Luận văn pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn

  • 14 trang
  • file .pdf
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự
BLHS: Bộ luật hình sự
CTCP: Công ty cổ phần
DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
GĐ: Giám đốc
HĐTV: Hội đồng thành viên
MTV: Một thành viên
TGĐ: Tổng giám đốc
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
UBND: Ủy ban nhân dân
GCNĐKDN: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 1 SVTH: Nguyễn Mộng Thương
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY TNHH ...... 8
1.1. Quản lý và người quản lý .................................................................................... 8
1.2. Khái quát về công ty TNHH................................................................................ 9
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm công ty TNHH .................................................................. 9
1.2.2. Phân loại công ty TNHH .................................................................................... 13
1.2.3. Cơ cấu tổ chức công ty TNHH ........................................................................... 17
1.3. Người quản lý công ty TNHH ............................................................................. 18
1.3.1. Xác định người quản lý công ty TNHH .............................................................. 18
1.3.2. Đặc điểm, vai trò, phân loại người quản lý công ty TNHH ............................... 21
1.4. Lịch sử hình thành pháp luật về người quản lý công ty TNHH ...................... 25
CHƯƠNG 2: NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY TNHH THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG
HOÀN THIỆN ............................................................................................................ 29
2.1. Xác lập tư cách người quản lý công ty TNHH – thực trạng và hướng hoàn thiện
....................................................................................................................................... 29
2.1.1. Tiêu chuẩn, điều kiện chung về người quản lý công ty TNHH – thực trạng và hướng
hoàn thiện ...................................................................................................................... 29
2.1.2. Tiêu chuẩn, điều kiện theo chức vụ quản lý – thực trạng và hướng hoàn thiện . 37
2.2. Chấm dứt tư cách người quản lý công ty TNHH – thực trạng và hướng hoàn
thiện .............................................................................................................................. 54
2.2.1. Quy định chung về chấm dứt tư cách người quản lý công ty TNHH – thực trạng
và hướng hoàn thiện ...................................................................................................... 54
2.2.2. Chấm dứt tư cách người quản lý công ty TNHH theo chức danh cụ thể - thực trạng
và hướng hoàn thiện ...................................................................................................... 57
VÍ DỤ KẾT LUẬN ..................................................................................................... 72
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 2 SVTH: Nguyễn Mộng Thương
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Doanh nghiệp bất kỳ khi gia nhập vào nền kinh tế là đang "đổ vốn" vào góp kinh
doanh mang lợi nhuận cho chính các thành viên doanh nghiệp đồng thời cũng tạo thêm
nhiều nguồn vốn cho sự đi lên của nền kinh tế. Đi đôi với sự phát triển và đổi mới nền
kinh tế là sự bám rễ lớn lên của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, nền pháp chế xã
hội chủ nghĩa Việt Nam càng phải đủ vững và mạnh để bắt kịp, đi cùng và thúc đẩy phát
triển kinh tế, đổi mới đất nước. Công cụ pháp luật trải qua nhiều bước ngoặt làm luật
theo từng thời kỳ, giai đoạn để ngày càng hoàn thiện hơn, cụ thể:
Đổi mới không phải là điểm bắt đầu mà là thời khắc chuyển đổi của một khu vực
kinh tế từ phi chính thức sang được công nhận, được bảo vệ. Quốc hội thông qua Luật
công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990. Từ đó, sự ra đời của doanh nghiệp tư
nhân dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn đã chiếm phần lớn trong giai đoạn này.
Hành lang pháp lý liên tục hoàn thiện với Luật doanh nghiệp 1999 đến Luật doanh
ngiệp 2005. Từ thời điểm này đây, doanh nghiệp tư lên vị thế kinh doanh mới, kinh
doanh bình đẳng với doanh nghiệp Nhà nước.
Tiếp đến, Luật doanh nghiệp 2014 phần nào cứu cánh cho tình hình pháp luật
(những quan hệ pháp luật trước đó có nhiều rối rắm, ví dụ như: thủ tục rườm rà và mất
nhiều thời gian; mối quan hệ giữa công ty – công ty chưa được hiểu rõ ràng, một số quy
định khắc nghiệt có ảnh hưởng hạn chế doanh nghiệp, …). Tuy vậy, việc Nhà nước thu
hẹp phạm vi Doanh nghiệp Nhà nước hơn trước kia, tăng cường sự quản lý tư nhân đối
với các loại hình doanh nghiệp (vì doanh nghiệp Nhà nước nước được khái niệm là doanh
nghiệp có 100% vốn Nhà nước - chỉ còn công ty TNHH MTV 100% vốn Nhà nước là
DNNN 1) là đổi mới và cũng là thách thức: Tư nhân hóa làm tăng quyền quản lý tư đồng
nghĩa với phạm vi Nhà nước giảm hơn.
