Luận văn nêu cảm nhận về mùa xuân trong thơ hồ chí minh

  • 9 trang
  • file .pdf
Nêu cảm nhận về mùa xuân trong thơ Hồ Chí Minh
Từ bao đời nay, mùa Xuân đã trở thành nguồn cảm hứng không bao giờ
vơi cạn của biết bao thi nhân, nghệ sĩ. Xuân trong thơ Hồ Chí Minh là mùa Xuân hiện
hữu của đất trời, Xuân bởi lòng người, Xuân của lịch sử và của mong ước tương lai...
Nói đến thơ Xuân của Bác, chúng ta nhớ tới một bài thơ được Bác viết khi
Người ở chiến khu Việt Bắc – bài Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng):
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền
(1948)
Chỉ với bốn câu thơ thất ngôn, Bác đã khơi gợi trước mắt người đọc vẻ đẹp
thơ mộng, tràn đầy, viên mãn của mùa Xuân. Xuân ở đây được soi tỏ trong không
gian và thời gian hết sức đặc biệt: Một đêm rằm trên sông nước bao la. Chọn thời
điểm đêm Xuân vào ngày rằm của tháng mở đầu một năm mới, Bác đã gợi lên trong
sự liên tưởng của mọi người về vẻ đẹp của mùa Xuân. Nhưng khi đọc thơ Bác, người
đọc vẫn không khỏi bất ngờ bởi góc nhìn đầy tươi mới của thi nhân:
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
(Bản dịch của Xuân Thuỷ)
Trong ánh trăng soi tỏ, cả trời mây sông nước ngập tràn sắc xuân: Xuân
giang, Xuân thuỷ, Xuân thiên. Mùa Xuân trải rộng cùng thiên nhiên: Vẫn dòng sông
ấy, vẫn màu nước ấy, vẫn mây trời ấy – sang Xuân lại mang một màu sắc mới: tươi
sáng, trong lành và quyện hòa, chứa chan vào nhau. Bản dịch của Xuân Thuỷ đã đánh
mất một chữ so với nguyên tác (xuân thuỷ). Câu thơ của Bác đầy chất tạo hình: dòng
sông, mặt nước, bầu trời lung linh trong ánh trăng rằm. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ
sức khơi gợi một không gian vũ trụ bao la, rộng lớn.
Trong không gian đó thiên nhiên và con người như hoà nguyện vào nhau,
tìm thấy vẻ đẹp trong nhau:
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
Sau mười bốn tháng đằng đẵng trong tù, Người trở về làm việc tại chiến
khu Việt Bắc. Đây là thời kì Bác bận rộn lo việc quân, việc nước. Câu thơ vừa cổ kính
(yên ba thâm xứ) vừa hiện đại (đàm quân sự), vừa mang chất thơ vừa quyện chất đời.
Con người mở rộng tâm hồn đón nhận vẻ đẹp thiên nhiên song không chìm đắm, lãng
quên nhiệm vụ. Còn thiên nhiên, mà cụ thể ở đây là ánh trăng, dường như cũng thấu
hiểu công việc cao đẹp của con người nên toả rạng, chứa chan, ngập tràn lên không
gian ấy (nguyệt mãn thuyền). Con người và thiên nhiên hoà quyện, tôn thêm vẻ đẹp
cho nhau. Cảnh mến người, người yêu cảnh!
Phải có một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, một phong thái ung dung, tự tại của
một thi nhân – chiến sĩ, Bác mới có thể đem lại cho đời những vần thơ tươi đẹp như
vậy!
Xuân trong thơ Bác không chỉ là mùa Xuân hiện hữu của đất trời mà còn
là mùa Xuân của cuộc sống, của lòng người.
Năm 1945, Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đi lên chiến
khu Việt Bắc đã họp lần đầu trong một cái miếu trên đường đi giữa hai huyện miền
núi. Sau cuộc họp có một bữa cơm thân mật với thịt lợn rừng vừa săn được và ngô
nướng, rượu ngọt, chè tươi. Giữa chốn rừng xa lạ đầy gian khổ, thiếu thốn, để động
viên tinh thần lạc quan của mọi người, Bác đã làm tặng bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc:
Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về thường chén thịt rừng quay
Non xanh nước biếc tha hồ
Rượu ngot, chè tươi mặc sức say
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.
Với cách nhìn của Bác, cuộc sống ở núi rừng Việt Bắc hiện lên đầy thi vị.
Đó không còn là chốn núi rừng vắng vẻ, u tịch mà luôn ngập tràn rộn rã bởi những âm
thanh: Vượn hót, chim kêu sốt cả ngày. Đó cũng không còn là nơi gian khổ, thiếu thốn
mọi bề mà là chốn thảnh thơi, phong lưu, dư dả. Thực đơn mời khách có thể rất dân dã
như ngô nướng, chè tươi song cũng không thiếu thốn những món ăn, thức uống cao
sang: rượu ngọt, thịt rừng quay. Không chỉ thính giác, vị giác được thoả thê, mà thị
giác cũng được thoả lấp: này non xanh, này nước biếc, có nơi nào mời gọi bước chân
thưởng ngoạn của du khách hơn chốn nước non tươi đẹp, hùng vĩ này.
