Luận văn pháp luật về đình công qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh trà vinh

  • 73 trang
  • file .pdf
TÓM TẮT
Đình công là một trong những quyền cơ bản của người lao động, được thừa
nhận bởi Liên hiệp Quốc, Tổ chức Lao động Quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế
giới. Ở Việt Nam, đình công xuất hiện cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung
sang nền kinh tế thị trường, theo đó người lao động thường sử dụng quyền đình công
như một vũ khí đấu tranh với người sử dụng lao động để đạt được những yêu sách về
quyền và lợi ích trong quan hệ lao động. Nhận thức được tầm quan trọng của đình
công, Bộ luật Lao động năm 1994 và Luật sửa đổi bổ sung năm 2006 đều có những
quy định riêng để điều chỉnh vấn đề này. Qua nhiều năm thực hiện, do bộc lộ một số
hạn chế và bất cập nên Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành và có hiệu lực từ
01 - 5 - 2013 đã điều chỉnh lại một lần nữa phù hợp hơn vấn đề đình công và giải
quyết đình công. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định về giải quyết đình công trong
Bộ luật Lao động năm 2012 không còn phù hợp với tình hình thực tế. Chính vì thế
mà vấn đề giải quyết đình công được đưa vào một chương riêng (Chương XXXI Thủ
tục xét tính hợp pháp của cuộc đình công) trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ
luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ
họp thứ 10 thông qua ngày 25 - 11 - 2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 - 7 -
2016). Với mong muốn tìm hiểu và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về
đình công và giải quyết đình công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh cũng như đóng góp một
vài ý kiến nhằm thực thi có hiệu quả các quy định của Bộ luật Lao động năm 2012
cũng như Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về đình công và giải quyết đình công, tác
giả đã chọn đề tài: “Pháp luật về đình công qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Trà Vinh”
làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
2 chương:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về đình công và pháp luật đình công
- Chương 2. Thực trạng áp dụng pháp luật đình công tại tỉnh Trà Vinh và kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đình công.
-iii-
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, luận văn đã đi từ các quan
niệm về đình công và giải quyết đình công nói chung đến sự điều chỉnh bằng pháp
luật đối với vấn đề này trên bình diện quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế và
các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích
một cách có hệ thống các quy định về đình công và giải quyết đình công theo Bộ luật
Lao động năm 2012 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Từ những nghiên cứu về
pháp luật thực định, luận văn phân tích thực tiễn đình công, giải quyết đình công và
những nguyên nhân xảy ra đình công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh và thấy rằng tình
trạng đình công diễn ra hết sức phức tạp, trong khi đó việc giải quyết đình công thông
qua xét tính hợp pháp của cuộc đình công vẫn chưa diễn ra trên thực tế vì nhiều lý
do. Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
của việc thực thi Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về
vấn đề đình công và giải quyết đình công, bao gồm các kiến nghị để hoàn thiện một
số quy định của pháp luật cũng như các giải pháp toàn diện để đảm bảo thực hiện
pháp luật trên thực tế. Nhằm ngăn chặn đình công xảy ra và nếu có xảy ra thì giải
quyết kịp thời, có hiệu quả, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do đình công gây ra
đối với sự phát triển của nền kinh tế là vấn đề cần thiết và cấp bách hiện nay.
-iv-
ABSTRACT
Strike is one of the fundamental rights of workers, adopted by the United
Nations, International Labour Organization and most countries around the world.
In Vietnam, strikes appeared with the transition from centralized economy to a
market economy, in which workers often use the right to strike as a weapon of
struggle with employers to achieve the claims of rights and interests in labor
relations. Recognizing the importance of the strike, The Labour Code in 1994 and
The Law on Amendments and Supplements in 2006 have the specific provisions
to regulate this issue. Through many years of implementation, due to revealing
some of the limitations and inadequacies, The Labour Code in 2012 was enacted
and entered into force from 01 - 5 - 2013 adjusted one again so it coincided about
the strike and it’s resolve. However, the implementation of the regulations on the
strike’s resolve in The Labour Code in 2012 is no longer consistent with the actual
situation. So the strike resolving problem is put into a separate chapter (Chapter
XXXI The procedure to examine the legality of the strike) in the Civil Procedure
Code 2015 (This Code was adopted by the National Assembly of the Republic
Vietnam Socialist XIII, adopted at its 10th session on 25 - 11 - 2015, and took
effect from 01 - 7 - 2016). With the desire to learn and to clarify some theoretical
issues, practical strike and it’s resolve in Tra Vinh Province as well as contributing
some ideas to implement effectively the provisions of The Labour Code 2012 and
The Civil Procedure Code in 2015 about the strike and it’s resolve, the author has
chosen the project: “The legislation on strike through practical application in Tra
Vinh Province” as the master’s thesis.
Besides the introduction and conclusion, list of references, this thesis includes
2 chapter:
Chapter 1: The general theoretical issues about the strike and strike law.
Chapter 2: The situation of applying strike law in Tra Vinh province and
petition to perfect the law about strikes and solving strike
-v-
Based on researching the general theoretical issues, the thesis went from
intellection of strike and strike’s resolve to the regulation by law of this issue in the
view of the International Labour Organization and the nations in the world, including
Vietnam. On this basis, the author has analyzed a systematic way of regulations on
strike and resolve the strike under the Labour Code 2012 and Civil Procedure Code
2015. From the study of law carry on, the thesis analyzed the practical strike, strike’s
resolve, and the causes of strike in Tra Vinh Province, pointed out that the strike
status is very complex, while the resolving of strike through legal examination of
strike has not occurred yet in practical for several reasons. From the above analysis,
the author gave some recommendations to improve the effectiveness of the
implementation of the Labour Code 2012 and Civil Procedure Code 2015 about the
strike problem and resolving, include some proposals to improve provisions of the
law as well as a comprehensive solution to ensure the implementation of laws in
practice. In order to prevent the strike and resolve promptly, with effectiveness and
limited to the lowest level of damage caused by strike for the development of the
economy is the necessary and urgent problem now.
-vi-
MỤC LỤC
Trang tựa
Quyết định giao đề tài
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
TÓM TẮT ................................................................................................................ iii
ABSTRACT ...............................................................................................................v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT .....................................................................x
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.............................................................4
3.1 Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................4
3.2 Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................4
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .........................................................................5
4.1 Mục đích nghiên cứu ....................................................................................5
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ............................................................6
7. Kết cấu luận văn .................................................................................................6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ
PHÁP LUẬT ĐÌNH CÔNG .....................................................................................7
1.1 Khái quát chung về đình công ..........................................................................7
1.1.1 Khái niệm đình công .................................................................................7
1.1.2 Những dấu hiệu cơ bản của đình công ......................................................9
1.1.3 Phân loại đình công .................................................................................12
1.1.4 Sự tác động của đình công ......................................................................13
1.1.5. Các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của cuộc đình công .......................15
-vii-
1.1.6. Những hành vi bị cấm thực hiện trước, trong và sau khi kết thúc cuộc
đình công .........................................................................................................17
1.2 Pháp luật về giải quyết đình công ...................................................................18
1.2.1 Phương thức giải quyết đình công ...........................................................18
1.2.2 Thẩm quyền, thủ tục nộp đơn, thụ lý đơn yêu giải quyết đình công .......21
1.2.3. Xét tính hợp pháp của cuộc đình công và quyền lợi của NLĐ khi giải
quyết đình công ................................................................................................23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐÌNH CÔNG TẠI
TỈNH TRÀ VINH VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ĐÌNH CÔNG ...........................................................................................................29
2.1 Khái quát tình hình đình công và giải quyết đình ...........................................29
2.1.1 Tình hình đình công tại Việt Nam ...........................................................29
2.1.2 Tình hình đình công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh ......................................30
2.2 Nguyên nhân xảy ra đình công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh ............................36
2.2.1 NSDLĐ không thực hiện đúng quy định pháp luật về lao động và các cam
kết đã thỏa thuận với NLĐ ...............................................................................36
2.2.2 Hiểu biết và ý thức pháp luật của NLĐ còn hạn chế ...............................37
2.2.3 Vai trò của công đoàn cơ sở tại các DN xảy ra đình công còn yếu kém.38
2.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát thực hiện pháp luật lao động còn
nhiều hạn chế ....................................................................................................40
2.3 Thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết đình công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh....41
2.3.1 Thành lập ban chỉ đạo giải quyết đình công............................................42
2.3.2 Trực tiếp tới nơi xảy ra đình công để lắng nghe ý kiến của công nhân; đồng
thời tuyên truyền, giải thích chính sách, pháp luật lao động cho công nhân ...43
2.3.3 Tổ chức gặp gỡ các DN, các nhà đầu tư để trao đổi việc thực hiện các quy
định của pháp luật lao động, bàn các biện pháp giải quyết đình công, nhằm sớm
ổn định sản xuất ................................................................................................44
2.4 Một số bất cập của pháp luật đặt ra từ thực tiễn đình công và giải quyết đình
công tại tỉnh Trà Vinh ...........................................................................................45
-viii-
2.4.1 Quyền đình công chỉ đặt ra đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích .45
2.4.2 Về thẩm quyền lãnh đạo đình công .........................................................47
2.4.3 Thủ tục lấy ý kiến của tập thể lao động về đình công .............................48
2.4.4 Thủ tục hòa giải trước khi tiến hành đình công ......................................49
2.5 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công qua thực
tiễn tại tỉnh Trà Vinh .............................................................................................50
2.5.1 Rút gọn thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể ...........................51
2.5.2 Mở rộng quyền đình công cho NLĐ .......................................................52
2.5.3 Xác định rõ và tăng nặng các chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm các
điều cấm trước, trong và sau khi đình công .....................................................54
2.5.4 Đơn giản hóa thủ tục, trình tự đình công.................................................55
2.5.5 Bổ sung hoạt động y tế, bệnh viện vào lĩnh vực thiết yếu, xác định danh
mục các đơn vị không được đình công.............................................................55
2.5.6 Mở rộng thẩm quyền lãnh đạo đình công ................................................56
2.5.7 Tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn trong giải quyết các cuộc
đình công .........................................................................................................56
KẾT LUẬN ..............................................................................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................61
-ix-
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NLĐ: Người lao động
NSDLĐ: Người sử dụng lao động
BLLĐ: Bộ luật Lao động
BLTTDS: Bộ luật Tố tụng Dân sự
LĐLĐ: Liên đoàn Lao động
BCH: Ban Chấp hành
DN : Doanh nghiệp
UBND: Ủy ban nhân dân
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
-x-
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển sôi động của kinh tế
thị trường, đình công là một hiện tượng xã hội tất yếu. Đình công là một biện pháp
được người lao động sử dụng nhằm đấu tranh với người sử dụng lao động để bảo vệ
quyền lợi của mình trong quá trình thực hiện quan hệ lao động.
Trên thế giới, quyền đình công của tập thể người lao động được pháp luật
nhiều nước thừa nhận. Liên Hợp Quốc cũng công nhận quyền đình công của người
lao động trong Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa do Đại hội
đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16 - 12 - 1966.
Tại Việt Nam, Bộ luật Lao động năm 1995 (đến nay là Bộ luật Lao động năm
2012) đã chính thức thừa nhận một trong các quyền của người lao động là quyền đình
công. Tuy nhiên, thực tế nhiều năm qua cho thấy tình hình đình công diễn ra ở nhiều
nơi trong cả nước đã không tuân thủ đúng luật, gây ra nhiều vấn đề phức tạp như: sử
dụng bạo lực trong đình công, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người lao động,
đập phá tài sản, máy móc, nhà xưởng, lôi kéo, tụ tập, kích động, gây mất trật tự…
Tỉnh Trà Vinh đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, được quy hoạch
và hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, phát triển đa dạng về ngành
nghề, thu hút một số lượng lớn người lao động đã đóng góp rất nhiều vào sự phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương. Bên cạnh đó tỉnh Trà Vinh trong thời
gian qua cũng diễn ra các cuộc đình công trái luật gây ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế,
trật tự an ninh xã hội, môi trường đầu tư…không những thế việc giải quyết hậu quả
của đình công trái luật là vấn đề nan giải, mất rất nhiều thời gian, nhân lực, vật lực
của toàn xã hội. Chính vì vậy, hiện tượng đình công diễn ra ở nhiều doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Trà Vinh trong thời gian qua là sự quan tâm của người lao động,
người sử dụng lao động, của các cấp chính quyền và đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên
cứu, giải quyết trong quá trình thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương.
-1-
Tuy nhiên, đình công không hẳn là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, vì
thông qua đình công, các xung đột về quyền và lợi ích giữa người lao động và người
sử dụng lao động được giải quyết, từ đó góp phần cải thiện quan hệ lao động. Cho
nên không nên coi đình công là hiện tượng tiêu cực của nền kinh tế thị trường và tìm
cách hạn chế thậm chí loại bỏ nó.
Do vậy, nghiên cứu, phân tích một cách khoa học về tình hình đình công và
thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết đình công tại tỉnh Trà Vinh là hết sức cần thiết
và quan trọng. Với nhận thức đó tác giả quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về đình
công qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Trà Vinh” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền đình công của người lao động ở nước ta được pháp luật ghi nhận từ Sắc
lệnh số 29/SL ngày 12 - 3 - 1947. Tuy nhiên, sau đó trong một thời gian dài của cơ chế
kinh tế tập trung bao cấp, quyền đình công của người lao động đã không được đề cập.
Kể từ sau năm 1986, nền kinh tế nước ta chuyển sang kinh tế thị trường, lúc
này quan hệ lao động bắt đầu có sự đấu tranh về lợi ích giữa người lao động và người
sử dụng lao động. Thực tiễn cho thấy từ năm 1986 đến nay, nhiều cuộc đình công xảy
ra ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có tỉnh Trà Vinh.
