Luận văn pháp luật về hoạt động môi giới bất động sản ở việt nam

  • 15 trang
  • file .pdf
MỤC LỤC
Lời cam đoan .................................................................................................................... i
Lời cảm ơn ...................................................................................................................... ii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt ................................................................................. v
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu tài liệu liên quan ................................................................ 2
3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................. 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 5
5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 5
6. Kết cấu dự kiến của luận văn................................................................................ 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ MÔI
GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN ................................................................................................ 6
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG VÀ VAI TRÒ CỦA MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG
SẢN ............................................................................................................................ 6
1.1.1. Khái niệm về bất động sản ........................................................................... 6
1.1.2. Khái niệm về môi giới bất động sản............................................................. 8
1.1.3. Đặc trưng của môi giới bất động sản............................................................ 9
1.1.4. Vai trò của môi giới bất động sản .............................................................. 11
1.2. CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN ................................................................................ 15
1.2.1. Sự cần thiết của pháp luật về môi giới bất động sản .................................. 15
1.2.2. Điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động
sản ......................................................................................................................... 17
1.2.3. Thù lao môi giới và hoa hồng môi giới bất động sản ................................. 21
1.2.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong môi giới bất động sản..................... 21
1.2.5. Tác động của các quy định pháp luật đến hoạt động môi giới bất động
sản ......................................................................................................................... 24
1.3. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ HOẠT ĐỘNG
MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN ................................................................................ 28
1.3.1. Nghề môi giới bất động sản tại Thụy Điển ................................................ 28
iii
1.3.2. Nghề môi giới bất động sản tại Mỹ ............................................................ 29
1.3.3. Nghề môi giới bất động sản tại Ba Lan ...................................................... 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG MÔI
GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM .................................... 35
2.1. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM .................................................................................................. 35
2.1.1. Hoạt động của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản .. 35
2.1.2. Quản lý Nhà nước đối với hoạt động môi giới bất động sản ..................... 42
2.2. NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY ......................................................................................... 44
2.3. HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI
GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN .......................................................................................... 46
2.3.1. Phương hướng dài hạn................................................................................ 46
2.3.2. Phương hướng ngắn hạn ............................................................................. 50
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................................... 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 56
iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BĐS: Bất động sản
TT-BXD: Thông tư Bộ xây dựng
NĐ-CP: Nghị định của Chính phủ
v
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Theo quy định của Luật đất đai và Luật nhà ở, công dân có quyền sử dụng đối
với đất đai, quyền sở hữu đối với nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đồng thời, chủ
sử dụng, chủ sở hữu có quyền thực hiện các loại hình giao dịch có liên quan như mua
bán, tặng cho, cho thuê, thừa kế, thế chấp… đối với quyền sử dụng đất và nhà ở1. Đây
chính là cơ sở, tiền đề cho việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở Việt
Nam nói chung và hoạt động môi giới bất động sản nói riêng.
Hoạt động kinh doanh bất động sản luôn thu hút được sự tham gia của nhiều
thành phần trong xã hội hiện đại bởi sự hấp dẫn về lợi nhuận mà nó mang lại. Tuy nhiên,
cũng như những loại hình kinh doanh khác, hình thức kinh doanh này cũng tiềm ẩn
nhiều rủi ro theo quy luật của thị trường (lợi nhuận cao thì rủi ro cao). Để góp phần hạn
chế phần rủi ro đó cũng như giữ vai trò kết nối giữa nhà cung cấp và khách hàng, thị
trường đã xuất hiện thành phần thứ ba là nhà môi giới bất động sản. Đây là thành phần
giúp khách hàng kiểm tra tính hợp pháp của hàng hóa mà nhà cung cấp bán, đồng thời
tạo điều kiện cho người mua và người bán có thể tiếp xúc được với nhau, hạn chế được
rủi ro trong giao dịch.
Từ tầm quan trọng như vậy, hoạt động môi giới bất động sản luôn nhận được sự
quan tâm của Nhà nước thông qua việc ghi nhận cụ thể trong các văn bản pháp luật, đầu
tiên phải kể đến là Luật kinh doanh bất động sản 2006 và các văn bản hướng dẫn thi
hành. Sau quá trình triển khai, nhằm khắc phục những hạn chế của Luật kinh doanh bất
động sản 2006, Quốc hội đã ban hành Luật kinh doanh bất động sản 2014. Về cơ bản,
các nội dung của việc môi giới như điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ
môi giới bất động sản, nội dung môi giới bất động sản, quyền và nghĩa vụ của doanh
nghiệp, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản … đã được Luật kinh doanh
bất động sản 2014 quy định một cách tương đối đầy đủ.
Tuy nhiên, qua quá trình triển khai thi hành, vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong
lĩnh vực môi giới bất động sản cần tiếp tục khắc phục. Chẳng hạn, một số tổ chức mối
giới bất động sản được hình thành và hoạt động mà không hề có bằng cấp, chứng chỉ gì.
Đây là một thực trạng gây rất nhiều hệ lụy không tố đến sự phát triển của thị trường bất
1
Luật Đất đai 2013 (Luật số 45/2013/QH13) ngày 29/11/2013, Điều 167.
Luật nhà ở 2014 (Luật số: 65/2014/QH13) ngày 25/11/2014, Điều 117.
1
động sản nói chung. Bởi, thị trường bất động sản là một trong những thị trường có nhiều
biến động, đòi hỏi các đơn vị môi giới bất động sản phải luôn biết cập nhật thông tin
mới, những biến động có lợi hay rủi ro có thể gặp phải để từ đó ngày càng trở nên chuyên
nghiệp và biết ứng phó với những tình huống bất ngờ xảy ra, đặc biệt là phải có đạo đức
nghề nghiệp và chịu dưới sự quản lí của nhà nước. Mặt khác, chất lượng nghiệp vụ và
đặc biệt là tính chuyên môn của các đơn vị môi giới bất động sản hiện nay của Việt Nam
vẫn chưa đủ đáp ứng, xứng tầm khu vực và thế giới. Điều này khiến cho những nhà môi
giới trong nước không thể cạnh tranh với những nhà môi giới nước ngoài trong xu thế
phát triển thị trường. Từ đó nhu cầu đặt ra đối với ngành môi giới bất động sản là phải
hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nghề.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “Pháp luật về
môi giới bất động sản ở Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU LIÊN QUAN
Qua quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy có một số công trình liên quan đến đề
tài luận văn như:
- Thứ nhất, Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng (2009), trong quyển
“Kinh tế Việt Nam – Thăng trầm và Đột phá” đã miêu tả thị trường bất động sản của
Việt Nam và các nước trên thế giới qua các thời kỳ lịch sử. Hai tác giả cũng nêu lên
“những chủ thể tham gia vào thị trường bất động sản ngày càng tăng bên cạnh các thành
viên truyền thống của thị trường (cá nhân, hộ gia đình) thì còn có các doanh nghiệp Nhà
nước. Để đáp ứng nhu cầu của thị trường bất động sản, nhiều loại hình tổ chức cũng đã
ra đời và tăng nhanh về quy mô trong đó có các tổ chức dịch vụ môi giới về nhà đất.” 2
- Thứ hai, bài viết “Kinh nghiệm thực tiễn dịch vụ môi giới bất động sản: “Kinh
nghiệm quốc tế thực tiễn và định hướng phát triển ở Việt Nam” của tác giả Lưu Đức Khải
và Hà Huy Ngọc năm 2009 đã nêu khái quát tình hình môi giới bất động sản tại Việt Nam
và kinh nghiệm về phát triển dịch vụ môi giới bất động sản ở một số nước trên thế giới như
Mỹ, các nước Châu Âu hay đào tạo giấy phép môi giới bất động sản ở Singapore, từ đó đề
ra cơ hội và định hướng phát triển nghề môi giới bất động sản ở Việt Nam.
- Thứ ba, tác giả Đinh Văn Ân (2011) trong xuất bản về Chính sách phát triển
thị trường bất động sản ở Việt Nam cho thấy “các nhà môi giới là một trong những thành
2
Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng (2009), Kinh tế Việt Nam – Thăng trầm và Đột phá, Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
2
tố của thị trường bất động sản, là các tổ chức trung gian được thành lập dựa trên nhu cầu
của thị trường, do sự phát triển của thị trường bất động sản tạo ra nhu cầu rất lớn về
nhân lực trong xã hội”3... Nhu cầu này thúc đẩy phát triển các trường đào tạo nghề, các
tổ chức được phép đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản. Các tổ
chức môi giới kinh doanh bất động sản có thể được thành lập tự do hoặc môi giới theo
tổ chức được pháp luật thừa nhận. Đối với nghề môi giới tự do, khi cấp giấy hành nghề,
pháp luật không đòi hỏi họ phải có trình độ chuyên môn, nhưng để trở thành hội viên
của Hiệp hội môi giới thì trình độ chuyên môn là điều kiện bắt buộc, đây cũng là một
trong những hạn chế của pháp luật hiện hành đối với nghề môi giới bất động sản ở thời
điểm đó.
