Luận văn những tác động đối với nền kinh tế việt nam khi việt nam gia nhập wto

  • 434 trang
  • file .pdf
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TỔNG QUAN KHOA HỌC
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ TUYỂN THẦU NĂM 2006
Mã số: B.06-50
NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Cơ quan chủ trì: Viện Quản lý kinh tế
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Ngô Quang Minh
Thư ký đề tài: Th.S Bùi Văn Huyền
6711
17/4/2008
Hà Nội – 2007
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TỔNG QUAN KHOA HỌC
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ TUYỂN THẦU NĂM 2006
Mã số: B.06-50
NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Cơ quan chủ trì: Viện Quản lý kinh tế
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Ngô Quang Minh
Thư ký đề tài: Th.S Bùi Văn Huyền
Hà Nội, 2007
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
1.1. Bối cảnh ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
1.1.1. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) - tiền
thân của WTO
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (gọi tắt theo tiếng Anh là
GATT) là một trong những thành quả của việc tổ chức lại các quan hệ kinh tế
quốc tế sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Ban đầu, với sáng kiến của Mỹ, các
chuyên gia kinh tế Mỹ, Anh đã bắt tay soạn thảo những nội dung chính nhằm
thiết lập một tổ chức kinh tế quốc tế sau chiến tranh.
Tại Hội nghị Bretton Woods (7/1944), cùng với việc thành lập Quĩ
Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Tái thiết và phát triển Quốc tế (IBRD),
44 quốc gia tham dự hội nghị thống nhất tham gia đàm phán thành lập Tổ
chức Thương mại Quốc tế (ITO) và Liên hợp quốc được giao nhiệm vụ xúc
tiến thành lập. Ngày 18/2/1946, Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc
triệu tập một "Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Việc làm" với mục
tiêu dự thảo Hiến chương cho Tổ chức Thương mại Quốc tế. Dự thảo Hiến
chương thành lập ITO không những chỉ điều chỉnh các quy tắc thương mại
thế giới mà còn mở rộng ra cả các quy định về công ăn việc làm, các hành vi
hạn chế thương mại, đầu tư quốc tế và dịch vụ.
Trong khuôn khổ của Liên hợp quốc, ba hội nghị quốc tế đã diễn ra vào
tháng 10/1946, tháng 8/1947 và tháng 11/1947 nhằm soạn thảo văn kiện thành
lập ITO với tên gọi Hiến chương Havana - một công ước quốc tế bao gồm
106 điều và 16 phụ lục. Trong quá trình đàm phán nhằm ra đời hiến chương
ITO, các nước cũng nhất trí áp dụng ngay lập tức và "tạm thời" một số quy
tắc thương mại trong Dự thảo Hiến chương ITO nhằm bảo vệ giá trị của các
nhân nhượng liên quan đến thương mại, gồm các quy định thương mại và các
nhân nhượng thuế quan được đưa ra trong Hiệp định chung về Thuế quan và
Thương mại (GATT). Theo dự kiến, Hiệp định GATT sẽ là một hiệp định phụ
trợ nằm trong Hiến chương ITO. Cho đến thời điểm cuối 1947, Hiến chương
1
DANH SÁCH CÁC CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
ThS. Ngô Thị Ngọc Anh Viện Quản lý kinh tế
ThS. Nguyễn Văn Chiến Cục Thống kê Bắc Ninh
PGS.TS Kim Văn Chính Viện Quản lý kinh tế
ThS. Nguyễn Anh Dũng Viện Quản lý kinh tế
ThS. Nguyễn Thị Kim Đoan Học viện Chính trị khu vực 3
TS. Trịnh Thị Ái Hoa Viện Quản lý kinh tế
TS. Đặng Ngọc Lợi Viện Quản lý kinh tế
ThS. Hồ Thị Hương Mai Viện Quản lý kinh tế
ThS. Ngô Đức Minh Viện Quản lý kinh tế
ThS. Đinh Thị Nga Viện Quản lý kinh tế
TS. Nguyễn Quốc Thái Viện Quản lý kinh tế
i
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: WTO VÀ VIỆT NAM
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 1
1.1. Bối cảnh ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 1
1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổ chức thương mại Thế giới 5
1.3. Các hiệp định của WTO 16
1.4. Các hoạt động đặc biệt 31
Chương 2: KHÁI QUÁT KINH TẾ VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO 36
2.1. Quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên WTO 36
2.2. Khái quát kinh tế Việt Nam khi gia nhập WTO 53
PHẦN THỨ HAI: TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP
Chương 3: TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP KHI GIA NHẬP WTO 78
3.1. Khái quát hiện trạng công nghiệp Việt Nam 78
3.2. Những cam kết chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp 86
3.3. Công nghiệp Việt Nam sau 6 tháng gia nhập WTO 89
3.4. Tác động gia nhập WTO đến công nghiệp Việt Nam 93
3.5. Một số giải pháp 101
Chương 4: TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP KHI GIA NHẬP WTO 108
4.1. Khái quát hiện trạng nông nghiệp Việt Nam 108
4.2. Các cam kết chủ yếu của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp 117
4.3. Nông nghiệp sau gia nhập WTO 123
4.4. Những tác động nhìn từ hiện trạng nông nghiệp Việt Nam 125
4.5. Những tác động trong thực thi Hiệp định nông nghiệp của WTO 130
4.6. Tác động của gia nhập WTO tới một số mặt hàng chủ yếu 132