Trước khung cảnh thiên nhiên giàu đẹp, phong phú như thế, Nhà thơ không
khỏi thốt lên câu cảm thán: Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay. Chỉ với chữ hay này Bác
đã làm nổi bật được sự yêu thích và cảm giác thú vị của mình khi được sống và làm
việc trên mảnh đất căn cứ địa kháng chiến thần thánh của dân tộc. Với cảm nhận đó,
cuộc sống nơi đây thực sự luôn làm mùa Xuân, tràn đầy sức Xuân trong trái tim bình
dị và rất đỗi lớn lao, cao cả của Người:
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.
Xuân trong thơ Bác còn là nguồn cảm hứng để người bày tỏ một cái nhìn
lạc quan, biện chứng về xu thế vận động, phát triển của lịch sử, của dân tộc. Trong
bài Tự khuyên mình Người viết:
Nếu không có cảnh đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân
Nghĩ mình trong bước gian truân
Gian nan rèn luyện tinh thần thêm hăng.
Mùa Xuân ở đây được khơi gọi trong mối tương quan đối lập với mùa
Đông. Đông về, giá lạnh, khắc nghiệt. Xuân tới, ấm áp và sắc tươi. Bốn mùa luân
chuyển: hết Đông tất tới Xuân. Cuộc sống con người cũng vậy. Để có được mùa Xuân
rạng rỡ, huy hoàng, đừng ngại gian truân, vất vả. Khó khăn trong thực tại là cơ hội tốt
nhất để con người trải nghiệm, trưởng thành. Nắm được quy luật tất yếu của lịch sử,
của xã hội, Bác luôn nhìn cuộc sống, nhìn cách mạng với một lòng tin tưởng sâu sắc,
một tinh thần lạc quan vô bờ bến.
Thơ viết về mùa Xuân chiếm một vị trí đặc biệt trong thơ Hồ Chí Minh.
Xuân gửi người chiến sĩ:
Áo rét gửi mau cho chiến sĩ
Trời loe, nắng ấm báo Xuân sang.
(Tư
chiến sĩ)
Xuân suy tư trăn trở cùng cuộc sống của người dân:
Nghe nói Xuân nay trời đại hạn
Mười phần thu hoạch chỉ vài phân.
(Đồng
chính)
Xuân sum vầy, lạc an trong ngày sinh nhật của Người:
Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên.
Sau mỗi độ Tết đến Xuân về, mỗi người dân Việt Nam đều nhớ tới Bác,
nhớ tới những vần thơ chúc Tết hàng năm của Bác. Những lời thơ chân thành, giản dị
mà xiết bao xúc động lòng người!
Những bài thơ chúc Tết của Bác là món quà đầu Xuân được bọc trong giấy
hồng đơn, là tấm lòng của Người gửi tới nhân dân trên khắp mọi miền:
Mấy lời thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân
Bính Tuất 1946 là mùa Xuân đầu tiên nước nhà được độc lập. Mùa Xuân
còn hừng hực khí thế cách mạng của những sự kiện lịch sử vừa qua: Cách mạng tháng
Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, tổng tuyển cử bầu Quốc
hội đầu tiên của nước ta. Nhân dân vui mừng, phấn khởi trước thắng lợi to lớn của đất
nước sau bao nhiêu năm chìm đắm trong đêm trường nô lệ.
Trong cái Tết đặc biệt 60 năm về trước này Bác Hồ đã có đến ba bài thơ
Xuân chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước: Chúc Tết Bính Tuất – 1946, Mừng báo
Quốc gia, Gửi chị em phụ nữ Xuân Bính Tuất. Chưa có năm nào Bác có nhiều thơ
chúc Tết như vậy.
Đối với Bác, với nhân dân ta, mùa Xuân 1946 này mới thực sự là mùa
Xuân Dân chủ Cộng hoà, Tết này mới thực sự là Tết độc lập, tự do:
Tết này mới thực Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba chén rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa
Mọi nhà vui đón Xuân Dân chủ
Cả nước hoan nghênh Phúc Cộng hoà.
Không chỉ chúc Tết, Bác còn kêu gọi mọi người cùng nhau phấn đấu, rèn
luyện, tu dưỡng để phục vụ cho cuộc kháng chiến và dựng xây đất nước:
Phải gắng làm sao
Xây đời sống mới.
Và Người động viên, hẹn cùng các chiến sĩ phương xa:
Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chum rượu đào
Tết này ta tạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.
Con đường phía trước còn nhiều gian khổ, song Người vẫn mang trong
mình một niềm tin trọn vẹn vào thắng lợi tất yếu của dân tộc. Trong cuộc kháng chiến
trường kì Người vẫn luôn dõi theo từng buớc đi của dân tộc để động viên khích lệ tinh
thần nhân dân cả nước.
Xuân 1949, Bác nhắn nhủ:
Kháng chiến lại thêm một năm mới
Thi đua yêu nước thêm tiến tới
Động viên lực lượng và tinh thần
Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi.