Luận văn pháp luật về thu ngân sách địa phương thực tiễn áp dụng tại thành phố hồ chí minh

  • 14 trang
  • file .pdf
MỤC LỤC
Lời cam đoan ..................................................................................................................... i
Lời cảm ơn.........................................................................................................................ii
Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt ......................................................................................... v
Danh mục các hình ...........................................................................................................vi
MỞ ĐẦU........................................................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI .........................................................................1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ...................................................................................2
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU......................................................2
4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .................................................................................2
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .........................................................................3
6. TÍNH MỚI VÀĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI .........................................................3
7. KẾT CẤU LUẬN VĂN ..........................................................................................4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNGVÀ PHÁP
LUẬT VỀ THU NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG........................................................... 5
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ................................................5
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của ngân sách Nhà nước ..........................................5
1.1.2. Vai trò của ngân sách Nhà nước .....................................................................7
1.2. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG .............................................9
1.2.1. Khái niệm ngân sách địa phương ...................................................................9
1.2.2. Đặc điểm ngân sách địa phương .................................................................. 10
1.2.3. Vai trò ngân sách địa phương ...................................................................... 10
1.3. PHÁP LUẬT VỀ THU NGÂN SÁCH ............................................................ 11
1.3.1. Khái niệm pháp luật về thu ngân sách địa phương ..................................... 11
1.3.2. Chủ thể của pháp luật thu ngân sách địa phương........................................ 12
1.3.3. Nội dung của pháp luật thu ngân sách địa phương ..................................... 13
1.3.3.1. Thẩm quyền của địa phương về thu ngân sách .................................... 13
1.3.3.2. Nguồn thu ngân sách địa phương ........................................................ 19
1.3.3.3. Điều hòa ngân sách giữa trung ương và địa phương .......................... 20
1.3.3.4. Quyết toán ngân sách địa phương........................................................ 24
1.3.3.5. Giám sát về ngân sách địa phương ...................................................... 27
iii
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀTHU NGÂN SÁCH ĐỊA
PHƯƠNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHVÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ...32
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THU NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG .......................... 32
2.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế-xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh và vấn đề thu
ngân sách địa phương............................................................................................. 32
2.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về thu ngân sách tại thành phố Hồ Chí Minh ...... 35
2.1.2.1. Thẩm quyền về thu ngân sách tại Thành phố Hồ Chí Minh ................ 36
2.1.2.2. Nguồn thu ngân sách tại Thành phố Hồ Chí Minh .............................. 37
2.1.2.3. Điều hòa ngân sách giữa Trung ương vàThành phố Hồ Chí Minh .... 42
2.1.2.4. Quyết toán ngân sách tại Thành phố Hồ Chí Minh ............................. 44
2.1.2.5. Giám sát về thu ngân sách tại Thành phố Hồ Chí Minh ..................... 45
2.1.2.6. Đánh giá chung về tình hình thực hiện pháp luật thu ngân sách tại Thành
phố Hồ Chí Minh................................................................................................ 46
2.2. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU NGÂN SÁCH ĐỊA
PHƯƠNG.................................................................................................................. 51
2.2.1. Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về thu ngân sách địa phương................. 51
2.2.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về thu ngân sách địa phương................. 52
2.2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thu ngân sách địa phương .................... 53
2.2.3.1. Thẩm quyền về thu ngân sách .............................................................. 53
2.2.3.2. Về nguồn thu ngân sách........................................................................ 55
2.2.3.3. Về điều hòa ngân sách giữa Trung ương và địa phương. ................... 57
2.2.3.4. Về quyết toán ngân sách ....................................................................... 59
2.2.3.5. Về giám sát ngân sách .......................................................................... 60
KẾT LUẬN ....................................................................................................................65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................66
iv
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
HĐND: Hội đồng nhân dân
NSĐP: Ngân sách địa phương
NSNN: Ngân sách nhà nước
NSTW: Ngân sách trung ương
UBND: Ủy ban nhân dân
TP. HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu hình Tên hình Trang
Hình 1.1 Sơ đồ Cấu trúc thu ngân sách địa phương 19
Cơ cấu thu ngân sách Trung ương và thu ngân sách địa phương
Hình 2.1 trong tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ 35
Chí Minh giai đoạn 2011 – 2016
Cơ cấu các khoản thu ngân sách Trung ương hưởng 100% phát
Hình 2.2 35
sinh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011-2016
Cơ cấu các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và
Hình 2.3 38
ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2014
Tỷ trọng các nguồn thu nội địa Thành phố Hồ Chí Minh được
Hình 2.4 39
hưởng 100% trong giai đoạn 2009-2014
vi
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Những năm gần đây cùng với sự đổi mới chính sách đường lối của Đảng và Nhà
nước, đất nước ta đã có sự thay da đổi thịt khi dám hòa mình vào hội nhập nền kinh tế
thế giới,và ngày càng có nhiều chuyển biến rõ rệt về kinh tế xã hội. Ngân sách nhà
nướckhông chỉ với vai trò là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất trong nền kinh tế mà còn là
công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị
trường, bình ổn giá cả, định hướng hình thành nền kinh tế mới và là công cụ điều chỉnh
xã hội.