4.7. Một số giải pháp chủ yếu 138
Chương 5: TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI DỊCH VỤ KHI GIA NHẬP WTO 144
5.1. Khái quát hiện trạng dịch vụ Việt Nam 144
5.2. Những cam kết chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ 149
5.3. Giá cả và dịch vụ sau 6 tháng gia nhập WTO 155
5.4. Tác động gia nhập WTO đến lĩnh vực dịch vụ 158
5.5. Một số giải pháp 159
5.6. Gia nhập WTO và lĩnh vực ngân hàng 161
Chương 6: GIA NHẬP WTO VÀ LĨNH VỰC XUẤT NHẬP KHẨU 171
6.1. Xuất khẩu Việt Nam trước khi gia nhập WTO: Thành tựu và vấn đề đặt ra 171
6.2. Xuất nhập khẩu sau khi gia nhập WTO 182
6.3. Một số đánh giá ban đầu về tác động sau gia nhập WTO đến xuất nhập 185
khẩu của Việt Nam
6.4. Một số giải pháp 190
Chương 7: GIA NHẬP WTO VÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 194
7.1. Tổng quan đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 194
7.2. Đánh giá chung về đầu tư nước ngoài với kinh tế Việt Nam 197
7.3. Những cam kết đầu tư của Việt Nam trong khuôn khổ WTO 205
7.4. Đầu tư kể từ khi gia nhập WTO và một số vấn đề đặt ra 208
7.5. Cải cách đầu tư và những tác động của gia nhập WTO đối với đầu tư 211
nước ngoài
7.6. Một số giải pháp 221
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Quy trình giải quyết tranh chấp của WTO 24
Bảng 1.2 Thực thi Hiệp định Dệt – May 29
Tốc độ tăng và đóng góp của các nhóm ngành vào tốc độ tăng trưởng
Bảng 2.1 54
năm 2007
Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2006 57
Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế các nước Đông Á năm 1999 67
Bảng 2.4 Xếp hạng năng lực cạnh tranh tổng hợp của Việt Nam 2005-2006 70
Bảng 2.5 Năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Việt Nam 2005-2006 72
Bảng 2.6 Điểm số CPI của Việt Nam qua các năm 73
Bảng 2.7 So sánh mức xếp hạng của các năm trước 74
Bảng 3.1 Mức thuế bình quân cam kết hàng công nghiệp 87
Tổng hợp cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong đàm phán gia nhập
Bảng 3.2 88
WTO đối với một số sản phẩm công nghiệp
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2007 89
Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp tháng 6 và 6 tháng đầu
Bảng 3.4 90
năm 2007
Tỷ lệ tăng trưởng hàng dệt may của một số quốc gia sang thị trường Hoa
Bảng 3.5 98
Kỳ (%)
Bảng 4.1 So sánh giá xuất khẩu gạo của Việt Nam và Thái Lan 115
Bảng 4.2 Một số sản phẩm tiêu biểu cam kết cắt giảm thuế quan 119
Bảng 4.3 Những cam kết quan trọng nhất trong Hiệp định Nông nghiệp 122
Bảng 4.4 Kết quả sản xuất vụ đông xuân năm 2007 123
Bảng 4.5 Sản lượng thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2007 125
Bảng 4.6 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2007 125
Bảng 5.1 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của các phân ngành dịch vụ 145
Bảng 5.2 Tỷ trọng đóng góp của các ngành kinh tế cho GDP 146
Tỷ trọng đóng góp của một số dịch vụ động lực trong GDP giai đoạn
Bảng 5.3 148
1995-2000
Bảng 5.4 Vận tải hành khách và hàng hoá 7 tháng năm 2007 157
Bảng 5.5 Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng 162
Bảng 6.1 Giá trị (triệu USD) và thị trường xuất khẩu (%) của Việt Nam 175
Bảng 6.2 Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu 2004-2006 177
Bảng 6.3 Các yếu tố cấu thành tăng trưởng xuất khẩu 178
Bảng 6.4 Quy mô và tốc độ tăng của từng khu vực thị trường so với năm 2005 179
Bảng 6.5 Tỷ trọng hàng hoá Việt Nam so với tổng hàng nhập khẩu của Mỹ (%) 180
Một số chỉ tiêu sau 9 tháng gia nhập WTO (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm
Bảng 6.6 183
trước
20 nhóm hàng hoá nhập khẩu có lượng và giá trị tăng mạnh trong quý
Bảng 6.7 188
I/2007
Bảng 7.1 Cải cách liên quan đến đầu tư 214
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu Tên hình Trang
Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức của WTO 14
Hình 2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP 1986-2007 53
Hình 2.2 Qui mô GDP và tỷ lệ GDP/người 54
Hình 2.3 Tổng đầu tư toàn xã hội và tỷ lệ đầu tư/GDP 56
Hình 2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành 58
Hình 2.5 Những sản phẩm xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD 59
Hình 2.6 Tổng giá trị giao dịch cổ phiếu thị trường niêm yết giai đoạn 2000-2006 61
Hình 2.7 Điểm mạnh và điểm yếu của Việt Nam 76
Hình 3.1 Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế 78
Hình 3.2 Công nghiệp Việt Nam 2001-2007 79
Hình 4.1 Tốc độ gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2006 (% so với 2005) 109
Hình 4.2 Biến đổi cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp 111
Hình 4.3 Kim ngạch xuất khẩu một số nông sản chủ yếu 113
Hình 5.1 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của GDP và lĩnh vực dịch vụ 144
Hình 5.2 Chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2005-2007 155
Hình 6.1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam qua một số năm 171
Hình 6.2 Tăng trưởng xuất khẩu hàng năm của Việt Nam 172
Hình 6.3 Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP 172
Hình 6.4 Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người 173
Hình 6.5 Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD 174
Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ (triệu USD) và tốc độ tăng trưởng
Hình 6.6 176
hàng năm
Hình 6.7 Cán cân thương mại của Việt Nam 179
Hình 6.8 Kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 1996-2006 182
Hình 6.9 Thay đổi kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng 2007 so với 9 tháng 2006 184
Hình 7.1 Tổng quan đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ 1988 đến 2006 194
Hình 7.2 Tổng vốn đầu tư giai đoạn 2000-2006 195
Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo ngành tính theo giá trị và số lượng dự án,
Hình 7.3 198
giai đoạn 1988-2007
Hình 7.4 Vốn FDI trung bình 10 tháng giai đoạn 2005-2007 209
Hình 7.5 Chỉ số Vnindex trong 2 năm 10/2005- 10/2007 216
Hình 7.6 Chỉ số VNindex sau gia nhập WTO 217
Hình 7.7 So sánh cơ sở hạ tầng của các nước trong ASEAN 219
iv
DANH MỤC CÁC HỘP
Số hiệu Tên hộp Trang
Hộp 1.1 WTO thuộc về ai? 11
Hộp 1.2 Phương thức biểu quyết có thể được áp dụng 15
Hộp 2.1 Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam 37
Hộp 2.2 Khả năng và mối quan tâm đối với việc tham gia hệ thống 42
Hộp 2.3 Thế nào là “biểu thuế tối đa” và “biểu thuế tăng dần”? 43
Hộp 3.1 Dự án Intel 84
Hộp 3.2 Chính sách công nghiệp cần đồng hành cùng doanh nghiệp 85
Hộp 3.3 Ý kiến doanh nghiệp về chính sách phát triển công nghiệp 86
Hộp 3.4 Nội dung cơ bản của cam kết trong lĩnh vực công nghiệp 86
Hộp 3.5 Doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được cơ hội 96
Hộp 4.1 Thế nào là “bóp méo cạnh tranh”? 118
Hộp 4.2 Hỗ trợ trong nước trong Hiệp định Nông nghiệp 120
Hộp 4.3 Các tiêu chuẩn quốc tế này là gì? 122
Hộp 4.4 Ba cái được khi gia nhập WTO 127
Hộp 4.5 Trợ cấp của một số Chính phủ 128
Hộp 4.6 Tác động tiêu cực khi gia nhập WTO 129
Tăng trưởng xuất khẩu cá phi lê đông lạnh của Việt Nam trong trường
Hộp 4.7 136
hợp Mỹ áp dụng thuế bán phá giá
Hộp 5.1 Sáu tháng đầu năm 2007: Giá tăng không phải do WTO 156
Hộp 5.2 Thời điểm lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam 166
Hộp 5.3 Trường hợp của Trung Quốc 167
Hộp 6.1 Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú trả lời báo Tuổi trẻ 184
Thứ trưởng Bộ Thương mại Nguyễn Thành Biên: Muốn đạt kế hoạch phải giữ
Hộp 6.2 193
chất lượng
Hộp 7.1 Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại (TRIMs) 205
Hộp 7.2 Nội dung chính của hiệp định TRIMs 206
Hộp 7.3 Sự khác biệt giữa cam kết gia nhập WTO và pháp luật Việt Nam 210
Hộp 7.4 Tập trung đầu tư cho nhân lực để đón dòng vốn FDI 223
v
MỞ ĐẦU
Mục tiêu đề tài nhằm phân tích, đánh giá tác động tới nền kinh tế Việt Nam khi
gia nhập WTO. Để thực hiện mục tiêu, ban chủ nhiệm đề tài lựa chọn cách tiếp cận,
phân tích theo cơ cấu ngành (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ), ngoài ra có phân
tích thêm 2 lĩnh vực là xuất nhập khẩu và đầu tư. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp,
sự tách bạch tác động theo cơ cấu nêu trên không rõ ràng, một cam kết có thể tác
động lên nhiều lĩnh vực, đồng thời một lĩnh vực chịu tác động từ nhiều hiệp định, cam
kết. Những tác động đan xen, hoà quyện, rất khó bóc tách ... gây những khó khăn
nhất định trong quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, thời gian gia nhập WTO của Việt Nam
chưa được 1 năm, những tác động chưa bộc lộ hết, nhiều cam kết chưa được thực
thi, do đó một số kết luận chủ yếu mang tính dự báo.
Sau gần 1 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi
nhất định. Tuy vậy, ban chủ nhiệm và các cộng tác viên không thể bóc tách những
tác động do riêng WTO mang lại với những hiệp định đa phương và song phương
khác. Nói cách khác, những kết quả đạt được của nền kinh tế sau gia nhập WTO có
bao nhiêu phần trăm do kết quả của tổ chức này mang lại đã không được phân tích
trong phạm vi đề tài.
Một số yếu tố khác, có ảnh hưởng đến những kết quả đạt được của nền kinh tế
trong giai đoạn vừa qua như cải cách cơ cấu kinh tế trong nước, hoàn thiện hệ thống
luật pháp, nâng cao năng lực điều hành của Chính phủ, cải cách hành chính … là
những nội dung đã thực hiện từ trước khi Việt Nam gia nhập WTO và sẽ còn tiếp tục
thực hiện trong những năm tới. Như vậy, kết quả đạt được của nền kinh tế do nhiều
yếu tố, trong đó WTO là một trong số đó.
Những cam kết và thực hiện cam kết trong khuôn khổ WTO có những tác
động khác biệt trong ngắn hạn và dài hạn. Nhiều cam kết sẽ tác động tiêu cực trong
ngắn hạn nhưng sẽ mang lại kết quả tích cực trong dài hạn và ngược lại, chẳng hạn
như cắt giảm thuế quan sẽ dẫn đến tăng kim ngạch nhập khẩu trong ngắn hạn
nhưng nếu điều chỉnh cơ cấu mặt hàng sẽ tạo thêm “lực” cho nền kinh tế trong dài
hạn.
WTO tác động tới các thành viên đến đâu phụ thuộc vào chính mỗi quốc gia.
Sự thành công nhiều hay ít với tư cách thành viên WTO không phải phụ thuộc vào tổ
chức này mà ở chính mỗi thành viên và Việt Nam không phải ngoại lệ.
Với tất cả những yếu tố trên, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả
nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài chỉ là những đánh giá ban đầu và còn nhiều
khiếm khuyết, rất mong nhận được sự góp ý và chia sẻ của các nhà khoa học và
những người quan tâm đến chủ đề này.
vi
Chúng ta đánh giá quá cao, quá mức sự kiện gia nhập WTO. Đánh giá
quá cao theo cách lạc quan tếu. Nếu như vậy thì rất nguy hiểm. Vào WTO
là đất nước "đổi đời", không có chuyện đó đâu.
Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển
trong cuộc giao lưu với báo vietnamnet
Không ở đâu như Việt Nam, người dân tổ chức đi bộ, míttinh chào mừng
tổ chức thành công APEC và gia nhập WTO. Tôi hoàn toàn không phê
phán, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chẳng giải quyết được vấn đề gì. Các
phong trào đó cần khẳng định quyết tâm, tận dụng được cơ hội, vượt qua
thách thức … để làm cái gì tốt hơn. Nếu đặt không đúng, không phấn đấu
được thì lại tạo ra thất vọng, lúc bấy giờ lại đổ tại đàm phán.
"Việt Nam được nhiều hay mất nhiều phụ thuộc vào chính Việt Nam"
Pascal Lamy, Tổng giám đốc WTO
vii
ITO vẫn chưa được thông qua. Chiến tranh Thế giới II vừa kết thúc, các nước
đều muốn sớm thúc đẩy tự do hoá thương mại, và bắt đầu khắc phục những
hậu quả của các biện pháp bảo hộ còn sót lại từ đầu những năm 1930. Do vậy,
ngày 23/10/1947, 23 nước đã ký "Nghị định thư về việc áp dụng tạm thời"
(PPA), có hiệu lực từ 1/1/1948, thông qua nghị định thư này, Hiệp định
GATT đã được chấp nhận và thực thi.
Trong thời gian đó, Hiến chương ITO vẫn tiếp tục được thảo luận. Cuối
cùng, tháng 3/1948, Hiến chương ITO đã được thông qua tại Hội nghị về
Thương mại và Việc làm của Liên hiệp quốc tại Havana. Tuy nhiên, quốc hội
của một số nước đã không phê chuẩn Hiến chương này. Đặc biệt là Quốc hội
Mỹ phản đối Hiến chương Havana, mặc dù Chính phủ Mỹ đã đóng vai trò
tích cực trong việc nỗ lực thiết lập ITO. Tháng 12/1950, Chính phủ Mỹ chính
thức thông báo sẽ không vận động Quốc hội thông qua Hiến chương Havana,
do vậy trên thực tế, Hiến chương này không còn tác dụng. Và mặc dù chỉ là
tạm thời, GATT trở thành công cụ đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại
quốc tế từ năm 1948 cho đến tận năm 1995, khi WTO ra đời.
Trong 48 năm tồn tại, GATT đã tổ chức 8 vòng đàm phán:
Năm Địa điểm/Tên Chủ đề đàm phán Số nước
1947 Geneva Thuế quan 23
1949 Annecy Thuế quan 13
1951 Torquay Thuế quan 38
1956 Geneva Thuế quan 26
1960- Geneva Thuế quan 26
1961 (Vòng Dillon)
1964- Geneva Thuế quan và các biện pháp chống bán 62
1967 (Vòng Kenedy) phá giá
1973- Geneva Thuế quan, các biện pháp phi quan thuế, 102
1979 (Vòng Tokyo) các hiệp định "khung"
1986- Geneva Thuế quan, các biện pháp phi quan thuế, 123
1994 (Vòng Uruguay) dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, giải quyết
tranh chấp, hàng dệt, nông nghiệp, thành
lập WTO, v.v...
Năm vòng đàm phán đầu tiên chủ yếu tập trung vào đàm phán giảm
thuế quan. Bắt đầu từ Vòng đàm phán Kenedy, nội dung của các vòng đàm
phán mở rộng dần sang các lĩnh vực khác. Vòng đàm phán cuối cùng - Vòng
Uruguay - đã mở rộng nội dung sang hầu hết các lĩnh vực của thương mại bao
gồm: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ... và
2
cho ra đời một tổ chức mới thay thế cho GATT - đó là WTO.
Trong suốt quá trình tồn tại, GATT đã trở thành hệ thống thể chế và
pháp lý của nền thương mại quốc tế, hiệp định của GATT cũng là hiệp định
đa phương duy nhất điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế. Mặc dù còn
những khiếm khuyết nhất định nhưng trong thời gian 48 năm tồn tại, GATT
đã có những đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy và đảm bảo thuận lợi và tự do
hoá thương mại thế giới. Số lượng các bên tham gia cũng tăng nhanh. Tính tới
thời điểm trước ngày 1/1/1995 (WTO ra đời), GATT đã có 124 thành viên và
đang tiếp nhận 25 đơn xin gia nhập. Nội dung của GATT ngày một bao trùm
và quy mô ngày một lớn: bắt đầu từ việc giảm thuế quan cho tới các biện
pháp phi thuế, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, và tìm kiếm một cơ chế quốc tế
giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các quốc gia. Từ mức thuế trung
bình 40% của năm 1948, đến năm 1995, mức thuế trung bình của các nước
phát triển chỉ còn khoảng 4% và thuế quan trung bình của các nước đang phát
triển còn khoảng 15%. Qui mô của GATT cũng không ngừng được mở rộng,
từ chỗ chi phối 20% tổng giá trị thương mại thế giới khi thành lập, đến năm
1995, tỷ lệ này lên tới 90%.
