quá trình tố tụng.
- Ở các giai đoạn đầu của quá trình tố tụng các bên thực hiện quyền tranh tụng
bằng cách đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình mà không trực
tiếp tranh luận. Đến giai đoạn xét xử tại phiên tòa thì quyền tranh tụng được thể
hiện thông qua sự tranh luận trực tiếp của các bên. Tại phiên tòa xét xử, sau thủ tục
xét hỏi của Hội đồng xét xử là phần tranh luận của các bên đương sự. Tại giai đoạn
này, những vấn đề mà các đương sự còn tranh chấp chưa giải quyết được hoặc
những yêu cầu nào mà các bên đương sự không chấp nhận thì được quyền đối đáp
với nhau để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình. Đồng thời, các đương sự khi tham
gia tranh luận có quyền phản đối lại bất kỳ yêu cầu nào của bên kia nếu cho rằng
yêu cầu của bên kia đưa ra là không đúng quy định của pháp luật tố tụng. Như vậy,
thực chất của hoạt động tranh luận chính là việc các bên sử dụng quyền tranh tụng
của mình trình bày ý kiến trước Hội đồng xét xử.
GVHD: Diệp Huyền Thảo Trang 5 SVTH: Nguyễn Thị Phương Tuyền
Đề tài: Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự: Lý luận và thực tiễn
1.1.2. Vai trò và đặc điểm của tranh tụng trong tố tụng dân sự
1.1.2.1. Vai trò của tranh tụng trong tố tụng dân sự
Việc xét xử vụ việc dân sự trong tố tụng dân sự thực chất là giải quyết xung
đột những tranh chấp có liên quan đến quyền và lợi ích của các đương sự. Đương sự
là người đưa ra yêu cầu, kết quả của việc giải quyết vụ việc liên quan đến quyền và
nghĩa vụ của chính họ nên họ phải có trách nhiệm cung cấp chứng cứ và chứng
minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Bên cạnh đó, ngoài việc đưa
ra chứng cứ vật thể để chứng minh cho các yêu cầu thì các đương sự còn phải tranh
luận, đối đáp bằng các lý lẽ, lập luận, cơ sở pháp lý. Dựa vào đó Tòa án xác định sự
thật khách quan trong khi giải quyết vụ án. Trong tố tụng dân sự, tranh tụng là hoạt
động trọng tâm có tính chất quyết định để Hội đồng xét xử ra phán quyết công
minh, đúng pháp luật và có tính thuyết phục để bản án được thi hành một cách
nhanh chóng, hạn chế trường hợp kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, hoặc bị kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Vì vậy tranh tụng trong tố
tụng dân sự có các vai trò quan trọng sau đây góp phần vào quá trình Tòa án thụ lý,
giải quyết vụ án như:
Đối với đương sự, việc tranh tụng trong suốt quá trình tố tụng sẽ bảo vệ được
quyền và lợi ích hợp pháp của chính bản thân đương sự. Ở giai đoạn thụ lý giải
quyết vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử mặc dù các đương sự không thể tranh luận
trực tiếp với nhau nhưng tranh tụng được thực hiện dưới hình thức gián tiếp thông
qua việc trình bày ý kiến, đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập cũng như việc
đưa ra các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình lên Tòa án. Đến giai đoạn
xét xử sơ thẩm thì quyền tranh tụng của đương sự mới được thể hiện trực tiếp thông
qua hình thức đối đáp trực tiếp tại phiên tòa, ở giai đoạn này người tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng và cả những người tham dự phiên toà được tham dự
một cách toàn diện, tập trung ý kiến của các bên đương sự về đánh giá chứng cứ,
mâu thuẫn, thể hiện quan điểm của họ về việc giải quyết mâu thuẫn trong vụ việc
dân sự. Đồng thời, để Tòa án có thể chấp nhận yêu cầu của mình, các bên đương sự
sử dụng quyền tranh tụng như là một phương tiện hữu hiệu để phân tích, lập luận,
đưa ra lý lẽ, căn cứ pháp lý thông qua việc tranh luận tại tòa nhằm làm sáng tỏ các
tình tiết cần chứng minh của vụ việc, từ đó có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp
pháp của chính họ.
GVHD: Diệp Huyền Thảo Trang 6 SVTH: Nguyễn Thị Phương Tuyền
Đề tài: Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự: Lý luận và thực tiễn
Đối với Hội đồng xét xử, việc tranh tụng của các đương sự, người đại diện hợp
pháp, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thì Hội đồng xét xử sẽ có
điều kiện kiểm tra, đánh giá, xác minh lại các chứng cứ đã thu thập ở các giai đoạn
trước, xem xét lại các tình tiết của vụ án. Đồng thời, đánh giá được một cách toàn
diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của đương sự, quan hệ pháp luật dân sự
giữa các đương sự cần giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử dụng để giải quyết vụ
án. Để Hội đồng xét xử đưa ra quyết định đúng đắn, phù hợp, đảm bảo quyền lợi
của các bên đương sự trong vụ án đúng theo quy định của pháp luật.
Do đó, trong quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật thì Tòa án cần đảm bảo cho các bên thực hiện quyền
tranh tụng với các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi vì tranh tụng có vai trò
quan trọng trong khi giải quyết vụ việc dân sự đối với đương sự cũng như đối với
Hội đồng xét xử trong hoạt động tố tụng dân sự.
1.1.2.2. Đặc điểm của tranh tụng trong tố tụng dân sự
Trong tố tụng dân sự thì dễ dàng thấy được rằng tranh tụng thể hiện tính chất
dân chủ, công khai, minh bạch. Tranh tụng tạo điều kiện tối đa cho các bên bảo vệ
quyền và lợi ích của mình. Trong tranh tụng thì vai trò của luật sư, vai trò của cá
nhân, các quyền cơ bản của con người được đề cao, Thẩm phán được coi như là
người trọng tài, ra phán quyết dựa trên kết quả tranh tụng của các bên trong quá
trình tố tụng. Đây vừa là ưu điểm vừa là nhược điểm của tranh tụng. Là ưu điểm bởi
vì các bên hoàn toàn tự chứng minh được những gì mình muốn, những gì minh cho
là đúng, việc chứng minh này có thể là công khai trước tòa hoặc là thông qua các
biện pháp khác như thu thập chứng cứ, trình bày các ý kiến phản đối lại yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn hay đưa ra yêu cầu phản tố, các bên luôn bị sức ép từ
phía đối kháng. Vì vậy, mục đích của các bên tham gia tố tụng muốn đạt được là
phải chứng minh được yêu cầu của mình là hợp pháp. Tuy nhiên, tranh tụng cũng có
nhược điểm là: quá trình tranh tụng đòi hỏi người tham gia có kiến thức pháp lý,
hiểu biết pháp luật chẳng hạn như luật sư thì mới biết rõ quy định của pháp luật và
có thể dễ dàng đi thu thập chứng cứ, trình bày những mấu chốt sự việc để chứng
minh cho yêu cầu của mình.
Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định các chủ thể tham gia tranh tụng bình đẳng
và có quyền lợi, nghĩa vụ ngang nhau. Vì vậy, tranh tụng trong tố tụng dân sự có các
GVHD: Diệp Huyền Thảo Trang 7 SVTH: Nguyễn Thị Phương Tuyền
Đề tài: Quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự: Lý luận và thực tiễn
đặc điểm sau:
Một là, trách nhiệm chứng minh thuộc về các bên tham gia tranh tụng, Tòa án
không có nghĩa vụ chứng minh
Trong tố tụng dân sự, các đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh
chấp hoặc họ là người đưa ra yêu cầu, khiếu nại, họ là người biết rõ nguyên nhân,
điều kiện phát sinh tranh chấp, vì vậy họ phải có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề
chứng tỏ cho Tòa án và những người tham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn
trong yêu cầu của mình, đồng thời phải chứng minh được rằng bị đơn phải có nghĩa
vụ đối với yêu cầu của mình. Trong suốt quá trình tố tụng bên nguyên đơn và bên bị
đơn liên tục tranh luận với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng
minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ sở các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự. Theo Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì:
“Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu
thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu
đó là có căn cứ và hợp pháp”. Do đó, Tòa án không có nghĩa vụ tiến hành chứng
minh sự thật của vụ án, Tòa án chỉ làm nhiệm vụ hỗ trợ cho các đương sự trong việc
thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Bởi vì nếu Tòa án chủ động thu thập chứng cứ thì
sẽ không đảm bảo sự khách quan, vô tư và công minh trong việc phân xử vụ án,
không tồn tại được quyền tự định đoạt của đương sự đồng thời không phát huy được
tính chủ động, tích cực của các đương sự tạo nên tâm lý ỷ lại cho các đương sự
trong việc chứng minh sự thật của vụ án.
Hai là, tranh tụng thông qua hình thức trực tiếp và gián tiếp
Khi tiến hành giải quyết vụ án dân sự các bên có thể tranh tụng dưới hình thức
trực tiếp hoặc gián tiếp. Sau khi thụ lý vụ án dân sự, Tòa án có trách nhiệm gửi
thông báo về việc thụ lý vụ án cho đương sự và các chủ thể có liên quan trong vụ
án. Trong giai đoạn này, các đương sự có thể trình bày ý kiến với tòa án về nội dung
của việc khởi kiện, bị đơn có thể đưa ra các yêu cầu phản tố, người liên quan có thể
đưa ra yêu cầu độc lập. Các đương sự phải có nghĩa vụ thu thập các chứng cứ để
chứng minh hay phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu độc lập của mình. Đây cũng được coi là một hình thức
của việc tranh tụng vì thông qua các hình thức này, các bên đang gián tiếp tranh
tụng với nhau, mặc dù không được trực tiếp đối đáp như tại phiên tòa.
GVHD: Diệp Huyền Thảo Trang 8 SVTH: Nguyễn Thị Phương Tuyền