- Thứ tư, Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Thị Nga (2011) đã phân tích và đưa
ra rằng những tồn tại, hạn chế của pháp luật về môi giới bất động sản được biết đến bắt
nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu như: “hệ thống pháp luật về kinh doanh bất động sản
nói chung và các quy định về môi giới bất động sản nói riêng đang trong quá trình xây
dựng và hoàn thiện nên không tránh khỏi sự thiếu đồng bộ, hoàn chỉnh. Vấn đề này cần
phải có thời gian mới khắc phục được”4. Có thể nói hoạt động môi giới bất động sản ở
Việt Nam còn khá non trẻ so với các quốc gia khác trên thế giới, đây cũng là một trở
ngại cho quá trình thực thi pháp luật về môi giới bất động sản bởi hệ thống cơ quan quản
lí chuyên trách về thị trường bất động sản đang trong quá trình củng cố và hoàn thiện,
đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lí nhà nước về thị trường bất động sản có
năng lực, trình độ chuyên môn không đồng đều và hạn chế. Điều này làm giảm hiệu quả
công tác thực thi pháp luật về môi giới bất động sản, trình độ dân trí và tốc độ phát triển
kinh tế không đồng đều giữa các vùng, khu vực trong cả nước cũng là nguyên nhân gây
trở ngại cho sự phát triển của hoạt động môi giới bất động sản.
- Thứ năm, bài viết “Tạo dựng đẳng cấp thương hiệu môi giới bất động sản và
một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về môi giới bất động sản ở Việt Nam” trên tạp chí
xây dựng số 20 năm 2014 của tác giả Doãn Hồng Nhung. Bài viết đã đưa ra quan điểm
cho rằng “môi giới bất động sản khoát lên mình sứ mệnh quan trọng tạo chất xúc tác
đưa các giao dịch tới thành công đồng thời thúc đẩy sự phát triển của trị trường bất động
3
Đinh Văn Ân (2011), Chính sách phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà
Nội.
4
Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Thị Nga (2011), “Pháp luật môi giới BĐS Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện”,
Tạp chí luật học, (6), tr. 47-52.
3
sản”. Đồng thời, tác giả cũng nêu những biện pháp để tạo dựng đẳng cấp thương hiệu
môi giới bất động sản và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về môi giới bất động sản
ở Việt Nam.
- Bên cạnh các tài liệu là sách, báo, tạp chí, văn bản pháp luật nhà nước, thì tác
giả thực hiện đề tài cũng nghiên cứu các tài liệu khác như luận văn, luận án, đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ,… có trình bày các vấn đề có liên quan đến môi giới bất động sản
cụ thể như luận văn thạc sĩ của Nguyễn Ngọc Tú năm 2007 thực hiện về "Thống nhất
pháp luật về đăng ký bất động sản " hay "Đăng ký bất động sản - thực tiễn và phương
hướng hoàn thiện", Luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thị Kim Hiền được viết vào
năm 2001. Năm 2009 Nguyễn Thị Thu Hằng đã tiến hành đề tài về "Pháp luật đăng ký
bất động sản của Việt Nam và Nhật Bản - Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt
Nam" cho Luận văn thạc sĩ luật học của mình. Đặc biệt là đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ của Bộ Tư pháp năm 2004 về "Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế độ đăng ký bất
động sản tại Việt Nam".
Nhìn chung, các vấn đề về dịch vụ môi giới bất động sản đã được nêu ra và phân
tích trong một số công trình có liên quan. Đây là những tư liệu quý giá để tác giả thực
hiện đề tài của mình. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một công trình
nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và toàn diện các vấn đề pháp lý và thực trạng thi
hành đối với vấn đề này. Chính vì vậy, luận văn của tác giả sẽ là một công trình mới
giúp hoàn thiện các vấn đề về dịch vụ môi giới bất động sản tại Việt Nam.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu các quy định có liên quan đến hoạt động môi giới bất động sản.
Phân tích những bất cập vướng mắc đã và đang gặp phải từ đó đề xuất các giải pháp,
kiến nghị góp phần hoàn thiện Luật kinh doanh bất động sản về hoạt động môi giới
bất động sản.
3.2. Mục tiêu cụ thể
 Phân tích những quy định của Luật kinh doanh bất động sản và các quy phạm
pháp luật Việt Nam liên quan đến môi giới bất động sản.
 Tìm hiểu thực trạng thực hiện những quy định của pháp luật về hoạt động
môi giới bất động sản, phân tích những bất cập, khó khăn vướng mắc trong quá trình
thực hiện.
4
 Đề xuất giải pháp và hướng hoàn thiện pháp luật trong tương lai về hoạt động
môi giới bất động sản.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bất động
sản và đặc biệt chú trọng đến các quy định liên quan đến môi giới bất động sản.
Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu
o Thực tiễn hoạt động môi giới bất động sản.
o Pháp luật về hoạt động môi giới bất động sản.
 Những thay đổi trong các quy phạm pháp luật về bất động sản.
 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động môi giới bất động sản.
 Những khó khăn trong quá trình thi hành pháp luật.
 Xác định nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trong thi hành pháp luật.
 Nghiên cứu hướng khắc phục khó khăn nhằm hoàn thiện pháp luật.
- Không gian nghiên cứu: Tác giả sẽ đi vào nghiên cứu các quy định pháp luật
của Việt Nam về môi giới bất động sản
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài thực hiện nghiên cứu kể từ khi Luật kinh doanh
bất động sản 2006 được áp dụng cho đến nay.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: tác giả tổng hợp những quy định nổi bật của
pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề môi giới bất động sản, đồng thời đưa ra những
phân tích đánh giá, nhận xét những điểm hợp lý, hạn chế của những quy định này trong
bối cảnh của Việt Nam qua các thời kỳ từ năm 2006 cho đến nay.
- Phương pháp so sánh: so sánh pháp luật Việt Nam về môi giới bất động sản với
một số nước có điểm tương đồng về mức độ phát triển, cũng như các quy định đổi mới
qua các thời kỳ để thấy được sự biến đổi của pháp luật Việt Nam về vấn đề môi giới bất
động sản qua các thời kỳ.
6. KẾT CẤU DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN
Chương 1. Khái quát chung và các quy định pháp luật về môi giới bất động sản
Chương 2. Thực trạng và hướng hoàn thiện hoạt động môi giới bất động sản theo
pháp luật Việt Nam
5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ
MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG VÀ VAI TRÒ CỦA MÔI GIỚI BẤT
ĐỘNG SẢN
1.1.1. Khái niệm về bất động sản
Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có một quy định giải thích khái niệm BĐS là
gì mà chỉ tiếp cận dưới góc độ là một bộ phận của tài sản5 và theo phương thức liệt kê.
Cụ thể, theo Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015), BĐS bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình
xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây
dựng; Tài sản khác theo quy định của pháp luật6.
Nghiên cứu so sánh với pháp luật thế giới, có thể thấy BLDS 2015 tương đồng
với hầu hết các quốc gia khác tron việc phân loại tài sản thành “BĐS” và “động sản”.
Việc phân loại này xuất phát từ các quy định trong luật cổ của La Mã. Theo đó, BĐS
không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức
lao động của con người gắn liền với đất đai như các công trình xây dựng, mùa màng,
cây trồng,… và tất cả những gì liên quan đến đất đai hay gắn liền với đất đai theo không
gian 3 chiều (chiều cao, chiều sâu, chiều rộng) để tạo thành một dạng vật chất có cấu
trúc và công năng được xác định. Để ngắn gọn và dễ hiểu hơn, hầu hết các nước trên thế
giới đều coi BĐS là đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai, không tách rời với đất
đai, được xác định bởi vị trí địa lí của đất7. Cụ thể, Điều 520 Bộ luật Dân sự Pháp quy
định “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa rời khỏi cây là BĐS, nếu rời khỏi cây thì sẽ gọi
là động sản”. Tương tự, quy định này cũng được thể hiện ở Luật Dân sự Nhật Bản.
Trong khi đó, Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan quy định: “BĐS là đất đai và những vật
gắn liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai”. Luật Dân sự
Đức đưa ra khái niệm BĐS bao gồm đất đai và các tài sản gắn với đất. Luật Dân sự Nga
năm 1994 quy định về BĐS đã có những điểm khác biệt đáng chú ý so với các Luật Dân
sự truyền thống. Điều 130 của Luật này một mặt, liệt kê tương tự theo cách của các Luật
Dân sự truyền thống; mặt khác, đưa ra khái niệm chung về BĐS là “những đối tượng
5
Bộ Luật Dân sự 2015 (Luật số 33/2015/QH11) ngày 14/6/2015, Khoản 2 Điều 105: “Tài sản bao gồm bất động
sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.
