Luận văn pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản của doanh nghiệp thực trạng và giải pháp

  • 16 trang
  • file .pdf
MỤC LỤC
Lời cam đoan .................................................................................................................... i
Lời cảm ơn ...................................................................................................................... ii
Danh mục chữ viết tắt ..................................................................................................... v
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
1. VỀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ................................................................. 1
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU LIÊN QUAN ..................................... 1
3. MỤC TIÊU ............................................................................................................ 3
3.1. Mục tiêu chung ................................................................................................. 3
3.2. Nhiệm vụ cụ thể ............................................................................................... 4
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN ..................... 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 4
4.2. Phạm vi nghiên cứu.......................................................................................... 4
5. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............ 5
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN ............................................................................... 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN ................... 7
1.1 KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ DOANH NGHIỆP
CHẾ BIẾN THỦY SẢN ............................................................................................ 7
1.1.1 Khái niệm hoạt động chế biến thủy sản ......................................................... 7
1.1.2. Khái niệm doanh nghiệp chế biến thủy sản .................................................. 7
1.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ MỘT SỐ NGUYÊN TẮC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN ....................................................... 11
1.2.1 Khái niệm bảo vệ môi trường trong chế biến thủy sản ................................ 11
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động bảo vệ môi trường trong chế biến thủy sản .......... 14
1.2.3. Một số biện pháp và nguyên tắc cơ bản của hoạt động bảo vệ môi trường
trong chế biến thủy sản. ........................................................................................ 15
1.3. NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CHẾ
BIẾN THỦY SẢN ................................................................................................... 20
1.3.1 Quy định về tiêu chuẩn, quy chuẫn kĩ thuật môi trường trong chế biến
thủy sản ................................................................................................................. 20
iii
1.3.2 Quy định về đánh giá tác động môi trường, quản lý chất thải, đăng kí kế hoạch
bảo vệ môi trường đối với dự án chế biến thủy sản .............................................. 23
1.3.3. Quy định về xử lí hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong chế
biến thủy sản của doanh nghiệp ............................................................................ 28
1.3.3.1. Xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường của
các doanh nghiệp chế biến thủy sản ................................................................. 28
1.3.3.2. Xử lý hình sự đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường của các doanh
nghiệp chế biến thủy sản ................................................................................... 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHẾ BIẾN THỦY SẢN CỦA DOANH
NGHIỆP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ............................................................... 35
2.1. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG CHẾ BIẾN THỦY SẢN ................................................ 35
2.1.1. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẫn kĩ thuật môi
trường trong chế biến thủy sản.............................................................................. 35
2.1.2. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường đăng
kí kế hoạch bảo vệ môi trường đối với cơ sở chế biến thủy sản ........................... 37
2.1.3 Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về xử lý hành vi vi phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường của doanh nghiệp chế biến thủy sản ....................................... 41
2.1.3.1 Thực tiễn tại tỉnh Hậu Giang ................................................................ 41
2.1.3.2. Thực tiễn tại thành phố Cần Thơ ......................................................... 45
2.1.3.3. Một số bất cập phát sinh từ hoạt động áp dụng pháp luật xử lý hành vi
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp chế biến thủy sản 50
2.2. KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN .............................................. 57
2.2.1. Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất
trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản.... 57
2.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật về hành vi gây
ô nhiễm môi trường ............................................................................................... 61
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 71
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BRC: Global Standard - Consumer Products (Tiêu chuẩn toàn cầu - Hàng
tiêu dùng).
BLHS: Bộ luật hình sự.
CFC: Chlorofluorocarbon (Hợp chất hữu cơ chứa cacbon, clo và flo).
ĐTM: Đánh giá tác động môi trường.
GAP: Good Agricultural Practices (Quy trình sản xuất nông nghiệp tốt).
GDP: Gross Domestic Product (Thu nhập bình quân đầu người).
IFS: International Food Standard (Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế do Gobal
Food Safety Inititive ban hành).
IQF: Individual Quick Frozen (Cấp đông nhanh từng cá thể).
SQF: Safe Quality Food (Thực phẩm an toàn và chất lượng).
MTV: Một thành viên.
NXB: Nhà xuất bản.
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam.
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam.
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn.
TNHS: Trách nhiệm hình sự.
v
MỞ ĐẦU
1. VỀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển, trong đó chăn nuôi, chế
biến thủy sản là ngành mũi nhọn có vai trò to lớn, góp phần không nhỏ cho hoạt động
xuất nhập khẩu, mang lại nguồn thu ngoại tệ, giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nóng của các doanh nghiệp chế biến thủy sản
thì vấn đề ô nhiễm môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản đã và đang gây ra
những thiệt hại, làm ảnh hưởng nghiêm trọng cho đời sống xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng sống còn của việc gìn giữ môi trường, Nhà nước
ta đã áp dụng đồng thời nhiều biện pháp bảo vệ môi trường, trong đó rất chú trọng ban
hành văn bản quy phạm về quy chuẩn chế biến thủy sản, về bảo vệ môi trường và xử lý
vi phạm về môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản. Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi
trường trong chế biến thủy sản đang trở thành vấn nạn tại nhiều địa phương trên cả nước,
đặc biệt là tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nguồn ô nhiễm môi trường trong chế
biến thủy sản xuất phát từ các nguồn chất thải nguy hại trong quá trình chế biến như chất
thải rắn, chất thải lỏng, khí thải từ hoạt động rửa nguyên liệu, sơ chế nguyên liệu, chế biến
sản phẩm, các nguồn nước vệ sinh nhà xưởng sản xuất, nước rửa máy móc thiết bị, dụng
cụ sản xuất, nguồn khí thải từ các hệ thống lò hơi, máy phát điện, lò sấy trong các phân
xưởng nhà máy chế biến thủy sản,…. Việc xử lý và bảo vệ môi trường, tuy đã được các
cấp chính quyền, các ngành chuyên môn áp dụng nhiều biện pháp ngăn chặn, khắc phục
nhưng hậu quả ô nhiễm môi trường vẫn ngày càng trầm trọng.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc nghiên cứu vể pháp luật bảo vệ môi
trường trong hoạt động chế biến thủy sản của các doanh nghiệp là hết sức cần thiết, có
tính cấp bách, cần có một công trình khoa học nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm đề
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường. Vì vậy, tác giả đã chọn
đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản của doanh
nghiệp - thực trạng và giải pháp” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ luật
học của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU LIÊN QUAN
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu pháp luật môi trường và xử lý hành
vi gây ô nhiễm môi trường như:
1
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Luật Hà Nội năm 2007 về
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên tại
Việt Nam” của TS.Vũ Thu Hạnh; Báo cáo chuyên đề nghiên cứu: “Quyền khởi kiện đòi
bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường ở Việt Nam. Cơ sở pháp
lý và quy trình thực hiện” của TS.Vũ Thu Hạnh, TS.Trần Anh Tuấn và các đồng nghiệp
trường Đại học Luật Hà Nội chủ trì thực hiện, năm 2009;
- Luận văn thạc sĩ: “Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường theo pháp
luật dân sự Việt Nam” của Chu Thu Hiền, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2011, là công trình khoa học nghiên cứu dưới góc độ của chế định bồi thường thiệt hại
của pháp luật dân sự, nhằm mục đích giải quyết hậu quả của hành vi gây ô nhiễm môi
trường. Chưa nghiên cứu đến hoạt động bảo vệ môi trường; Luận văn thạc sĩ: “Pháp
luật về xử lý cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường”, Nguyễn Thị Thanh
Mai, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013; Luận văn thạc sĩ:
“Pháp luật về xử lý cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường và thực tiễn áp
dụng tại Cà Mau”, Võ Hồng Lĩnh, Trường Đại học Cần Thơ, năm 2015. Đây là hai
công trình nghiên cứu khoa học đều tập chung vào hoạt động xử lý cơ sở sản xuất kinh
doanh gây ô nhiễm môi trường, tuy nhiên luận văn của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai
thì nghiên cứu các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn cả nước còn của tác giả Võ
Hồng Lĩnh chỉ giới hạn tại tỉnh cà mau. Cả hai công trình khoa học nghiên cứu chung
về cơ sở sản xuất kinh doanh, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu đối tượng
cụ thể là doanh nghiệp chế biến thủy sản có những đặc điểm riêng và tầm ảnh hưởng
tác động đến môi trường của đối tượng này. Chưa đưa ra được khái niệm bảo vệ môi
trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà chỉ tập chung nghiên cứu hoạt động
xử lý cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm.
Nhìn chung, các công trình khoa học trên chủ yếu nghiên cứu về xử lý cơ sở kinh
doanh gây ô nhiễm môi trường, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp
luật về xử lý cơ sở kinh doanh gây ô nhiễm môi trường trên phạm vi cả nước nói chung,
của một số địa phương cụ thể nói riêng. Tuy nhiên các luận văn chưa khái quát được
pháp luật về môi trường nói chung, những quy định mang tính phòng ngừa để các doanh
nghiệp không có điều kiện thực hiện hành vi gây ô nhiễm cũng như phân tích, đánh giá
những quy định đó. Các luận văn trên chỉ đi sâu vào việc giải quyết, khắc phục hậu quả
khi đã có hành vi gây ô nhiễm môi trường xảy ra.
2
Về xử lý hình sự các hành vi gây ô nhiễm môi trường có một số công trình khoa
học sau:
- “Lực lượng Công an nhân dân nâng cao trách nhiệm và hiệu quả trong công tác
bảo vệ môi trường” của Trung tướng Đặng Văn Hiếu, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ
trưởng Bộ Công an, năm 2007; Đề tài khoa học: “Tội phạm về môi trường - một số vấn
đề lý luận và thực tiễn”, năm 2003 do tiến sĩ Phạm Văn Lợi, Phó viện trưởng viện Khoa
học pháp lý - Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm;
- Luận văn: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội phạm môi trường theo
Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Trí Chinh, Khoa luật - Đại học quốc gia Hà
Nội, năm 2010; Luận văn: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường” của
Dương Thanh An, Học viện Khoa học xã hội, năm 2011; Luận văn: “Tội gây ô nhiễm môi
trường trong Luật hình sự Việt Nam” của Phùng Trung Thắng, Trường Đại học Quốc gia
Hà Nội, năm 2014. Luận án tiến sĩ: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi
trường” của tác giả Dương Thanh An, năm 2011;
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên các công trình khoa học trên mới
chỉ đề cập nghiên cứu ở những góc độ nhất định về tội phạm môi trường nói chung mà chưa
nghiên cứu một cách chuyên sâu về đối tượng thực hiện hành vi phạm tội gây ô nhiễm môi
trường là các doanh nghiệp cũng như những khó khăn trong việc khởi tố, xử lý hình sự đối
với loại chủ thể này và những quy định pháp luật môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp chế biến thủy sản nói riêng.
Theo những công trình nghiên cứu trên cho thấy, tính cho tới thời điểm hiện tại
chưa có một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào khái quát được các quy
định của pháp luật về môi trường cũng như đánh giá, phân tích hiệu quả mang tính đồng
bộ giữa quy định về pháp luật về môi trường và pháp luật về xử lý hành vi gây ô nhiễm
môi trường của các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp chế biến thủy sản từ đó góp phần
hạn chế hành vi gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp.
3. MỤC TIÊU
3.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu của luận văn nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng các quy
định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản của doanh nghiệp
qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả trong việc phòng ngừa,
3
răn đe, khắc phục hậu quả từ đó hạn chế tối đa hành vi gây ô nhiễm môi trường của các
doanh nghiệp chế biến thủy sản trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ cụ thể
Để đảm bảo đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra và giải
quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng hợp, phân tích và làm rõ một số khía cạnh, khái niệm về ô nhiễm môi
trường, xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường;
- Nghiên cứu các quy định cụ thể về điều kiện sản xuất kinh doanh đảm bảo môi
trường và xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp chế biến thủy
sản trong pháp luật hiện nay của Việt Nam từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá;
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về điều kiện sản xuất kinh
doanh đảm bảo môi trường và xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp
chế biến thủy sản để làm cơ sở chỉ ra những tồn tại, hạn chế qua việc áp dụng và những
nguyên nhân của tồn tại, hạn chế;
- Đề xuất những phương án, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt
Nam cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về điều kiện sản
xuất kinh doanh đảm bảo môi trường và xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường của các
doanh nghiệp thủy sản trong thực tiễn.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Hệ thống các quan điểm, đường lối chính
sách của Đảng liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường. Các quy định pháp luật về
hình sự, dân sự, pháp luật trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước liên quan đến
bảo vệ môi trường trong hoạt động chế biến thủy sản của các doanh nghiệp; tình hình vi
phạm và xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là phân tích những vấn đề lý luận và những
quy định pháp luật về môi trường đối với doanh nghiệp chế biến thủy sản. Thực trạng
áp dụng pháp luật về môi trường đối với doanh nghiệp trong hoạt động chế biến thủy
sản trên phạm vi cả nước và từ thực tiễn tại tỉnh Hậu Giang và Cần Thơ. Do quy định
của pháp luật về BVMT đối với hoạt động chế biến thuỷ sản của doanh nghiệp có phạm
vi rộng, để phù hợp với dung lượng của luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế,
4
luận văn chủ yếu tập trung (nhưng không giới hạn) phân tích, đánh giá thực trạng pháp
luật về các vấn đề cụ thể sau:
- Quy định về quy chuẩn kĩ thuật môi trường trong chế biến thuỷ sản;
- Quy định về đánh giá tác động môi trường, đăng kí kế hoạch bảo vệ môi trường
đối với cơ sở chế biến thuỷ sản;
- Quy định về xử lí hành vi vi phạm pháp luật BVMT của doanh nghiệp chế biến
thuỷ sản.
