Luận văn một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động ngoài giờ học

  • 15 trang
  • file .pdf
DANH MỤC BẢNG
STT BẢNG TRANG
Bảng 1: Kết quả khảo sát tình hình phát triển ngôn ngữ của trẻ Mầm
1 31
non 4 – 5 tuổi vào đầu năm học
Bảng 2: Kết quả khảo sát tình hình phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm
2 non 4 – 5 tuổi sau 3 tháng áp dụng một số biện pháp phát triển ngôn 32
ngữ qua các hoạt động ngoài giờ học.
Ảnh 8: Giờ ăn của trẻ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Stt Viết tắt Từ viết tắt
1 TCĐVTCĐ Trò chơi đóng vai theo chủ đề
2 ĐVTCĐ Đóng vai theo chủ đề
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ - thành tựu lớn nhất của con người – là một hệ thống tín hiệu đặc
biệc. Nói là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên trong xã hội loài
người, nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những hiểu biết, truyền
cho nhau những kinh nghiệm, bày tỏ với nhau những nguyện vọng, ý muốn và cùng
nhau thực hiện những dự định tương lai.
Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất mạnh
mẽ, tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội
của nền văn hóa loài người. Nói giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển tư duy, giúp trẻ
giao tiếp được với mọi người xung quanh, là phương tiện giúp trẻ điều chỉnh, lĩnh hội
những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực. Ngày nay trong công tác chăm sóc giáo
dục trẻ, chúng ta thấy vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục – phát triển toàn vẹn
nhân cách trẻ.
Trường mầm non là nơi tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn vẹn nhân cách cho
trẻ, trong đó vai trò của nhà giáo dục, và hoạt động tích cực của từng các nhân trẻ có
ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của trẻ nói chung và phát triển ngôn ngữ của từng
trẻ nói riêng. Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ giáo viên mầm non đã cung cấp cho trẻ
vốn từ phong phú, dạy trẻ phát âm chuẩn. Khi hướng dẫn trẻ tham gia các hoạt động
ngôn ngữ giáo viên đã phát huy được tính tích cực của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ được
luyện tập khả năng nói, phát âm chính xác, sử dụng từ đúng để diễn đạt ý nghĩ của
mình trong các tình huống khác nhau của các hoạt động ngôn ngữ.
Tôi nhận thấy ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất. Đặc biệt, đối
với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh,
hình thành những cảm xúc tích cực. Bằng những câu hát ru, những câu nói âu yếm đã
mang lại cho trẻ những cảm giác bình yên, sự vui mừng hớn hở. Những tiếng ầu ơ của
mẹ chính là sự giao lưu cảm xúc và ngôn ngữ đầu tiên. Những cuộc nói chuyện đặc
biệt này sẽ làm cho trẻ có những tình cảm thân thương với những người xung quanh.
Trong quá trình giao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn, uốn nắn hành vi của trẻ bằng lời
nói, nét mặt, nụ cười khiến trẻ có thể nhận ra hành vi của mình đúng hay sai. Bằng con
đường đó, trẻ sẽ dần dần hình thành được những thói quen tốt và học được những cách
ứng xử đúng đắn. Ngôn ngữ giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mỹ trong thơ ca,
1
truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thể đem đến cho
trẻ từ những ngày thơ ấu. Sự tác động của lời nói nghệ thuật như một phương tiện hữu
hiệu giáo dục thẩm mỹ cho trẻ. Trẻ nhận thức được cái hay, cái đẹp trong cuộc sống
xung quanh như những bông hoa, những hàng cây, những con đường đẹp… hay những
hành vi đạo đức nên làm và không nên làm như: ngoan – hư, xấu – tốt, thật thà –
không thật thà…
Ngoài ra tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không
đồng nhất với nhau và không tách rời nhau. Mối quan hệ thống nhất giữa tư duy và
ngôn ngữ thể hiện ở chỗ nhờ có ngôn ngữ mà ngay từ khâu mở đầu của quá trình tư
duy, con người nhìn nhận hoàn cảnh có vấn đề - khi đó quá trình tư duy bắt đầu. Trong
quá trình tư duy, con người tiến hành các thao tác tư duy: phân tích, so sánh, tổng hợp,
trừu tượng hóa, khái quát hóa. Sự thống nhất giữa tư duy và ngôn ngữ còn được thể
hiện ở kết quả của quá trình tư duy mà sản phẩm chính là những khái niệm phán đoán,
suy lý được diễn đạt và lưu trữ trong từ ngữ và câu. Ngôn ngữ là phát triển của tư duy
và các quá trình nhận thức khác.
Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ qua các hoạt động ngoài giờ học”. Giúp tôi nâng cao kỹ năng nghề nghiệp,
có thêm kiến thức về biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Làm cơ sở lý thuyết để
phục vụ cho cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ, tạo điều kiện thuận lợi giúp trẻ phát
triển toàn diện về trí, đức, thể, mỹ. Ngoài ra, hoàn thành đề tài là kết quả của quá trình
học tập và nghiên cứu là điều kiện để tôi được tốt nghiệp.Chính vì những lý do trên
nên tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua
các hoạt động ngoài giờ học”.
1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt
động ngoài giờ học. Từ đó đề xuất một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua
các hoạt động ngoài giờ học nhằm giúp cho trẻ phát triển toàn diện.
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động ngoài giờ học
2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của bài nghiên cứu
Góp phần cung cấp tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên ngành Giáo dục
Mầm non, các giáo viên mầm non và các bậc phụ huynh muốn tìm hiểu về phương
pháp phát triển ngôn ngữ cho con, em của mình.
Việc thực hiện đề tài trước hết giúp tác giả khoá luận nắm chắc lí luận của biện
pháp phát trỉến ngôn ngữ cho trẻ, từ đó có thể đưa ra một số biện pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ qua các hoạt động ngoài giờ học.
1.4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tôi đã tiến hành nghiên cứu tại trường Abi Đồng Nai
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc sách, báo và các tài liệu có liên quan tới vấn đề đang nghiên cứu. Từ đó
chọn lọc để xây dựng nên cơ sở lí luận cho đề tài.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
* phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp xử lý thống kê toán học
3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người. Cho nên ngôn ngữ
là tài sản quý báu của nhân loại. Nó là cả kho tàng trí tuệ của con người. Nó tồn tại và
phát triển cùng với sự thay đổi và phát triển của con người. Cũng chính vì lẽ đó mà có
biết bao công trình nghiên cứu được tỏa sáng nhờ có ngôn ngữ. Và ngôn ngữ cũng
chính là vấn đề mà có rất nhiều nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau như: Tâm lí
học, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, giáo dục học,… đi sâu, tìm tòi, nghiên cứu và
đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đáng kể.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển của trẻ, tiêu biểu là công
trình nghiên cứu của: A.N.Xookolop, F.D. Usinxky, R.O. Shor, O.B.Encônhin, Piegie,
M.M. Konxova, M.I.Bozovich, A.Z. Ruxkai ,Winhem Preyer,…
VÍ dụ:
- Winhem Preyer với “Trí óc của trẻ em”: Một tác phẩm miêu tả chi tiết về sự
phát triển của trẻ em, phát triển về vận động, hình thành ngôn ngữ và trí nhớ cụ thể
thông qua cậu bé Alex.
- M.M. Konxova với “Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học”: Các hình thức, biện
pháp để nhằm dạy nói cho trẻ trước khi vào tuổi đi học.
- A.N.Xookolop với “Lời nói bên trong và tư duy”: Tác giả nghiên cứu những
vấn đề lí luận về ngôn ngữ và tư duy của trẻ.
Ở Việt Nam, vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng được đông đảo các nhà
giáo dục quan tâm và đi vào nghiên cứu như:
- Các tác giả Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn
Thanh Hồng với: “Tiếng việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ”, đề cập tới
tiếng việt. Dựa vào đó tác giả xây dựng các phương pháp nhằm phát triển và hoàn
thiện lời nói cho trẻ.
- Tác giả Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức vói “Phương
pháp phát triển ngôn ngữ”. Tác giả đã đưa ra các phương pháp cụ thể giúp trẻ tăng
vốn từ của trẻ.
4
- Tác giả Nguyễn Xuân Khoa với “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo dưới 6 tuổi”, đã đưa ra các phương pháp cụ thể giúp trẻ phát triển ngôn ngữ,
vốn từ của mình.
- Luận án Phó tiến sĩ của Lưu Thị Lan:“Những bước phát triển ngôn ngữ cả trẻ
từ 1-6 tuổi”, nội dung luận án nói về các bước, giai đoạn hình thành phát triển ngôn
ngữ cho trẻ trong độ tuổi từ 1 đến 6 tuổi.
- Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về: “Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo từ 0-6 tuổi”, đã nghiên cứu về sự phát triển vốn từ ngữ của trẻ ở các
độ tuổi và đưa ra phương pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ em ở độ tuổi mầm
non.
- Luận án Tiến sĩ Nguyễn Thị Oanh: “Cơ sở của việc tác động sư phạm đến sự
phát triển ngôn ngữ tuổi Mầm non”. Dựa trên cơ sở của ngành sư phạm tác giả đã
nghiên cứu tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em mần non.