1.1.2. Sự ra đời của WTO
Mặc dù đã đạt được những thành công lớn, nhưng đến cuối những năm
80, đầu 90, tình hình thương mại quốc tế có nhiều thay đổi, GATT bắt đầu tỏ
ra có những bất cập, không theo kịp tình hình.
- Khiếm khuyết lớn nhất của GATT là tính chất “tạm thời” của hiệp
định này với tư cách là một “điều ước quốc tế”. GATT không phải là tổ chức
quốc tế nên đã gây ra những tranh cãi về tư cách thành viên. Trường hợp của
Trung Quốc là ví dụ: Quốc gia này đã tham gia ký kết ban đầu như “thành
viên sáng lập” của GATT. Tháng 7/1986, Trung Quốc đệ đơn khôi phục tư
cách thành viên ký kết ban đầu nhưng không được các chuyên gia pháp lý của
GATT chấp thuận với lý do đây không phải là tổ chức quốc tế, vì vậy không
thể áp dụng qui định kế thừa hay khôi phục tư cách thành viên.
- Những thành công của GATT trong việc giảm và ràng buộc thuế quan
ở mức thấp cộng với một loạt các cuộc suy thoái kinh tế trong những năm 70
3
và 80 đã thúc đẩy các nước xây dựng các loại hình bảo hộ phi thuế quan để đối
phó với hàng nhập khẩu, đồng thời thực hiện nhiều hình thức hỗ trợ và trợ cấp.
Những biến đổi này có nguy cơ làm giảm và mất đi những giá trị mà việc giảm
thuế quan mang lại cho thương mại quốc tế. Trong khi đó, phạm vi của GATT
không cho phép đề cập một cách cụ thể và sâu rộng đến các vấn đề này.
- Khi GATT được thành lập năm 1948, Hiệp định này chủ yếu điều tiết
thương mại hàng hoá hữu hình. Đến những năm 80, GATT đã không còn
thích ứng với thực tiễn thương mại thế giới bởi sự phát triển nhanh chóng của
các lĩnh vực thương mại dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải hàng
không, vận tải biển, du lịch, xây dựng, tư vấn... . Cùng với các loại hình
thương mại dịch vụ, các vấn đề thương mại trong đầu tư và bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đã phát triển nhanh chóng và trở thành
một bộ phận quan trọng của thương mại quốc tế, đòi hỏi những thay đổi sâu
rộng trong các hiệp định cũng như mô hình tổ chức.
- Một số khiếm khuyết trong lĩnh vực thương mại hàng hoá dần bộc lộ.
Chẳng hạn trong nông nghiệp và dệt may, các cố gắng tự do hoá thương mại
đã không đạt được thành công như mong muốn. Kết quả là còn rất nhiều
ngoại lệ với các quy tắc chung trong hai lĩnh vực thương mại này.
- Cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng tỏ ra
không thích ứng với tình hình thế giới. Thương mại quốc tế ở những năm 80
và 90 đòi hỏi phải có một tổ chức thường trực, có nền tảng pháp lý vững chắc
để đảm bảo thực thi các hiệp định, quy định chung của thương mại quốc tế,
trong khi đó GATT chỉ là một hiệp định. Về hệ thống giải quyết tranh chấp,
GATT chưa có một cơ chế điều tiết thủ tục tố tụng chặt chẽ, không đưa ra
một thời gian biểu nhất định, do đó, các vụ việc tranh chấp thường bị kéo dài,
dễ bị bế tắc. Để thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế một cách hiệu quả, hệ
thống này cần phải được tổ chức lại.
Nhận thức rõ những khiếm khuyết đó, các bên tham gia GATT đã nỗ
lực để củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên. Từ năm 1986 đến
1994, Hiệp định GATT và các hiệp định phụ trợ của nó đã được các nước
thảo luận sửa đổi và cập nhật để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi
trường thương mại thế giới. Hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định
đi kèm và một vài biên bản giải thích khác đã hợp thành GATT 1994. Một số
4
hiệp định riêng biệt cũng đạt được trong các lĩnh vực như Nông nghiệp, Dệt
may, Trợ cấp, Tự vệ và các lĩnh vực khác; cùng với GATT 1994, chúng tạo
thành các yếu tố của các Hiệp định Thương mại đa phương về Thương mại
Hàng hoá. Vòng đàm phán Uruguay cũng thông qua một loạt các quy định
mới điều chỉnh thương mại Dịch vụ và Quyền Sở hữu trí tuệ liên quan đến
thương mại. Một trong những thành công lớn nhất của vòng đàm phán lần này
là các nước đã cho ra Tuyên bố Marrakesh thành lập WTO, bắt đầu đi vào
hoạt động từ ngày 1/1/1995.
1.2. Cơ cấu tổ chức của WTO
1.2.1. Mục tiêu
Mục tiêu trực tiếp của WTO được nêu trong tuyên bố thành lập nhằm
Xây dựng một cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định và khả thi hơn1
theo hướng tạo ra những thoả thuận và cam kết tương hỗ của các thành viên
nhằm giảm đáng kể thuế, hàng rào cản trở thương mại và loại bỏ sự phân biệt
đối xử trong TMQT. Mục tiêu gián tiếp của WTO nhằm:
- Nâng cao mức sống;
- Bảo đảm tạo đầy đủ việc làm, đảm bảo tăng trưởng vững chắc thu
nhập và nhu cầu thực tế;
- Phát triển việc sử dụng các nguồn lực của thế giới;
- Mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hoá và dịch vụ.
Có thể cụ thể hoá mục tiêu của WTO theo ba giác độ: kinh tế, chính trị,
xã hội.
Mục tiêu kinh tế của WTO là đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế
theo hướng tự do. Thông qua việc thiết lập hệ thống các cam kết đa phương,
WTO hướng đến tạo lập và duy trì môi trường thương mại tự do có thể quản
lý được, hướng các quốc gia tới việc thực thi chính sách thương mại ổn định,
minh bạch, có thể dự đoán được nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư kinh
doanh có thể ra các quyết định đúng, nhờ đó không chỉ các quốc gia tham gia
thương mại quốc tế có thể tăng trưởng việc làm, thu nhập và phát triển bền
vững, mà nền kinh tế thế giới cũng đạt tới trạng thái hiệu quả.
Mục tiêu chính trị của WTO là thiết lập một thể chế pháp lý toàn cầu
1
Vụ Chính sách thương mại đa biên -Bộ Thương mại (2000), Kết quả vòng đàm phán Urugoay về hệ thống
thương mại đa biên, NXB Thống kê, Hà Nội.
5
cho phép duy trì môi trường thương mại ổn định, khuyến khích thương mại tự
do, hạn chế các quốc gia đưa ra các chính sách thương mại tuỳ tiện làm tổn
hại đến quá trình phát triển thương mại quốc tế.
Mục tiêu xã hội của WTO là hướng tới nền kinh tế thế giới hiệu quả,
qua đó phục vụ tốt hơn nhu cầu của dân cư ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
Đặc biệt WTO có giành sự chú ý nhất định đến việc tạo điều kiện cho các
quốc gia kém phát triển tham gia thương mại quốc tế.
Như vậy, từ các mục tiêu được công bố công khai của WTO có thể thấy
đây là một thể chế tích cực, ủng hộ và hướng đến thương mại tự do. WTO
hướng tới hình thành một môi trường thương mại quốc tế ổn định, minh bạch
và có thể dự đoán được nhằm bảo đảm cho thương mại tự do có thể thực thi
được theo những tiêu chuẩn phù hợp với từng thời kỳ lịch sử phát triển kinh
tế thế giới. Những mục tiêu nêu trên có sức hấp dẫn rất lớn đối với tất cả các
quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, trong thực tế, quá trình thực hiện mục
tiêu có rất nhiều mâu thuẫn giữa các bên tham gia cũng như các vấn đề nảy
sinh do xung đột về lợi ích, do trình độ phát triển và lựa chọn chính sách của
các thành viên.
1.2.2. Chức năng
Theo Hiệp định Marrakesh thành lập WTO, tổ chức này có năm chức
năng cơ bản như sau:
Một là: Tạo thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và tiến hành các mục
tiêu của Hiệp định này và các Hiệp định thương mại đa biên khác, cũng như
các Hiệp định nhiều bên. WTO có trách nhiệm theo dõi chính sách thương
mại của các quốc gia thành viên nhằm thúc đẩy việc thực thi chúng theo cách
thức mà các nước đã cam kết tập thể với nhau.
Hai là: Tạo ra diễn đàn đàm phán giữa các nước thành viên về quan hệ
thương mại giữa các nước này về các vấn đề được đề cập đến trong các Hiệp
định WTO và thực thi kết quả của các cuộc đàm phán đó. Đàm phán tại WTO
dựa trên hai nguyên tắc: (1) Nhân nhượng lẫn nhau: Một quốc gia không thể
chỉ “nhận” mà cần có những điều khoản để đổi lại; (2) Đối xử đặc biệt với
nước đang phát triển, nhất là các nước kém phát triển.
Ba là: Giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên trên cơ sở Quy
6
định và thủ tục giải quyết tranh chấp. WTO nỗ lực xây dựng một cơ chế giải
quyết tranh chấp độc lập và công bằng những vấn đề khúc mắc, tranh chấp
nảy sinh giữa các thành viên của WTO thông qua các thủ tục pháp lý khách
quan. Tuy nhiên, do khả năng gây ảnh hưởng không chính thức cũng như khả
năng tham gia vào hoạt động pháp lý thực tế để giải quyết các tranh chấp cụ
thể là khác nhau giữa các nước có tiềm lực, có sức mạnh ngoại thương khác
nhau, nên thực tế giải quyết tranh chấp hiện nay trong WTO chưa đạt được
mức độ khách quan như mong muốn. Song, theo đánh giá chung, cơ chế giải
quyết tranh chấp của WTO đã ít nhiều thể hiện được tính độc lập và khách
quan của nó.
Bốn là: Thực hiện rà soát chính sách thương mại thông qua Cơ chế rà
soát chính sách thương mại. Định kỳ theo quy định của WTO, các quốc gia
phải gửi báo cáo về chế độ thương mại của mình cho WTO và cơ quan giúp
việc của WTO có trách nhiệm gửi báo cáo này cho các thành viên quan tâm.
Thông qua việc giám sát chính sách thương mại quốc gia, WTO thúc đẩy
quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa các nước thành viên, qua đó khuyến khích các
thành viên tuân thủ các quy định, cam kết và thủ tục mà các nước thoả thuận.
Các quốc gia có ảnh hưởng lớn đến thương mại quốc tế như Mỹ, EU, Nhật
Bản … định kỳ rà soát chính sách là hai năm, các quốc gia khác thường là 4-6
năm tuỳ thuộc mức độ ảnh hưởng đến thương mại toàn cầu. Riêng đối với các
nước chậm phát triển, thời gian này có thể dài hơn.
Năm là: Nhằm đạt được một sự nhất quán, hài hoà trong việc hoạch
định chính sách thương mại toàn cầu, WTO sẽ phối hợp với IMF, WB hay
một số tổ chức quốc tế khác như Trung tâm thương mại Quốc tế (ITC),
Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) trong những lĩnh vực cụ thể,
chẳng hạn như tăng cường năng lực điều hành của Chính phủ đối với các quốc
gia chậm phát triển.
1.2.3. Nguyên tắc cơ bản
WTO hoạt động dựa trên một bộ các luật lệ và quy tắc tương đối phức
tạp, bao gồm các hiệp định, phụ lục, quyết định và giải thích khác nhau điều
chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế. Tuy vậy, tất cả các văn bản đó
đều được xây dựng trên cơ sở bảy nguyên tắc cơ bản của WTO.
7
Nguyên tắc 1: Không có sự phân biệt đối xử
Nguyên tắc này được cụ thể hoá trong các quy định về chế độ Đãi ngộ
Tối huệ quốc (MFN) và Đãi ngộ Quốc gia (NT). MFN là một nguyên tắc cơ
bản của WTO, được nêu trong Điều I - Hiệp định GATT, điều II - Hiệp định
GATS và điều IV - Hiệp định TRIPS. Theo nguyên tắc MFN, WTO yêu cầu
một nước thành viên phải áp dụng thuế quan và các quy định khác đối với
hàng hoá nhập khẩu từ các nước thành viên khác nhau (hoặc hàng hoá xuất
khẩu tới các nước thành viên khác nhau) một cách bình đẳng, không phân biệt
đối xử. Điều đó có nghĩa là nếu một nước thành viên dành cho sản phẩm từ
bất kỳ nước thành viên nào mức thuế quan hay bất kỳ một ưu đãi nào khác thì
cũng phải dành mức thuế quan hoặc ưu đãi đó cho sản phẩm tương tự của tất
cả các quốc gia thành viên khác một cách ngay lập tức và vô điều kiện. WTO
cũng cho phép các nước thành viên được duy trì một số ngoại lệ của nguyên
tắc này; Nguyên tắc NT: Trong khi nguyên tắc MFN yêu cầu một nước thành
viên không được phép áp dụng đối xử phân biệt giữa các nước thành viên thì
nguyên tắc NT yêu cầu một nước phải đối xử bình đẳng và công bằng giữa
hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước. Nguyên tắc này
quy định rằng, bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới
(đã trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu) sẽ được hưởng sự
đối xử không kém ưu đãi hơn sản phẩm tương tự sản xuất trong nước.
Nguyên tắc MFN và NT lúc đầu chỉ được áp dụng trong lĩnh vực
thương mại hàng hoá, sau khi WTO ra đời thì nó được mở rộng cả sang
thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và các
lĩnh vực khác, tuy vậy mức độ áp dụng của quy tắc này trong các lĩnh vực là
khác nhau. Trong thương mại hàng hoá: MFN và NT được áp dụng tương đối
toàn diện và triệt để. Trong thương mại dịch vụ: MFN và NT cũng được áp
dụng với những lĩnh vực mà một thành viên đã cam kết mở cửa thị trường,
với những lĩnh vực dịch vụ còn duy trì hạn chế thì việc dành MFN và NT tuỳ
thuộc vào kết quả đàm phán các cam kết cụ thể. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ,
các NT trên đã được thể chế hoá cụ thể và phổ biến trong các công ước quốc
tế liên quan đến sở hữu trí tuệ.
Nguyên tắc 2: Chỉ bảo hộ bằng thuế quan
Trong WTO, việc bảo hộ các ngành công nghiệp nội địa không bị ngăn
8
cấm. Tuy nhiên, WTO đưa ra một nguyên tắc là các nước chỉ được thực hiện
bảo hộ chủ yếu thông qua thuế quan, không được sử dụng các biện pháp
thương mại khác. Mục tiêu của nguyên tắc này để đảm bảo sự minh bạch của
việc bảo hộ và giảm thiểu những tác dụng bóp méo thương mại phát sinh.
Nguyên tắc 3: Tạo dựng một nền tảng ổn định cho thương mại
Một nguyên tắc cơ bản của WTO là các nước thành viên có nghĩa vụ
đảm bảo tính ổn định cho thương mại quốc tế, thông qua việc các nước ràng
buộc thuế quan của mình. Các nước chỉ có thể tăng thuế quan sau khi đã tiến
hành đàm phán lại và đã đền bù thoả đáng cho lợi ích các bên bị thiệt hại do
việc tăng thuế đó.
Để đảm bảo nguyên tắc này, các nước thành viên WTO còn có nghĩa vụ
phải minh bạch hoá các quy định thương mại của mình, phải thông báo mọi
biện pháp đang áp dụng và ràng buộc chúng (tức là cam kết sẽ không thay đổi
theo chiều hướng bất lợi cho thương mại, nếu thay đổi phải được thông báo,
tham vấn và bù trừ hợp lý). Tính dự báo được nhằm giúp các nhà kinh doanh
nắm rõ tình hình hiện tại cũng như xác định được cơ hội của họ trong tương lai.
Nguyên tắc này giúp cho môi trường kinh doanh có tính ổn định và lành mạnh.
Nguyên tắc 4: Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán
WTO đảm bảo thương mại giữa các quốc gia ngày càng tự do hơn
thông qua quá trình đàm phán hạ thấp các hàng rào thương mại để thúc đẩy
buôn bán. Kể từ năm 1948 đến nay, GATT và WTO đã tiến hành nhiều vòng
đàm phán để giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị
trường. Để thực hiện nguyên tắc thương mại ngày càng tự do này, WTO đảm
nhận chức năng là diễn đàn đàm phán thương mại đa phương để các nước có
thể liên tục thảo luận về vấn đề tự do hoá thương mại.
WTO kiên trì xu hướng hạn chế dần đi tới xoá bỏ các hàng rào cản trở
thương mại quốc tế như thuế quan và các biện pháp phi thuế quan nhằm tiến
tới một thị trường thống nhất dựa trên các quy tắc cạnh tranh kinh tế. Do đó,
ngoài việc khuyến khích, duy trì thường xuyên các cuộc đàm phán giảm thuế
quan, WTO còn thúc đẩy, mở rộng các đàm phán nhằm đi tới các hiệp định bổ
sung về thủ tục hành chính đối với hàng xuất nhập khẩu.
Gần đây, WTO mở rộng các vấn đề đàm phán sang lĩnh vực môi trường
9
và lao động liên quan đến sản xuất sản phẩm. Về phương diện xã hội, các quy
định của một số nước liên quan đến bảo vệ môi trường và an toàn lao động
cho phụ nữ và trẻ em mang tính nhân đạo. Nhưng về mặt điều kiện thương
mại thì các quy định mới này có thể cản trở hoạt động thương mại và gây bất
lợi cho hàng hoá của các nước kém phát triển. Do đó, quá trình hoạch định và
thực thi chính sách thương mại tự do của WTO trong mối liên hệ đến các vấn
đề công bằng và phát triển còn tiềm ẩn nhiều khía cạnh phức tạp và mâu
thuẫn nhau.
Nguyên tắc 5: Tạo lập môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng
WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do,
công bằng và không bị bóp méo. Tất cả các Hiệp định của WTO như về nông
nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ... đều nhằm mục tiêu tạo một môi trường
cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các quốc gia.
WTO khuyến khích thương mại theo khuynh hướng cạnh tranh kinh tế
thuần tuý dựa trên lợi thế cạnh tranh nhằm thiết lập cơ cấu phân công lao
động quốc tế hiệu quả. Chính vì thế, trong các nội dung đàm phán, cũng như
trong các hiệp định đã ký kết của WTO các biện pháp can thiệp của nhà nước
làm hạn chế phạm vi hoạt động của cơ chế thị trường cạnh tranh tự do hoặc
làm méo mó giá cả thường bị gây áp lực phải hạn chế dần, đi tới xoá bỏ.
Nguyên tắc này đặc biệt liên quan đến thương mại nhà nước và trợ cấp của
nhà nước, nhất là trong các vòng đàm phán gần đây, khi vấn đề trợ cấp nông
sản và chi tiêu của Chính phủ được nhiều nước quan tâm đề xuất đưa vào
chương trình đàm phán. Mục đích của nguyên tắc này là xây dựng một môi
trường trong đó hàng hoá và dịch vụ cạnh tranh bình đẳng với nhau, không có
sự hỗ trợ tài chính của nhà nước.
Nguyên tắc 6: Nguyên tắc "khước từ" và khả năng áp dụng các
hành động khẩn cấp
Khi tình hình kinh tế hay thương mại của một nước gặp khó khăn nhất
thời, WTO cho phép các nước thành viên được tạm thời miễn không thực hiện
những nghĩa vụ nhất định.
WTO cũng cho phép các chính phủ được áp dụng các biện pháp tự vệ
khẩn cấp trong những trường hợp quy định. Các thành viên có thể áp dụng
các hạn chế nhập khẩu hay tạm ngừng các nhân nhượng thuế quan đối với
10
những sản phẩm cụ thể khi nhập khẩu các sản phẩm này tăng mạnh, gây ra
hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nước.
Theo quy định của WTO, các nước sẽ loại bỏ tất cả hạn chế số lượng
đối với hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, WTO cũng cho phép các nước thành viên
được áp dụng các hạn chế nhập khẩu trong một số trường hợp ngoại lệ như:
- Nước nhập khẩu gặp khó khăn về cán cân thanh toán
- Có căng thẳng về ngoại hối (do nhu cầu nhập khẩu vì mục tiêu phát
triển tăng mạnh, hoặc do các nước này thiết lập hay mở rộng hoạt động sản
xuất trong nước).
Khi các nước áp dụng các ngoại lệ này, các hạn chế số lượng phải được
áp dụng trên cơ sở không có sự phân biệt đối xử.
Nguyên tắc 7: Ưu đãi dành cho các nước đang phát triển
Một trong những mục tiêu hoạt động của WTO là cần phải có nỗ lực tích
cực để đảm bảo rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia kém
phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế
tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước đó. Với khoảng 2/3 số
thành viên của mình là các nước đang và kém phát triển, WTO luôn khuyến
khích phát triển, dành những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho các
quốc gia này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ
thống thương mại đa phương. WTO cũng dành cho các nước đang phát triển,
các nền kinh tế chuyển đổi những ưu đãi nhất định trong việc thực thi các
hiệp định, đồng thời chú ý đến trợ giúp kỹ thuật cho các nước này.
Những ưu đãi được khuyến khích trong WTO khá đa dạng, từ cam kết
giảm thuế quan bất tương xứng đến lộ trình thực hiện cam kết dài hơn cho các
nước đang phát triển, thậm chí WTO cho phép miễn nghĩa vụ cam kết cho các
nước chậm phát triển nhất.
Hộp 1.1. WTO thuộc về ai?
WTO được điều khiển bởi chính các chính phủ là thành viên của tổ chức. Tất cả
các quyết định lớn đều có sự tham gia của toàn thể các thành viên, được đưa ra hoặc ở
cấp Hội nghị bộ trưởng (họp ít nhất là 2 năm một lần), hoặc ở cấp các đại sứ và đại biểu
(họp thường xuyên ở Geneva). Thông thường các quyết định được đưa ra theo nguyên
tắc đồng thuận.
Do nguyên tắc này, WTO khác với một số tổ chức quốc tế khác, ví dụ như Ngân
hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế. Tại WTO không có sự uỷ quyền cho một Uỷ ban
11