Thu ngân sách địa phương là một vấn đề được nhiều nhà quản lý quan tâm, bởi
nó quyết định đến sự ổn định về mặt nội hàm bên trong một quốc gia. Việc thu ngân
sách địa phương có hợp lý, đúng đắn mới có được một bộ máy chính quyền vững mạnh
trong sạch, nhân dân ấm no hạnh phúc, và đất nước ngày càng phát triển đón đầu những
xu thế mới của thời đại.
Nhưng thực tế cho thấy, tình hình kinh tế nước ta hiện nay chưa ổn định trong đó
có nguyên nhân của việc thu và chi tiêu ngân sách địa phương không hợp lý và không
hiệu quả khiến cho NSĐP luôn rơi vào tình trạng bị thâm hụt. Nguồn thu của ngân sách
hiện tại còn rất nhiều hạn chế, một mặt do hành lang pháp lý chưa rõ ràng, nhiều lỗ
hổng, đặc biệt trong vấn đề thuế, mặt khác do đầu tư kém hiệu quả,…dẫn đến sử dụng
NSĐP chưa hợp lý là một vấn đề cần được nghiên cứu giải quyết.
Sự phát triển của địa phương góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của
đất nước. Cũng tương tự như vậy, NSĐP cùng với NSTW là nền tảng cho NSNN. Vị trí
và vai trò của NSĐP ngày càng được khẳng định. Cũng như sự tác động của NSNN đối
với sự phát triển của một quốc gia, NSĐP cũng góp phần không nhỏ vào sự phát triển
của một địa phương.Do đó trong thời gian qua, công tác quản lý NSĐP ngày càng trở
nên quan trọng. Với tư cách là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của cả nước, thành
phố Hồ Chí Minh đã nhận thức được vai trò quan trọng của NSĐP và sớm đã có những
chính sách nhằm nâng cao nguồn thu và quản lýhiệu quả NSĐP. Tuy nhiên, trong quá
trình thực hiện, một phần do sự thay đổi của tình hình mới làm cho một số quy định của
pháp luật không còn phù hợp, một mặt do vị trí và vai trò đặc thù của thành phố Hồ Chí
Minh nên trong thời gian qua việc thực hiện pháp luật về thu NSĐP trên địa bàn thành
1
phố Hồ Chí Minh đã bộc lộ một số bất cập nhất định, làm ảnh hưởng tới sự phát triển
của Thành phố và cả nước
Trước tình hình đó tác giả chọn đề tài “Pháp luật về thu ngân sách địa phương
- thực tiễn áp dụng tại thành phố Hồ Chí Minh” nhằm phân tích thực trạng áp dụng
các quy định của pháp luật về thu ngân sách địa phương trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh, chỉ ra một số kết quả, hạn chế và nguyên nhân từ đó nêu ra các giải pháp khắc
phục. Trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thu NSĐP.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của đề tài là qua nghiên cứu pháp luật về thu NSĐP cũng như thực tiễn
áp dụng pháp luật về thu NSĐP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ đó đề xuất một
số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về thu NSĐP.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu các quy định về thu NSĐP cũng như công tác quản lý thu
NSĐP trên địa thành phố Hồ Chí Minh theo quy trình ngân sách trong công tác quản lý
thu. Quy định về công tác lập dự toán ngân sách, chấp hành ngân sách và quyết toán
ngân sách. Đề tài cũng tìm hiểu quy định cũng như thực trạng về công tác phân cấp quản
lý ngân sách trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, phân cấp quản lý nguồn thu.