Từ thực tiễn đó, vấn đề đình công đã và đang được đề cập nghiên cứu ở nhiều
khoa học khác nhau, trong đó có khoa học pháp lý. Đặc biệt trong những năm gần
đây khi tình hình đình công đang dần trở nên nóng bỏng thì tình hình nghiên cứu về
đình công và giải quyết đình công ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Qua quá trình
khảo sát về tình hình nghiên cứu, tác giả nhận thấy như sau:
Có nhiều bài viết đăng trên báo, tạp chí như: Báo Người Lao động, Báo Sài
Gòn Giải phóng, Tuổi trẻ, Thanh niên… nhằm phản ánh tình hình đình công và việc
giải quyết đình công tại một số doanh nghiệp. Các bài viết này chủ yếu là cung cấp
thông tin và có một vài ghi nhận, đánh giá tình hình đình công và giải quyết đình
công như bài “Đâu phải muốn là đình công” của tác giả Hồng Vân, đăng trên Báo
Người Lao động, số ra ngày 29 - 8 - 2016; bài “Thiệt hại do đình công bất hợp pháp:
Ai chịu trách nhiệm?” của tác giả Đường Loan, đăng trên báo Sài Gòn Giải phóng,
-2-
số ra ngày 27 - 02 - 2014; bài “Khó đình công hợp pháp” của tác giả Mai Chi đăng
trên Báo Người Lao động số ra ngày 28 - 01 - 2015; hay bài “Đình công - Ai ép ai?
Nhìn từ lý thuyết mặc cả” của tác giả Nguyễn An Nguyên, đăng trên Tuổi trẻ chủ
nhật, số ra ngày 19 - 02 - 2006…
Có một số bài viết mang tính chất nghiên cứu, trao đổi lý luận của các nhà
nghiên cứu, các giảng viên Đại học Luật và các chuyên gia đang công tác tại các cơ
quan tố tụng, như: Nguyễn Hữu Chí (2012), “Tự do công đoàn và đình công dưới góc
độ quyền kinh tế - xã hội của người lao động”, Tạp chí Luật học (số 6/2012); Đỗ
Ngân Bình (2007), “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động
trước, trong và sau đình công”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (số 6/2007); hay bài viết
“Vai trò của các chủ thể trong quan hệ lao động và giải quyết tranh chấp lao động,
đình công” của tác giả Nguyễn Hữu Dũng đăng trên tạp chí Tâm lý học số 2/2011;
Phạm Công Bảy (2012), Thực trạng tranh chấp lao động, đình công và kiến nghị việc
sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung, Tạp chí Tòa án
nhân dân (Số 10/2012); Hồ Quang Huy (2009), Một số suy nghĩ về bản chất và ảnh
hưởng của hiện tượng đình công đối với đời sống kinh tế - xã hội, Tạp chí Dân chủ
và Pháp luật (Số 4/2009); Trần Ngọc Diễn (2016), Tăng cường vai trò công đoàn
trong ngăn ngừa, giảm thiểu đình công ở Việt Nam, Tạp chí Lao động và Xã hội (Số
519 + 520/2016).
Một số nghiên cứu khoa học về pháp luật đình công và giải quyết đình công
của các luận văn tiến sỹ và thạc sỹ luật học cũng được thực hiện tại Viện Nhà nước
và Pháp luật, trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP.HCM, Học viện Chính
trị Quốc gia… như: Trần Hồng Hạnh (2008), Đình công và giải quyết đình công
theo pháp luật lao động Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà
Nội; Chử Thị Xuyên (2013), Những điểm mới về tranh chấp lao động và đình công
trong Bộ luật Lao động năm 2012, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà
Nội; Trần Trọng Tuấn (2006), Đình công và thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết
đình công tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật
TP.HCM; Nguyễn Thị Lành (2010), Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
-3-
của người sử dụng lao động trong các cuộc đình công bất hợp pháp, Luận văn thạc
sỹ luật học, Đại học Luật TP.HCM.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và
một số cơ quan, tổ chức khác cũng đã tổ chức nhiều hội thảo, thực hiện các công trình
nghiên cứu về đình công và thủ tục giải quyết đình công. Chẳng hạn đề tài của Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam (2009), “Đình công ở nước ta hiện nay và các giải
pháp của công đoàn” do nhóm nghiên cứu của Viện Công nhân - Công đoàn thực
hiện. Tuy nhiên kết quả của công trình nghiên cứu này, nhóm tác giả chỉ tập trung
phân tích các nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp lao động dẫn đến đình công,
khẳng định vai trò của tổ chức công đoàn là cầu nối hài hòa trong mối quan hệ giữa
người lao động với doanh nghiệp.