6
Bộ Luật Dân sự 2015 (Luật số 33/2015/QH11) ngày 14/6/2015, Khoản 1 Điều 107.
7
Thông tin pháp luật dân sự, “Khái niệm, đặc điểm, phân loại bất động sản”, https://thongtinphapluatdansu.
edu.vn/2008/01/01/3521/, ngày truy cập: 10/11/2017
6
mà dịch chuyển sẽ làm tổn hại đến giá trị của chúng”. Bên cạnh đó, Luật này còn liệt kê
những vật không liên quan gì đến đất đai như “tàu biển, máy bay, phương tiện vũ trụ…”
cũng là các BĐS.
Như vậy, khái niệm BĐS rất rộng, đa dạng và cần được quy định cụ thể bằng
pháp luật của mỗi nước và có những tài sản có quốc gia cho là BĐS, trong khi quốc gia
khác lại liệt kê vào danh mục BĐS. Qua kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới
và kết quả nghiên cứu của nước ta, BĐS có thể được chia làm 3 nhóm: BĐS có đầu tư
xây dựng, BĐS không đầu tư xây dựng và BĐS đặc biệt. Việc phân chia BĐS theo 3
loại trên đây là rất cần thiết bảo đảm cho việc xây dựng cơ chế chính sách về phát triển
và quản lý thị trường BĐS phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta. Trong đó:
- BĐS có đầu tư xây dựng gồm: BĐS nhà ở, BĐS nhà xưởng và công trình
thương mại- dịch vụ, BĐS hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội), BĐS là trụ sở làm
việc v.v.. Trong BĐS có đầu tư xây dựng thì nhóm BĐS nhà đất (bao gồm đất đai và
các tài sản gắn liền với đất đai) là nhóm BĐS cơ bản, chiếm tỷ trọng rất lớn, tính chất
phức tạp rất cao và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Nhóm
này có tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như
phát triển đô thị bền vững. Nhưng quan trọng hơn là nhóm BĐS này chiếm tuyệt đại đa
số các giao dịch trên thị trường BĐS ở nước ta cũng như ở các nước trên thế giới.
- BĐS không đầu tư xây dựng: BĐS thuộc loại này chủ yếu là đất nông nghiệp
(dưới dạng tư liệu sản xuất) bao gồm các loại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng
thuỷ sản, đất làm muối, đất hiếm, đất chưa sử dụng v.v..
BĐS đặc biệt là những BĐS như các công trình bảo tồn quốc gia, di sản văn hoá
vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang v.v.. Đặc điểm của loại BĐS này
là khả năng tham gia thị trường rất thấp8.
BĐS có một số thuộc tính căn bản sau9:
- Tính bất động là đặc trưng khác biệt của hàng hóa BĐS so với các hàng hóa
khác: đất đai là hàng hóa đặc biệt, dù được đem chuyển nhượng, nhưng không thể
chuyển BĐS đó đến một nơi họ muốn, đến một vị trí khác. Quyền sử dụng đất nằm trong
thị trường BĐS, vị trí của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, kinh tế - xã hội, điều
8
Nguyễn Mạnh Hùng (2016), “Thị trường BĐS Việt Nam thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Trường Đại học Nam
Cần Thơ.
9
Đinh Văn Ân (2011), Chính sách phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà
Nội.
7
đó đã tác động đến phương thức sử dụng đất và giá đất, đó chính là nguyên nhân tại sao
giá đất lại khác nhau dù ở vị trí kế cận nhau
- Tính không đồng nhất: trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa rất đa dạng và
rất phức tạp nên khó có thể tìm được 02 tài sản giống nhau hoàn toàn mà nó chỉ tương
đồng về đặc điểm, chính vì vậy mà giá cả của BĐS gắn liền với đặc điểm của mỗi tài
sản. Giả sử rằng, hai BĐS nằm cùng trong một khu vực nhưng giá của chúng còn phụ
thuộc vào thời điểm bán như thế nào, người mua có thích hay không, tâm lí của người
đi mua lúc đó như thế nào và đặc điểm cụ thể của BĐS đó nữa, tất cả đều chứng minh
cho sự không đồng nhất trong nền kinh tế thị trường hiện nay
- Tính khan hiếm: diện tích đất là có hạn so với sự phát triển dân số, do vậy về
lâu dài giá đất có xu hướng ngày càng tăng lên. Diện tích đất đai có chiều hướng giảm
có rất nhiều nguyên nhân. Một là, do tốc độ tăng dân số nhanh đặc biệt là vùng nông
thôn. Hai là, do tốc độ phát triển kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa làm cho diện tích đât nông nghiệp giảm. Ba là, do nhu cầu lao động ở thành thị
cao hơn nông thôn dẫn đến tình trạng dân số ở thành phố tăng lên, nhu cầu về chỗ ở
cũng tăng lên vì vậy phát sinh nhu cầu mua bán BĐS, kinh doanh nhà cho thuê
- Tính bền vững đời sống kinh tế: BĐS bao gồm cả đất đai và các công trình
trên đất, đất đai là nguồn tài nguyên do thiên nhiên ban tặng, là tư liệu sản xuất đặc biệt
mà không có tài sản nào có thể thay thế được. Nó được tham gia vào quá trình tái sản
xuất xã hội nhưng dù đem sử dụng cho mục đích nào đi nữa thì nó cũng vẫn mang lại
lợi ích cho chủ sỡ hữu nên mang tính bền vững. Hơn nữa, đất đai được sử dụng để hưởng
quyền sở hữu đất đai và hưởng các lợi ích do đất đai mang lại và thời gian sử dụng lại
vô hạn làm cho ý nghĩa của đất đai, BĐS được nhân đôi. Điều này thể hiện đời sống
kinh tế bền vững
1.1.2. Khái niệm về môi giới bất động sản
Trước tiên, có thể định nghĩa môi giới là hoạt động của người thứ ba với mục
đích tạo sự thông cảm, thấu hiểu về các vấn đề liên quan giữa các bên với nhau, hoặc là
việc giải quyết những công việc nào đó liên quan giữa hai bên - người môi giới lúc này
đóng vai trò là cầu nối. Ngoài ra việc môi giới có thể được xác định như là công việc
tạo thu nhập thông qua các thương vụ giữa các bên với nhau. Vì vậy môi giới là công
việc với mục đích tạo thu nhập mà đối tượng của nó là các thương vụ được thực hiện
giữa hai bên. chúng ta xem xét khái niệm về môi giới nói chung. Nói cách khác, môi
8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Văn bản pháp luật
1. Hiến pháp 2013 (số: không số) ngày 28/11/2013.
2. Bộ Luật Dân sự 2015 (Luật số 33/2015/QH11) ngày 14/6/2015.
3. Luật Đất đai 1993 (Luật số: không số) ngày 14/07/1993 (hết hiệu lực)
4. Luật Đất đai 2003 (Luật số 13/2003) ngày 26/11/2003 (hết hiệu lực).
5. Luật Đất đai 2013 (Luật số 45/2013/QH13) ngày 29/11/2013.
6. Luật Kinh doanh bất động sản 2006 (Luật số 63/2006/QH11) (hết hiệu lực).
7. Luật Kinh doanh bất động sản 2014 (Luật số 66/2014/QH13) ngày 25/11/2014.
8. Luật nhà ở 2014 (Luật số: 65/2014/QH13) ngày 25/11/2014.
9. Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 của Chính phủ quy định chi tiết
hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bất động sản 2006 (hết hiệu lực).
10. Nghị định số 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản 2014.
11. Thông tư 13/2008/TT-BXD hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định
số 153/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh
bất động sản 2006 (hết hiệu lực)
12. Thông tư 11/2015/TT-BXD của Bộ Xây dựng ngày 30/12/2015 quy định việc
cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản; hướng dẫn việc đào tạo,
bồi dưỡng kiến thức hành nghề môi giới bất động sản, điều hành sàn giao
dịch bất động sản; việc thành lập và tổ chức hoạt động của sàn giao dịch
bất động sản.
13. Quyết định 29/2007QĐ-BXD của Bộ xây dựng quy định về khung đào tạo, bồi
dưỡng kiến thức về môi giới bất động sản.
14. Quyết định số 29/2007/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng về việc ban hành khung
Chương trình đào tạo, bồi dướng kiến thức về môi giới BĐS, định giá BĐS
và quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản.
Tiếng Việt
15. Vũ Anh (2004), “Một số vấn đề về pháp luật thị trường bất động sản ở Việt Nam”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 2(190), tr.21-29.
56