Thực tế, tranh chấp trong quản lý nội bộ, cũng như sai phạm của người quản lý
điều hành, công ty trách nhiệm hữu hạn gây xôn xao dư luận xã hội với mức độ tinh vi,
hiện đại và thiệt hại nghiêm trọng: tổng giám đốc/giám đốc lạm dụng quền lực tư lợi
riêng, chiếm đoạt tài sản công ty; những hành vi gian lận, lừa đảo của nhóm người điều
1
Khoản 8 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014: DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn Điều lệ.
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 3 SVTH: Nguyễn Mộng Thương
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
hành công ty đối với chủ sở hữu công ty; những giao dịch liên kết giữ người quản lý
công ty; những người quản lý tham nhũng với những khối lượng tài sản khủng, …
Về lý luận, người quản lý là thay mặt cho chủ sở hữu, chủ đầu tư thực hiện hoạt
động mà bản thân họ hay bản thân công ty họ thành lập không thể tự vận hành. Liệu nhà
đầu tư có chấp nhận vào đầu tư khi không tin rằng việc đầu tư này sẽ mang lại lợi ích
cho họ - vì họ không thể tin tưởng vào năng lực và sự quản lý của những người quản lý
công ty, người mà có thể họ sẽ phó thác gần như toàn bộ quyền hành, thay họ vận hành
công ty. Người quản lý không chỉ tạo niềm tin cho nhà đầu tư, chủ sở hữu nhằm thu hút
đầu tư phát triển công ty, nhân tố người quản lý giữ vai trò then chốt “lèo lái”, quyết
định sự ăn nên làm ra của công ty. Những đối tượng người nắm quyền quản lý, điều hành
công ty thì chỉ khi họ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của họ thì mới
mang lại lợi ích cho chủ sở hữu và chính công ty.
Với sự cần thiết và chưa bao giờ thôi cấp bách như trên, quyết định chọn đề tài
“Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn” làm đề tài nghiên cứu cho
khóa luận của mình hi vọng góp được phần giải quyết những vấn đề vừa mang tính thời
sự, vừa mang tính khoa học và áp dụng hiệu quả trên thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về
công ty trách nhiệm hữu hạn như: Luận văn thạc sỹ: “Chế độ pháp lý về quản lý nội bộ
của công ty TNHH theo Luật doanh nghiệp” của tác giả Lương Thị Thu Hà; Luận văn
thạc sỹ: “Pháp luật về chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH MTV của tác giả Nguyễn
Thị Huế; hay Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật “Vấn đề pháp lý về công ty TNHH MTV
do Nhà nước làm chủ sở hữu” của tác giả Huỳnh Lý Huyền Trân, “Công ty TNHH MTV
do Nhà nước làm chủ sở hữu lý luận, thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Trần
Như Ngọc… .
Quy định về người quản lý công ty cũng được đề cập trong một số giáo trình và
sách tham khảo của các trường đại học như:
+ Giáo trình Luật thương mại – Phần chung và thương nhân của PGS.TS Ngô
Huy Cương, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội.
+ Chuyên khảo Luật kinh tế của PGS.TS Phan Huy Nghĩa.
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 4 SVTH: Nguyễn Mộng Thương
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Sách chuyên khảo Thể chế kinh tế một số quốc gia trên thế giới.
Những công trình trên đi sâu tìm hiểu mối quan hệ kinh tế chung hay về quản trị
nội bộ trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc là vấn đề chuyển đổi doanh nghiệp nhà
nước sang hoạt động theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và còn có khoanh vùng
đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn có chủ sở hữu Nhà nước. Trong đó cũng
có đề cập đến quy định pháp luật về người quản lý, điều hành nhưng mang tính lý luận
chung chưa thực sự chuyên sâu, cặn kẽ và luật áp dụng là những văn bản trước (có thể
đã hết hiệu lực).