Tuy nhiên, hầu như chưa có đề tài nào nghiên cứu về pháp luật đình công và
giải quyết đình công từ thực tiễn tại tỉnh Trà Vinh. Mặc khác, các nghiên cứu đó tập
trung nhiều vào các lý luận về đình công, chưa xuất phát từ thực tiễn đình công và áp
dụng pháp luật giải quyết đình công để xem xét và lý giải vấn đề.
Luận văn này là một công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu riêng về tình
hình đình công và thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết đình công tại tỉnh Trà Vinh
kể từ khi Bộ luật Lao động có hiệu lực đến nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Quy định của pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở nước ta hiện nay.
- Thực tiễn đình công và giải quyết đình công tại tỉnh Trà Vinh.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đình công và giải quyết đình công là vấn đề vừa có tính lý luận vừa có tính
thực tiễn, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau.
Trong phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những khía
cạnh pháp lý về đình công và áp dụng pháp luật giải quyết đình công trong Bộ luật
Lao động năm 2012 và Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng như trong một số văn
bản pháp luật liên quan khác.
-4-
Thực tiễn đình công và áp dụng pháp luật giải quyết đình công tác giả chỉ
nghiên cứu trong địa bàn tỉnh Trà Vinh. Bởi tỉnh Trà Vinh đang trong quá trình tái cơ
cấu kinh tế, đã và đang hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, phát triển
đa dạng về ngành nghề, thu hút một số lượng lớn người lao động. Đặc biệt trong
những năm gần đây, là địa phương xảy ra nhiều cuộc đình công phức tạp nhất trong
khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Từ tình hình đình công và thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết đình công tại
tỉnh Trà Vinh, luận văn nhằm chỉ ra được các nội dung hạn chế của pháp luật về đình
công, giải quyết đình công và cơ chế áp dụng pháp luật giải quyết đình công ở nước
ta. Trên cơ sở đó nêu lên những kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập, thiếu sót,
hạn chế của pháp luật hiện hành về đình công và giải quyết đình công. Qua đó góp
phần nâng cao tính khả thi của pháp luật đình công và giải quyết đình công, bảo đảm
thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Một là, chỉ ra được cơ sở lý luận của quyền đình công đồng thời phân tích các
quy định pháp luật hiện hành về đình công và giải quyết đình công.
Hai là, phân tích, đánh giá tình hình đình công và thực tiễn áp dụng pháp luật
giải quyết đình công tại tỉnh Trà Vinh trong thời gian qua.
Ba là, đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đình công và giải
quyết đình công ở nước ta.
5. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đồng thời, dựa trên quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về đình công và giải quyết đình công.
Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài cơ
bản là các phương pháp truyền thống như phân tích, so sánh, thống kê …
-5-
Sử dụng phương pháp so sánh nhằm đưa ra một số nội dung mới trong quy
định của Bộ luật Lao động năm 2012 so với các văn bản trước đây về đình công, so
sánh số liệu về số vụ đình công từng năm xảy ra trên địa bàn tỉnh Trà Vinh; sử dụng
phương pháp thống kê để cập nhật chính xác số vụ đình công thực tế đã xảy ra trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh so với mặt bằng chung của cả nước; sử dụng phương pháp phân
tích để tìm ra nguyên nhân xảy ra đình công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm mục đích đóng góp về mặt lý luận cho
pháp luật lao động liên quan đến đình công, đóng góp một số giải pháp giải quyết
đình công trên thực tế địa bàn tỉnh Trà Vinh. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của đề
tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý
có liên quan đến đình công và giải quyết đình công; tuyên truyền pháp luật đối với
người sử dụng lao động, người lao động và có thể làm tài liệu tham khảo để đóng góp
các dự thảo văn bản pháp luật có liên quan đến đình công.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về đình công và pháp luật đình công
- Chương 2. Thực trạng áp dụng pháp luật đình công tại tỉnh Trà Vinh và kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đình công.
-6-
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG
VÀ PHÁP LUẬT ĐÌNH CÔNG
1.1 Khái quát chung về đình công
1.1.1 Khái niệm đình công
Đình công không phải là khái niệm mới, mà có từ khá sớm. Vào thời Ai Cập
cổ đại, những người công nhân làm việc ở nghĩa trang hoàng gia tại Deir el - Medina
đã tổ chức cuộc bãi công vào ngày 14 - 11 - 1152. Sự kiện này đã được các sử gia ghi
chép lại và lưu trữ tại Turin, Italia. Đây được xem là cuộc đình công đầu tiên trong
lịch sử loài người. Mexico được xem là quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận
quyền đình công trong hiến pháp vào năm 1917 [22].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 1995, “Đình công là một dạng bãi công ở
quy mô nhỏ trong một hay nhiều xí nghiệp, cơ quan; thường không kèm theo những
yêu sách về chính trị” hay “Đình công được hiểu là đấu tranh có tổ chức bằng cách
cùng nhau nghỉ việc trong các xí nghiệp, công sở” (Từ điển Tiếng Việt 1994).
Dưới góc độ kinh tế - xã hội, đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế được thực
hiện bởi tập thể NLĐ nhằm gây sức ép để đạt được những yêu sách gắn với lợi ích kinh
tế hoặc lợi ích nghề nghiệp. Đình công được coi là “vũ khí” mà tập thể NLĐ sử dụng
trong cuộc đấu tranh kinh tế, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại kinh tế với NSDLĐ,
nhằm mục đích giải quyết những bất đồng về quyền và lợi ích theo hướng có lợi cho tập
thể NLĐ. Đình công để lại hậu quả và thiệt hại kinh tế cho DN, đồng thời cũng ảnh
hưởng đến lợi ích của cá nhân và tập thể NLĐ ở một mức độ nhất định.
Dưới góc độ pháp lý, đình công là quyền của NLĐ được pháp luật thừa nhận.
Quyền đình công là quyền ngừng việc tạm thời của NLĐ nhằm buộc NSDLĐ hoặc
các chủ thể khác phải thỏa mãn những yêu sách về quyền và lợi ích chính đáng của
mình. Tuy nhiên, quyền đình công của NLĐ chỉ giới hạn trong khuôn khổ mà pháp
luật cho phép và phải tuân theo những trình tự và thủ tục nhất định theo quy định của
-7-
pháp luật. Quyền đình công của NLĐ được ghi nhận trong văn bản pháp luật của quốc
gia và một số văn bản pháp luật lao động quốc tế.
Trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên Hợp
Quốc năm 1966 tại điểm d khoản 1 Điều 8 có nêu rõ: “Các quốc gia tham gia công
ước này cam kết bảo đảm quyền đình công của NLĐ miễn quyền này được thực hiện
phù hợp với pháp luật của mỗi nước”. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO:
Quyền đình công là một trong những biện pháp thiết yếu mà NLĐ và tổ
chức của họ có thể sử dụng để bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của
mình. Việc sử dụng quyền đình công không chỉ nhằm đạt được điều kiện
làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính chất nghề nghiệp
mà nhằm tìm ra những giải pháp cho những vấn đề chính sách kinh tế - xã
hội và mọi vấn đề lao động mà NLĐ trực tiếp quan tâm [44].
Pháp luật Việt Nam từ rất sớm đã có những quy định về quyền đình công. Điều
174 Sắc lệnh số 29/SL của Chủ tịch Chính phủ ngày 12 - 3 - 1947 quy định “Công
nhân có quyền tự do kết hợp và bãi công”. Như vậy, quyền đình công của NLĐ đã
được ghi nhận nhưng chưa đề cập đến cơ chế thực hiện quyền. Đến khi BLLĐ năm
1994 ra đời, trình tự thủ tục tiến hành đình công mới bước đầu được quy định cụ thể.
Tuy nhiên, phải đến khi sửa đổi, bổ sung BLLĐ năm 2006 khái niệm đình công mới
được quy định chính thức tại Điều 172. Theo đó, “Đình công là sự ngừng việc tạm
thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết tranh chấp lao động
tập thể” nhưng định nghĩa này cũng gây nhiều nghi ngại bởi về bản chất đình công
không phải là biện pháp để giải quyết tranh chấp lao động, mà chỉ là biện pháp được
thực hiện nhằm giải quyết tranh chấp lao động theo hướng có lợi cho NLĐ. Qua nhiều
lần sửa đổi bổ sung, BLLĐ năm 2012 đã nêu ra khái niệm “Đình công là sự ngừng
việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu
trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động. Việc đình công chỉ được tiến hành đối
với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích” [36, Điều 209]. Như vậy, đình công là
một loại quyền cho phép NLĐ được tự do lựa chọn cách xử sự trong khuôn khổ pháp
luật nhưng việc thực hiện quyền này phải thông qua hành vi mang tính tập thể là sự
tự nguyện ngừng việc của những NLĐ [29].
-8-
Từ những phân tích trên có thể hiểu: Đình công là sự ngừng việc tạm thời của
tập thể NLĐ, nhằm gây áp lực buộc NSDLĐ hoặc các chủ thể khác phải thỏa mãn
những yêu sách về quyền và lợi ích của tập thể NLĐ.