- Về thời gian: luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về môi trường từ
năm 2014 đến nay.
5. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận sau:
- Trên cơ sở quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
làm nền tảng, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mac - Lênin
để đánh giá sự vật, hiện tượng đang tồn tại trong thực tế một cách tổng thể, khách quan,
chính xác và toàn diện.
- Sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể là: phương pháp
phân tích luật viết, phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, điều tra khảo sát và tổng
hợp để giải quyết nội dung khoa học của đề tài.
+ Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng để làm rõ những khái niệm,
phạm trù mà luận văn sử dụng từ đó rút ra những kết luận khoa học làm cơ sở cho việc
đánh giá thực trạng và định hướng giải pháp cho việc hoàn thiện những quy định pháp
luật về bảo vệ môi trường trong chế biến thủy sản.
+ Phương pháp phân tích luật viết, phân tích, so sánh, phương pháp thống kê,
điều tra khảo sát và tổng hợp được sử dụng để luận giải cho nhận định, đánh giá về thực
trạng quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng áp dụng pháp luật, từ đó rút ra
những kết luận và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong
hoạt động chế biến thủy sản tại các doanh nghiệp trong thời gian tới.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn cao học với đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động
chế biến thủy sản của doanh nghiệp - thực trạng và giải pháp” được kết cấu bởi hai
chương, ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo:
5
Chương 1: Tổng quan pháp luật về hoạt động bảo vệ môi trường của doanh nghiệp
trong chế biến thủy sản.
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động
chế biến thủy sản của doanh nghiệp và giải pháp hoàn thiện.
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN
1.1 KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ DOANH
NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN
1.1.1 Khái niệm hoạt động chế biến thủy sản
Hoạt động chế biến thủy sản bao gồm các hoạt động tác động đến nguồn nguyên
liệu là thủy sản để nó trở thành hành hóa lưu thông trên thị trường. Dưới góc độ kinh tế
học thì chế biến thủy sản là một trong những lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp
nhằm mang lại lợi nhuận thông qua hoạt động đó. Về mặt pháp lý, hoạt động chế biến
thủy sản được định nghĩa là bao gồm các hoạt động thuộc các lĩnh vực sơ chế nguyên
liệu thủy sản, chế biến các sản phẩm thủy sản dưới dạng đông lạnh, đóng hộp, phơi sấy
khô, ướp muối, hun khối, nước mắm, mắm và các loại mắm thủy sản, agar và các sản
phẩm từ các loại rong biển khác, chế biến bột cá và các sản phẩm có nguồn gốc động
vật thủy sản khác1. Trên thực tế, lĩnh vực chiếm phổ biến và giữ vị trí đặc biệt quan
trọng trong các cơ sở chế biến thủy sản tại Việt Nam hiện nay đó là chế biến hàng đông
lạnh. Một trong những yếu tố quan trọng và là nền tảng vững chắc để phát triển ngành
chế biến thủy sản Việt Nam hiện nay đó là làm chủ nguồn nguyên liệu thủy sản thông
qua việc khai thác và nuôi trồng thủy sản và thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên hoạt động
chế biến thủy sản lại là yếu tố quyết định giá trị thặng dư của quá trình sản xuất hàng
hóa. Do đó hoạt động chế biến thủy sản có vai trò là sương sống không chỉ của doanh
nghiệp chế biến thủy sản mà còn là của ngành thủy sản hiện nay.
1.1.2. Khái niệm doanh nghiệp chế biến thủy sản
“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng
ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”2. Doanh nghiệp
chế biến thủy sản trước hết là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản.
Như vậy có thể định nghĩa doanh nghiệp chế biến thủy sản như sau: Doanh nghiệp chế
biến thủy sản là doanh nghiệp có tên riêng, có tài sản, trụ sở, được đăng ký thành lập
theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh, trong đó có hoạt
động chế biến thủy sản.
1
Thông tư số 14/2009/TT-BNN ngày 12/3/2009 về hướng dẫn quản lý môi trường trong chế biến thủy sản, Khoản
1 Điều 3.
2
Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 (Luật số 68/2014/QH13) ngày 26/11/2014
7
Như vậy, doanh nghiệp chế biến thủy sản khác với các doanh nghiệp khác ở đặc
điểm hoạt động kinh doanh là chế biến thủy sản. Xuất phát từ sự khác biệt này dẫn đến
đòi hỏi doanh nghiệp chế biến thủy sản phải đáp ứng nhiều điều kiện khác khi thành lập
doanh nghiệp cũng như trong quá trình hoạt động của mình.
Mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung là thu về lợi nhuận. Đối
với các doanh nghiệp chế biến thủy sản là thông qua hoạt động chế biến các mặt hàng
thủy sản, cung cấp sản phẩm sau khi chế biến ra thị trường trong nước và phần lớn là
xuất khẩu ra nước ngoài, cụ thể là các thị trường Châu Âu, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, một
số quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Hoạt động chế biến của các doanh nghiệp chế biến
thủy sản chủ yếu tạo ra sản phẩm để xuất khẩu, tuy nhiên ở mỗi thị trường tiêu thụ đều
đòi hỏi một quy chuẩn về điều kiện nhất định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá
trình chăn nuôi, khai thác, chế biến và tiêu thụ. Những tiêu chuẩn này trở thành hàng
rào kỹ thuật, đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến thủy sản phải đáp ứng. Một số các yêu
cầu tiêu chuẩn sau:
Tiêu chuẩn SQF 1000 - 2000CM: SQF 1000 - 2000CM là chữ viết tắt tiếng Anh:
Safe Quality Food (Thực phẩm an toàn và chất lượng); Tiêu chuẩn quốc tế Global GAP:
Tiêu chuẩn quốc tế Global GAP là tiêu chuẩn đòi hỏi cao nhất hiện nay được áp dụng
cho lĩnh vực nuôi thủy sản, với yêu cầu kiểm soát chuỗi khép kín từ con giống, nuôi
trồng và chế biến đáp ứng được các tiêu chí chính về: an toàn thực phẩm, bảo vệ môi
trường - bảo tồn sinh học, chuẩn mực đạo đức - an sinh xã hội, truy suất được nguồn
gốc sản phẩm; Tiêu chuẩn BRC: Tiêu chuẩn toàn cầu BRC - Hàng tiêu dùng (BRC:
Global Standard - Consumer Products) do tổ chức British Retail Consortium - hiệp hội
bán lẻ ở Anh xây dựng và phát triển. Tiêu chuẩn này được xem như là một chiếc vé gia
nhập vào thị trường và còn là cơ hội chứng minh sự cam kết của doanh nghiệp chế biến
thủy sản về thực phẩm an toàn, chất lượng, và hợp pháp trong một môi trường cải tiến
liên tục; Tiêu chuẩn IFS: International Food Standard là tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế
do Gobal Food Safety Inititive ban hành yêu cầu sản phẩm được tạo ra an toàn, nhằm
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và yêu cầu luật pháp.
Để đảm bảo được các tiêu chuẩn trên, đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến thủy sản
phải đảm bảo điều kiện nhất định về diện tích nhà xưởng và dây chuyền công nghệ. Dẫn
đến các doanh nghiệp chế biến thủy sản đều phải có vốn lớn mới có thể đầu tư dây
chuyền máy móc, công xưởng đáp ứng các quy chuẩn, diện tích xây dựng nhà xưởng
8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Văn bản quy phạm pháp luật
1. Hiến pháp 1980.
2. Hiến pháp 1992.
3. Hiến pháp 2013.
4. Bộ luật Hình sự 1999 (Luật số 15/1999/QH10) ngày 21/12/1999.
5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2009 (Luật số 37/2009/QH12)
ngày 19/6/2009.
6. Bộ luật Hình sự 2015 (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27/11/2015.
7. Luật Bảo vệ môi trường 2014 (Luật số 55/2014/QH13) ngày 23/6/2014.
8. Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (Luật số 15/2012/QH13) ngày 20/6/2012.
9. Pháp lệnh Cảnh sát môi trường 2014 (Pháp lệnh số: 10/2014/UBTVQH13) ngày
23/12/ 2014.
10. Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.
11. Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị
quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị.
12. Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
13. Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định một số điều
và biện pháp thi hành, đánh giá môi trường chiến lược, bảo vệ môi trường
đối với các đối tượng có liên quan đến quy hoạch bảo vệ môi trường, trên
lãnh thổ Việt Nam.
14. Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
15. Nghị định số 72/2010/NĐ-CP ngày 08/7/2010 của Chính phủ quy định về phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường.
16. Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
17. Nghị định số 105/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Pháp lệnh Cảnh sát môi trường.
71