4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Liên quan tới vấn đề thu NSĐP trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh chưa có
công trình nghiên cứu nào, một số công trình nghiên cứu trong nước bao gồm:
Sách chuyên khảo của Lê Chi Mai (2007), “Phân cấp ngân sách cho chính quyền
địa phương thực trạng và giải pháp”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách trình
bày phân cấp ngân sách - bao gồm cả thẩm quyền quyết định ngân sách và thẩm quyền
quản lý ngân sách. Bên cạnh đó trình bày cơ sở lý luận về phân cấp ngân sách. Thực
trạng phân cấp ngân sách đối với chính quyền địa phương hiện nay. Từ thực trạng nêu
trên, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường phân cấp ngân sách địa phương
cho chính quyền địa phương.
Phạm Thị Tân (2014) với đề tài “Thi hành pháp luật về thu chi ngân sách
địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Đề tài
nghiên cứu một cách chi tiết pháp luật về thu chi ngân sách địa phương cũng như
thực tiễn áp dụng pháp luật về thu chi ngân sách địa phương trên địa bàn thành phố
2
Hà Nội. Qua đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về thu chi
ngân sách địa phương.
Ngoài ra còn cố một số nghiên cứu khác có liên quan đến pháp luật về thu ngân
sách địa phương như:
Bùi Đường Nghiêu, Võ Thành Hưng, Nguyễn Minh Tân (2006), Điều hoà ngân
sách giữa Trung ương và địa phương, Sách tham khảo.
Vũ Minh Thông (2012) Quản lý nguồn thu chi ngân sách Nhà nước tại chính
quyền cấp xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn hiện nay, Luận văn
thạc sĩ kinh doanh và quản lý 2012.
Nguyễn Văn Ngọc (2012), Quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách địa phương tại
các cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Lâm Đồng, Luận văn
thạc sĩ kinh doanh và quản lý 2012.
Nguyễn Thị Hải Yến (2008),Hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa
bàn thành phố HàNội đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Trường
Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu ở cấp luận văn về thu ngân sách đều là những công
trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế, ở góc độ pháp lý mới chỉ có công trình của
Phạm Thị Tân với đề tài thi hành pháp luật về thu chi ngân sách địa phương trên địa bàn
thành phố Hà Nội. Ngoài ra có sách tham khảo của tác giả Bùi Đình Nghiêu và Lê Chi
Mai. Có thể nói đề tài “Pháp luật về thu ngân sách địa phương - thực tiễn áp dụng tại
Thành Phố Hồ Chí Minh” là một đề tài mới nghiên cứu về thu ngân sách địa phương từ
góc độ pháp lý.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng về chính sách quản lý tổ chức
thực hiện pháp luật về ngân sách.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp hệ
thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, so sánh, tổng hợp.
6. TÍNH MỚI VÀĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Trong lĩnh vực ngân sách, các công trình nghiên cứu trước đây phần lớn xuất
phát xuất phát từ góc độ kinh tế chứ không xuất phát từ góc độ pháp lý. Đề tài này
3
nghiên cứu về quy định của pháp luật trong việc thu NSĐP tại thành phố Hồ Chí Minh,
từ đó đưa ra một số nhận xét nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSĐP cũng như biện pháp
nhằm cân đối thu ngân sách.
Về mặt khoa học, đề tài hệ thống lại những vấn đề pháp lý liên quan tới thu NSĐP
tạo cơ sở dữ liệu tra cứu cho những công trình liên quan nghiên cứu sau này. Về thực
tiễn, đề tài nghiên cứu việc áp dụng quy định của pháp luật trên địa bàn Thành phố sau
đó chỉ ra những thành tựu để địa phương tiếp tục phát huy và những hạn chế để địa
phương khắc phục, cũng như các giải pháp để địa phương áp dụng nhằm nâng cao hiệu
quả thu ngân sách tại địa phương.
7. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm hai chương:
Chương 1:Lý luận chung về ngân sách địa phương và pháp luật về thu ngân sách
địa phương.
Chương 2:Thực tiễn áp dụng pháp luật về thu ngân sách địa phương tại Thành
phố Hồ Chí Minh và kiến nghị hoàn thiện.
4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNGVÀ
PHÁP LUẬT VỀ THU NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của ngân sách Nhà nước
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình thành
và phát triển của Nhà nước và của hàng hóa, tiền tệ. Nhà nước với tư cách là cơ quan
quyền lực thực hiện duy trì và phát triển xã hội thường quy định các khoản thu mang
tính bắt buộc các đối tượng trong xã hội phải đóng góp để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy
nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục….
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của các chế độ xã hội, nhiều khái niệm về
NSNN đã được đề cập theo các góc độ khác nhau.
Ngân sách Nhà nước là một văn kiện lập pháp hay một đạo luật chứa đựng hay
có kèm theo một bảng kê khai các khoản thu chi dự liệu cho một thời gian nào đó, là
một khuôn mẫu mà các cơ quan lập pháp, hành pháp cùng các cơ quan hành chính phụ
thuộc phải tuân theo1.
Ngân sách Nhà nước là kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của Nhà nước được
xét duyệt theo trình tự pháp định 2.
Ngân sách Nhà nước là bản dự toán (bảng ghi) cân đối hàng năm về thu, chi cho
các cơ quan chính quyền Nhà nước3.
Về hình thức, các khái niệm này có sự khác nhau nhất định, tuy nhiên, chúng đều
phản ánh về các kế hoạch, dự toán thu, chi của Nhà nước trong một thời gian nhất định
với hình thái biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và Nhà nước sử dụng quỹ
tiền tệ tập trung đó để trang trải cho các chi tiêu gồm: chi cho hoạt động của bộ máy nhà
nước; chi cho an ninh quốc phòng; chi cho an sinh xã hội…
Ở Việt Nam, ngày 20/03/1996, Quốc hội thông qua Luật NSNN. Đây cũng là lần
đầu tiên ở nước ta các quy định trong công tác quản lý NSNN được luật hóa bằng một
văn bản pháp quy; trước đó chỉ được thực hiện bằng các văn bản dưới luật do Chính phủ
và Bộ Tài chính ban hành. Từ đó đến nay, Luật NSNN đã hai lần được sửa đổi, bổ sung
bằng Luật mới. Khái niệm về NSNN trong Luật NSNN qua các thời kỳ có sự khác nhau.
1
F. Baudhuin (1962), Tài chính công, Bản dịch của Trường Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 9.
2
Viện Nghiên cứu phổ biến tri thức Bách Khoa (1998), Đại từ điển kinh tế thị trường, NXB Trẻ Hà Nội, tr. 659
3
M. Ivôncốp (1987), Từ điển Kinh tế chính trị học, NXB Tiến bộ Matxcơva, tr.282.
5
Khái niệm về NSNN, Luật NSNN năm 2015 tương tự như Luật NSNN năm 1996, nhưng
hoàn toàn khác biệt so với Luật NSNN năm 2002. Theo đó:
Thứ nhất, Luật NSNN năm 1996 quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và
được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước4 (có cụm từ “dự toán”);
Thứ hai, Luật NSNN năm 2002 (thay thế Luật NSNN năm 1996) quy định:
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước5 (không có cụm từ “dự toán”);
Thứ ba, Luật NSNN năm 2015 (thay thế Luật NSNN năm 2002) quy định: NSNN
là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng
thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước6 (có cụm từ “dự toán”.
Ngân sách nhà nước bao gồm các đặc điểm sau 7:
Một là, là một kế hoạch tài chính khổng lồ nhất cần được Quốc hội biểu quyết
thông qua trước khi thi hành. Đặc điểm này cho thấy việc thiết lập NSNNkhông chỉ là
vấn đề kỷ thuật nghiệp vụ kinh tế ( lập dự toán các khoản thu và chi định thực hiện trong
một năm ) mà còn là vấn đề mang tính kỹ thuật pháp lý ( nghĩa là phải trãi qua giai đoạn
xem xét, biểu quyết thông qua tại Quốc hội giống như việc ban hành một đạo luật để
làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ phát lý nhất định cho các chủ thể tham gia vào hoạt
động ngân sách ).
Hai là, NSNN không phải là một bản kế hoạch tài chính thuần túy mà còn là
một đạo luật. Theo thông lệ, sau khi dự toán NSNN được soạn thảo bởi cơ quan
hành pháp thì nó sẽ được chuyển sang cơ quan lập pháp xem xét quyết định và ban
bố dưới hình thức một đạo luật để thi hành. Quá trình “luật hóa” bản dự toán ngân
sách nhà nước tại cơ quan lập pháp thể hiện sự khác biệt về phương diện pháp lý
giữa NSNN so với các loại ngân sách của các chủ thể khác. Sở dĩ có sự khác biệt
này là vì NSNN có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế,
4
Luật Ngân sách nhà nước 1996 (Luật số 47/1996/QH9) ngày 20/3/1996.
5
Luật Ngân sách nhà nước 2002 (Luật số 01/2002/QH11) ngày 16/12/2002.
6
Luật Ngân sách nhà nước 2015 (Luật số 83/2015/QH13) ngày 25/6/2015.
7
Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
6
ổn định chính trị - xã hội của một đất nước nên cần thiết phải đảm bảo cho NSNN
có giá trị pháp lý như một đạo luật.
Ba là, NSNN là kế hoạch tài chính của toàn thể quốc gia, được trao cho Chính
phủ tổ chức thực hiện nhưng phải đặt dưới sự giám sát trực tiếp của Quốc hội. Sự kiểm
soát thường xuyên của Quốc hội đối với Chính phủ trong lĩnh vực này cũng là phương
cách để củng cố và đề cao tính dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động tài chính
của Nhà nước, góp phần quản trị tốt nền tài chính công trong đó dân chúng đóng vai trò
quyết định.
Bốn là, NSNN được thiết lập và thực thi hoàn toàn vì mục tiêu mưu cầu lợi ích
chung cho toàn thể quốc gia, không phân biệt người thụ hưởng các lợi ích đó là ai, thuộc
thành phần kinh tế nào hay đẳng cấp xã hội nào. Lợi ích chung là yếu tố ảnh hưởng
mang tính quyết định đến việc tiến hành các nghiệp vụ tài chính (nghiệp vụ thu, chi ngân
sách) của Chính phủ mà ở đó Chính phủ luôn tìm cách thõa mãn tối đa các nghiệp vụ
chi, tiêu đã được hoạch định và cho phép thực hiện bởi Quốc hội. Đôi khi, vì mục tiêu
thõa mãn lợi ích chung của toàn thể quốc gia mà Chính phủ buộc phải tiến hành những
nhiệm vụ chi không chắc chắn đem lại một lợi ích cụ thể nào cho riêng mình, ví dụ như
việc trợ cấp cho nhân dân các vùng bị thiên tai, địch họa hay việc tài trợ cho các doanh
nghiệp trong nước bằng biện pháp trợ giá nhằm phục hồi một ngành sản xuất quan trọng
nào đó của đất nước.
Năm là, NSNN luôn phản ảnh mối tương quan giữa quyền lập pháp và quyền
hành pháp trong quá trình xây dựng và thực hiện ngân sách. Mối tương quan này
thường nghiêng về phía cơ quan lập pháp, bởi lẽ vai trò áp đảo của cơ quan lập
pháp so với cơ quan hành pháp trong lĩnh vực ngân sách đã đ ược ghi nhận trong
Hiến pháp và đạo luật NSNN ở mỗi quốc gia như một nguyên tắc cơ bản của nền
tài chính công hiện đại.
1.1.2. Vai trò của ngân sách Nhà nước
Có những thời điểm Nhà nước thường điều hành kinh tế bằng mệnh lệnh hành
chính và bỏ qua các quy luật kinh tế cơ bản. Sự can thiệp đó không làm cho kinh tế của
quốc gia đó phát triển được và hậu quả là kinh tế trì trệ, tệ quan liêu xa rời thực tế phát
triển, trật tự xã hội không ổn định. Sự can thiệp của Nhà nước tại các quốc gia hiện nay
là tôn trọng các qui luật kinh tế cơ bản, các qui luật thị trường, sử dụng triệt để các công
cụ, chính sách tài chính tiền tệ và các công cụ khác để tác động vào nền kinh tế và thúc
7