1.1.2 Những dấu hiệu cơ bản của đình công
Từ khái niệm đình công ở trên có thể tìm ra các dấu hiệu cơ bản của đình công,
để phân biệt đình công với các hình thức khác như lãn công, biểu tình…
- Đình công là phản ứng thể hiện bằng sự ngừng việc hoàn toàn của NLĐ
Đình công biểu hiện trước hết là sự ngừng việc của NLĐ. Sự ngừng việc này
có nhiều dạng, nhiều mức độ khác nhau nhưng ở các nước, quyền đình công thường
được biểu hiện là sự ngừng việc triệt để, tức là ngừng việc hoàn toàn của bản thân
NLĐ khi lẽ ra họ phải thực hiện công việc theo hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể,
theo quy chế của nơi làm việc mà không được sự đồng ý của NSDLĐ. Vì vậy, tất cả
những sự ngừng việc không triệt để như nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc cầm chừng, lơ là,
chây ì (lãn công) nhằm đối với NSDLĐ không được xác định là đình công. Việc lãn
công không được thừa nhận và bị coi là hành vi vi phạm kỷ luật lao động, bị NSDLĐ
xử lý theo quy định của kỷ luật lao động.
Tuy nhiên cũng cần phân biệt đình công với việc đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động. Đình công là việc NLĐ tạm thời không thực hiện nghĩa vụ lao động
với mục đích tạo sức ép để NSDLĐ đáp ứng yêu sách của mình. Nếu yêu sách được
đáp ứng họ sẽ ngay lập tức trở về làm việc ngay.
Như vậy, sự phản ứng của NLĐ thông qua sự ngừng việc hoàn toàn là dấu
hiệu cơ bản để nhận diện đình công. Tuy nhiên, phản ứng này là mang tính hợp pháp
được pháp luật cho phép như tác giả đã trình bày ở mục phần đầu của luận văn.
- Đình công phải là do NLĐ tự nguyện.
Đình công là quyền của NLĐ, tuy nhiên việc đình công phải bảo đảm theo
trình tự thủ tục và những quy định của pháp luật, trên tinh thần tự nguyện. Pháp luật
nghiêm cấm:
Cản trở việc thực hiện quyền đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc
NLĐ đình công; cản trở NLĐ không tham gia đình công đi làm việc. Dùng
-9-
bạo lực; hủy hoại máy, thiết bị, tài sản của NSDLĐ. Xâm phạm trật tự, an
toàn công cộng. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động
đối với NLĐ, người lãnh đạo đình công hoặc điều động NLĐ, người lãnh
đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do
chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công. Trù dập, trả thù NLĐ tham
gia đình công, người lãnh đạo đình công. Lợi dụng đình công để thực hiện
hành vi vi phạm pháp luật khác [36, Điều 219].
Dấu hiệu này có nghĩa là tập thể lao động tiến hành đình công phải xuất phát
từ tự giác, tự nguyện của mỗi NLĐ. Khi nào họ thấy cần lên tiếng để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình thì họ sẽ thể hiện ý chí đó qua hành động
cụ thể. Mọi sự cưỡng ép, lừa dối NLĐ tham gia đình công đều bị coi là những hành
vi bất hợp pháp. Tùy theo mức độ vi phạm, người có hành vi ép buộc người khác đình
công phải bồi thường thiệt hại, bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự.
- Đình công là hiện tượng mang tính tập thể và do tập thể NLĐ tiến hành
Sự ngừng việc đình công phải do nhiều NLĐ tiến hành, đây chính là sự phản
ứng tập thể của NLĐ. Sự tham gia của tập thể NLĐ vừa là một trong những biểu hiện
bên ngoài của đình công, vừa là dấu hiệu không thể thiếu của đình công. Tính tập thể
ở đây thể hiện thông qua hành vi ngừng việc của nhiều người với cùng một động cơ,
mục đích giống nhau, cùng nhau phối hợp một cách chặt chẽ, đồng bộ và có hiệu quả
trong quá trình đình công [15] nhằm mục đích gây sức ép đối với NSDLĐ. Như vậy,
tính tập thể của một cuộc đình công phải đồng thời thể hiện ở hai dấu hiệu là có sự
tham gia của nhiều NLĐ và giữa họ có sự liên kết mật thiết, cùng ngừng việc vì mục
tiêu chung, phản ánh được ý chí, nguyện vọng chung của tất cả hoặc của đa số NLĐ
trong đơn vị đó.
- Đình công luôn có tính tổ chức, thường do tổ chức Công đoàn lãnh đạo
Sự ngừng việc này phải có sự phối hợp về mặt ý chí và tổ chức của những
NLĐ. Nghĩa là sự ngừng việc này phải có sự chỉ đạo, tổ chức và lãnh đạo, điều hành
chung của một cá nhân, một nhóm người hay sự phối hợp của cả tập thể NLĐ đó.
-10-
Như vậy, từ khi khởi xướng, phát động đình công cho đến việc thực hiện các trình tự
thủ tục khác hay trong quá trình giải quyết đình công đều phải có sự phối hợp của cả
tập thể lao động trong ý chí và hành động.
Pháp luật lao động nước ta chỉ thừa nhận đình công là hợp pháp khi do BCH
Công đoàn cơ sở quyết định và lãnh đạo. Công đoàn là tổ chức duy nhất có quyền
quyết định và lãnh đạo các cuộc đình công. Cụ thể “Ở nơi có tổ chức công đoàn cơ
sở thì đình công phải do BCH Công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo. Ở nơi chưa có
tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức Công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh
đạo theo đề nghị của NLĐ” [36, Điều 210].
Như vậy, sự ngừng việc của NLĐ, thậm chí của quá nửa số NLĐ mà không có
tổ chức, quyết định của Công đoàn thì vẫn không được pháp luật công nhận là đình
công hợp pháp. Dấu hiệu này thể hiện vai trò của Công đoàn trong quan hệ giữa NLĐ
và NSDLĐ.
- Đình công bao giờ cũng gắn liền với những yêu sách
NLĐ khi chọn giải pháp đình công gây sức ép cho NSDLĐ là tại vì họ có
những đòi hỏi muốn được đáp ứng. Những yêu sách này có thể xuất phát từ những
nhu cầu chính đáng, cũng có thể xuất phát từ những nguyện vọng khác. Đó có thể chỉ
là những yêu cầu buộc NSDLĐ phải thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết với NLĐ
trước đó trong hợp đồng lao động hoặc trong thỏa ước lao động tập thể. Nhưng đó
cũng có thể là những yêu sách đưa ra mà cả hai chưa có thỏa thuận với nhau trước đó
và trong tình hình mới việc không đáp ứng những nhu cầu này sẽ ảnh hưởng trực tiếp
tới đời sống NLĐ.
Chủ thể bị gây sức ép phải đáp ứng các yêu sách thông thường là NSDLĐ hoặc
giới sử dụng lao động trực tiếp tham gia quan hệ với NLĐ tiến hành đình công. Song
chủ thể đó cũng có thể là NSDLĐ ở một DN khác (trong các cuộc đình công ủng hộ
- Đình công ủng hộ là cuộc đình công của những người công nhân không có yêu sách
với NSDLĐ của họ nhưng đã nghỉ việc để hỗ trợ tinh thần của những công nhân đang
đình công ở xí nghiệp khác hay ngành khác), thậm chí có thể là Nhà nước. Tuy nhiên,
cần lưu ý rằng không phải quốc gia nào cũng thừa nhận các cuộc đình công của NLĐ
-11-
nhằm gây sức ép tới tất cả các chủ thể trên đều được chấp nhận. Xuất phát từ quan
điểm của từng quốc gia, khả năng quản lý xã hội của quốc gia đó mà không phải quốc
gia nào cũng thừa nhận đình công ủng hộ hay đình công gây sức ép đối với Nhà Nước.
1.1.3 Phân loại đình công
Việc phân loại đình công là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Đình
công có thể diễn ra với nhiều loại hình khác nhau với những tính chất rất khác nhau,
đòi hỏi có những quy định và biện pháp xử lý rất khác nhau. Đồng thời việc phân loại
giúp cho quá trình giải quyết đình công nhanh chóng, hiệu quả, hạn chế những ảnh
hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh, đời sống NLĐ và đối với nền kinh tế xã
hội nói chung.
Dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, ta sẽ có cách phân loại đình công khác nhau.
- Căn cứ vào phạm vi
Căn cứ vào phạm vi đình công có: Đình công DN, đình công bộ phận, đình
công ngành, đình công toàn quốc (tổng đình công). Đình công DN là cuộc đình công
do tập thể lao động tiến hành trong phạm vi chính DN đó. Đình công bộ phận là cuộc
đình công do tập thể lao động tiến hành trong phạm vi bộ phận cơ cấu của DN; đình
công ngành là cuộc đình công do tập thể lao động tiến hành trong phạm vi một ngành;
đình công toàn quốc (tổng đình công) là đình công do những NLĐ cùng tiến hành
trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật nước ta chỉ thừa nhận đình
công DN và đình công bộ phận là hợp pháp.
- Căn cứ vào tính hợp pháp
Căn cứ vào tính hợp pháp có đình công hợp pháp và đình công bất hợp pháp.
Đình công hợp pháp là những cuộc đình công được tiến hành theo đúng quy định của
pháp luật. Đình công bất hợp pháp là những cuộc đình công thiếu một trong số các
điều kiện luật định. Như vậy, tính hợp pháp của đình công chỉ được xét chủ yếu dưới
góc độ thủ tục tiến hành đình công mà không xét về nội dung của các yêu sách trong
đình công.
Ngoài hai cách phân loại trên như ở nước ta, ở các nước còn một số cách phân
loại như sau: Căn cứ vào tính chất có đình công vì mục đích chính trị (đình công
-12-