Một công trình nghiên cứu có phần đi sâu hơn về người quản lý công ty trách
nhiệm hữu hạn là: Luận văn thạc sỹ “Nghĩa vụ của người quản lý công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên”. Công trình này tập trung nghiên cứu vào phần nghĩa vụ của
người quản lý và xác định là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong đó khi
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước được nhấn mạnh
trong nghiên cứu. Như vậy, tác giả đã có cái nhìn thẳng vào vấn đề người quản lý trong
công ty trách nhiệm hữu hạn dù phạm vi đã được giới hạn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn pháp luật nhìn nhận thật xác thực vấn đề pháp lý về
người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về
người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, đề xuất các
định hướng, giải pháp nâng cao pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
trong xu thế hội nhập và đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa để pháp luật là công cụ quản
lý xã hội hữu hiệu vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh2.
Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung và quy định pháp luật làm sáng tỏ: khái niệm,
vai trò, vị trí, tầm quan trọng của pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu
hạn; ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này.
Mô tả, phân tích, đánh giá được thực trạng pháp luật về người quản lý công ty
trách nhiệm hữu hạn ở Việt Nam hiện nay.
Nghiên cứu, đề xuất một số định hướng, đưa ra những giải pháp thiết thực cho
tình hình pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn.
2
Cương lĩnh 2011 Đảng cộng sản Việt Nam.
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 5 SVTH: Nguyễn Mộng Thương
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
4. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề pháp lý liên quan pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm
hữu hạn, về tình hình thực thi pháp luật về người quản lý trong công ty.
5. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: thời điểm pháp luật hiện hành quy định các quan hệ pháp luật áp dụng
đối vớib người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn (cụ thể từ khi Luật doanh nghiệp
2014 có hiệu lực đến nay). Nội dung: vấn đề pháp lý về người quản lý công ty trách
nhiệm hữu hạn gồm điều kiện, tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ; thực trạng thực hiện pháp
luật; những vướng mắc pháp luật đồng thời là những kiến nghị, đề xuất hướng hoàn
thiện.
6. Ý nghĩa
Bài viết là công trình lý luận xâu kết lại các khái niệm về người quản lý, về công
ty trách nhiệm hữu hạn để có cái nhìn tổng quan về người quản lý, địa vị pháp lý và sự
gắn bó thiết yếu của họ trong công ty. Tìm hiểu, phân tích, tổng hợp quy định pháp luật
và thực tiễn áp dụng pháp luật có phù hợp hay không phù hợp tinh thần pháp luật xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, thúc đẩy hay kìm hãm cho sự vận động nền kinh tế nước nhà. Qua
đó có những phương hướng hoàn thiện, phát triển và ngày càng bền vững, ổn định trong
quy định pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn. Tạo điều kiện cho
doanh nghiệp phát huy giá trị cốt lõi là sự quản lý từ con người – việc quản trị công ty
công khai, minh bạch, hiệu quả, bảo vệ quyền lợi chủ sở hữu, nhà đầu tư và những đối
tượng khác liên quan.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận từ những vấn đề tư tưởng lý luận trong khoa học Mác – Lênin;
theo quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật Nhà nước về xây dựng và phát triển
nền kinh tế thị trường thời hội nhập.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể là: Là sự vận dụng khoa học bằng việc so sánh,
đối chiếu, phân tích vấn đề tồn tại trong những quy định pháp luật về người quản lý công
ty trách nhiệm hữu hạn.
8. Bố cục đề tài
Ngoài phần lời mở đầu, nội dung chính gồm các chương:
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 6 SVTH: Nguyễn Mộng Thương
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN
Những khái niệm, đặc điểm và nhiều vấn đề pháp lý liên quan về người quản lý
công ty TNHH được đưa ra để xác định và hiểu chính xác đối tượng của nghiên cứu
trong phạm vi bài luận.
CHƯƠNG 2: NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
Những tiêu điểm trong pháp luật hiện hành có nhiều phù hợp, song cũng tồn tại
hạn chế được so sánh, đối chiếu với quy định và thực trạng thực thi để đưa đến kiến nghị
hoàn thiện.
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 7 SVTH: Nguyễn Mộng Thương
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
1.1. Quản lý và người quản lý
Tính tất yếu khách quan của quản lý: Nguồn gốc phát triển của loài người là lao
động cá nhân và lao động chung. C. Mác đã khẳng định: "Tất cả mọi lao động xã hội
trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng
cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất… Một người độc tấu
vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng". Đặc
thù tổ chức – điều khiển con người với các hoạt động theo những yêu cầu nhất định nhằm
tạo sức mạnh để đạt mục đích chung, đó được gọi là quản lý. Quản lý nói chung theo
nghĩa tiếng anh là Administration vừa có nghĩa quản lý (hành chính, chính quyền), vừa
có nghĩa quản trị (kinh doanh). Ngoài ra còn có một thuật ngữ khác là Management vừa
có nghĩa quản lý, vừa có nghĩa quản trị.
Chủ thể quản lý Khách thể
Mục quản lý: yếu
tiêu tố môi trường
liên quan
Đối tượng quản lý
Chủ thể quản lý hay nói khác hơn là người quản lý hoặc "nhà quản lý" (Manager)
là: Nhà quản lý là một cá nhân trong tổ chức chỉ huy người khác hoạt động và thông qua
người khác để đạt được mục tiêu; nhà quản lý là người chịu trách nghiệm quản lý, điều
hành một bộ phận hay toàn bộ một tổ chức.
Người quản lý làm việc trong một tổ chức nhưng không phải bất cứ thành viên
nào trong tổ chức cũng là nhà quản lý, kể cả cấp cao hay cấp thấp hơn cũng vậy. Nói
chung, trong một tổ chức có hai loại người: những nhà quản lý và những người thừa
hành (thực hiện). Người thừa hành là những người trực tiếp làm một công việc hay một
nhiệm vụ và không có trách nhiệm trông coi công việc của người khác. Ngược lại, những
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 8 SVTH: Nguyễn Mộng Thương
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
người quản lý là những người có quyền và trách nhiệm điều khiển công việc người khác
và vận hành cả tổ chức, được bố trí những vị trí quan trọng khác nhau trong tổ chức, ví
dụ: giám đốc/tổng giám đốc, Chủ tịch, …
Quản lý cũng là một ngành nghề, ai cũng có thể theo học và để áp dụng trên thực
tế quản lý, kinh doanh để trở thành những người quản lý tài giỏi, thành công hay công
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kiến thức – kinh nghiệm – ý chí học hỏi – tinh thần
sáng tạo. Cho nên mức tối thiểu cần thiết có những thiết chế pháp luật quy định chuẩn
mực về người quản lý trong từng lĩnh vực nhằm phân biệt dấu hiệu đặc trưng của chất
người quản lý đặc biệt là trong quan hệ kinh tế mà doanh nghiệp chiếm vai trò quan trọng
– hơn thế, kinh tế được xem là mũi nhọn của một nước đang phát triển như Việt Nam.
1.2. Khái quát công ty TNHH
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm công ty TNHH
Khái niệm công ty TNHH xuất hiện lần đầu ở Việt Nam là trong Luật công ty
1990, được thể hiện ở Điều 2 như sau: "Công ty TNHH là doanh nghiệp trong đó các
thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần
vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn
góp của mình góp và công ty". Khái niệm trong giai đoạn thời kỳ đổi mới ở nước ta và
các loại hình công ty ở giai đoạn này cũng chưa phát triển, nên nội hàm khái niệm này
chỉ thừa nhận công ty TNHH có nhiều thành viên, biểu hiện ở các cụm từ "cùng góp
vốn", "cùng chia nhau lợi nhuận", "cùng chịu lỗ" và những quy định của Luật công ty
1990 cũng chỉ thừa nhận công ty TNHH có nhiều thành viên chứ chưa thừa nhận loại
hình có một thành viên3. Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ quy định về công ty TNHH
ở hai mục riêng biệt trong cùng một chương với hai loại hình: công ty TNHH hai thành
viên trở lên và công ty TNHH một thành viên.
Công ty TNHH là một loại hình doanh nghiệp tồn tại trên thị trường Việt Nam và
có đầy đủ những điểm mà doanh nghiệp có:
Thứ nhất, doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hình doanh
nghiệp. Trên thế giới, so với các loại hình doanh nghiệp khác, thì công ty xuất hiện muộn
3
Xem thêm Điều 25, 27, 28 Luật công ty 1990 (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 21/12/1990, hiện đã hết hiệu lực.
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 9 SVTH: Nguyễn Mộng Thương
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
hơn, vào khoảng giữa thế kỷ 19; được công nhận là một tổ chức kinh tế được thành lập
theo vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về trái vụ của công ty trong phạm vi
số vốn mà thành viên đó góp vào; công ty được thành lập dựa trên một thỏa thuận về
quản lý điều hành, thường gọi là điều lệ, có thể phát hành các loại chứng khoán để huy
động vốn và được thừa nhận là pháp nhân ở hầu hết các nước.
Thứ hai, theo luật doanh nghiệp của Việt Nam thì “doanh nghiệp là tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo
quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh" 4, được hiểu
như là:
Có hoạt động kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ thường xuyên: Ví dụ: một hộ
nông dân thực hiện nhiều năm liền việc trồng – thu hoạch – ăn và còn dư thì bán thóc gạo
của mình để kiếm thêm thu nhập. Hoạt động như vậy là lẻ tẻ, tự phát và mang tính cá biệt,
không phải đặc trưng của doanh nghiệp vì "kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" 5.
Doanh nghiệp có tính tổ chức: Tính tổ chức được thể hiện ở chỗ doanh nghiệp
được thành lập luôn có cơ cấu nhân sự, có bộ máy tổ chức điều hành, có trụ sở giao dịch
hoặc đăng ký và có tài sản riêng để quản lý. Chính vì vậy, pháp luật nhiều quốc gia trong
đó có Việt Nam, quy định về tư cách “pháp nhân” của hầu hết các loại hình doanh nghiệp,
trừ doanh nghiệp tư nhân vốn gắn liền với một cá nhân kinh doanh.
Doanh nghiệp có tính hợp pháp: phù hợp pháp luật của nơi doanh nghiệp thành
lập. Tại rất nhiều quốc gia, doanh nghiệp muốn được thừa nhận là một pháp nhân, tham
gia hoạt động kinh doanh và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình thì đều phải đăng
ký một cách hợp pháp. Pháp luật nhiều nơi quy định về trình tự, thủ tục đăng ký hoặc
công nhận một tổ chức là doanh nghiệp. Việc đăng ký thực hiện thông qua thủ tục “hai
chiều”, doanh nghiệp (chủ sở hữu)xin được cấp giấy phép (cơ quan quản lý Nhà nước).
Một khi doanh nghiệp được “cấp phép”, nó đương nhiên được thừa nhận ra đời, được
4
Điều 4.1 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 của Việt Nam được thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2005 và
Điều 4.7 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2014.
5
Điều 4.2 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 của Việt Nam được thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2005 và
Điều 4.16 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2014.
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 10 SVTH: Nguyễn Mộng Thương
Đề tài Pháp luật về người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
pháp luật bảo hộ đồng thời chịu sự ràng buộc bởi các quy định pháp lý có liên quan. Tính
hợp pháp không chỉ thể hiện trong việc Nhà nước ghi nhận sự hình thành hay tồn tại của
doanh nghiệp, mà còn thể hiện ở việc, khi tham gia vào các quan hệ xã hội, nó là một
thực thể độc lập và chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình, bằng tài sản riêng của
mình. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong
việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể.
Như vậy, công ty TNHH với những đặc điểm của một loại hình doanh nghiệp
hiện diện trên thị trường Việt Nam thì: "Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp có tư
cách pháp nhân nhưng không được phát hành cổ phần để huy động vốn. Thành viên có
thể là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác trong phạm vi vốn góp vào vốn Điều lệ của công ty".
Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp GCNĐKDN. Chủ sở hữu công
ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt. Trước pháp luật, công ty là pháp nhân,
chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền và nghĩa vụ tương ứng với quyền sở hữu
công ty.
Công ty chịu TNHH, thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty.
Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phần để huy động vốn.
Với bản chất là công ty dạng “đóng”, việc chuyển nhượng vốn góp của thành viên
công ty TNHH bị hạn chế, các thành viên công ty TNHH khi muốn chuyển nhượng vốn
góp trước hết phải ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên khác của công ty.
Về đặc điểm thứ nhất, công ty TNHH là một tổ chức có tư cách pháp nhân là:
công nhận là chủ thể có địa vị pháp lý độc lập với các tổ chức, cá nhân khác, bao gồm
cả những người đã đưa tài sản tạo lập nên nó. Có tư cách pháp nhân là một lợi thế của
mô hình công ty này so với những mô hình kinh doanh ở quy mô nhỏ khác mà pháp luật
thường không thừa nhận nó có tư cách pháp nhân, như trước đây mô hình kiểu hợp danh
hay cơ sở kinh doanh nhỏ của một cá nhân6: công ty TNHH có đầy đủ điều kiện của
6
Tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện nay, công ty hợp danh được thừa nhận là pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp
2014 (xem Điều 172).
GVHD: Thầy Phan Minh Giới 11 SVTH: Nguyễn Mộng Thương