- Theo giáo trình: “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non” nhà xuất bản đại học Sư
phạm Hà Nội trang 46. Có hai hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đó là: Các tiết
học và các hoạt động ngoài tiết học (đổi mới hình thức giáo dục mầm non sử dụng các
thuật ngữ hoạt động chung và hoạt động góc). Các tiết học có thể chia làm ba loại:
Loại tiết học chuyên biệt như tiết học nhận biết - tập nói ở nhà trẻ và tiết học cho trẻ
làm quen với chử cái ở mẫu giáo; loại tiết học có ưu thế phát triển lời nói như cho trẻ
làm quen với môi trường xung quanh, cho trẻ làm quen với văn học; và các tiết học
khác như cho trẻ làm quen với toán, tổ chức hoạt động tạo hình, giáo dục âm nhạc,..
Mọi tiết học khác nhau điều có cơ hội phát triển tiếng nói cho trẻ. Cần phải lưu ý tích
hợp nội dung phát triển tiếng nói vào các giờ học này. Ví dụ: Giờ học toán về biểu
tượng thời gian, thì củng cố các từ, khái niệm thời gian; giờ học tạo hình củng cố các
từ về màu sắc,…Đặc biệt các giờ học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh ,
cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là những loại giờ học chiếm ưu thế về phát
triển lời nói cho trẻ. Cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh có nhiệm vụ mở
rộng dần nhận thức cho trẻ về tự nhiên và xã hội, đòi hỏi cô giáo phải cung cấp vốn từ
tương ứng với các sự vật, hiện tượng đem đến cho trẻ. Có thể nói các giờ học kiểu này
đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ. Các giờ học
thơ, truyện vừa giải quyết nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ nghệ thuật, vừa giải quyết một
nhiệm vụ quan trọng không kém là hình thành và phát triển ở trẻ kĩ năng nói đúng ngữ
5
pháp và lời nói mạch lạc. Hình thức ngoài tiết học bao gồm tất cả các hoạt động khác
nhau như vui chơi, lao động, tham quan, sinh hoạt ,…
Tuy nhiên, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ phần lớn tập trung qua các tiết
học, hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động ngoài giờ học vẫn chưa
được quan tâm đúng mực. Chính vì vậy nên tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động ngoài giờ học”. Với đề tài này tôi mong
muốn tìm ra những biện pháp mới giúp các bậc phụ huynh và giáo viên phát triển ngôn
ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động ngoài giờ học. Giúp trẻ phát triển ngôn ngữ trẻ sẽ
phát triển tư duy, phát triển tư duy trẻ sẽ phát triển toàn diện.
2.1.2. Tầm quan trọng của ngôn ngữ trong đời sống
2.1.2.1. Khái niệm về ngôn ngữ
V. Lênin đã khẳng định rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất của con người”. Ngôn ngữ là một hệ thống các ký hiệu có cấu trúc, quy tắc và ý
nghĩa. Đồng thời, ngôn ngữ cũng là phương tiện để phát triển tư duy, truyền đạt và tiếp
nhận những nét đẹp của truyền thống văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Cũng có khái niệm khác về ngôn ngữ theo E. L. Tikhêeva – Nhà giáo dục học
Liên xô cũ đã khẳng định rằng: “Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, là chìa khóa để nhận
thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc, của nhân loại. Do ngôn
ngữ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người…” [5, trang 10].
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan
trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người. Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương
tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hoá – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử mà sử mà sự hình thành dân tộc và ngôn ngữ dân tộc mỗi
nơi, mỗi thời kỳ một khác, theo những con đường khác nhau. Mác và Ăngghen đã viết:
“Trong bất cứ ngôn ngữ phát triển nào hiện nay, cái nguyên nhân khiến cho ngôn ngữ phát
sinh một cách tự phát, được nâng lên thành ngôn ngữ dân tộc, thì một phần là do ngôn ngữ
đó được phát triển một cách lịch sử từ chỗ nó được chuẩn bị đầy đủ về tư liệu, như ngôn
ngữ La Mã và ngôn ngữ Giescmani chẳng hạn, một phần là do sự giao dịch và hỗn hợp của
các dân tộc, như tiếng Anh chẳng hạn; một phần nữa là do các phương ngữ tập trung thành
ngôn ngữ dân tộc thống nhất và sự tập trung đó lại do sự tập trung kinh tế, chính trị quyết
định”.
6
Ngôn ngữ là hiện tượng lịch sử - xã hội nảy sinh trong hoạt động thực
tiễn của con người. Trong quá trình cùng nhau lao động, loài người cổ xưa có nhu cầu
trao đổi ý nghĩ, dự định, nguyện vọng, tâm tư tình cảm... Nhờ đó đến một giai đoạn
phát triển nhất định đã xuất hiện những dấu hiệu quy ước chung để giao tiếp, trong đó
có những dấu hiệu âm thanh, từ những tín hiệu này dần dần tạo thành từ ngữ và một hệ
thống quy tắc ngữ pháp, đó chính là ngôn ngữ.
Vậy ngôn ngữ là gì? Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ ngữ đặc biệt
dùng làm phương tiện giao tiếp và làm công cụ tư duy.
2.1.2.2. Chức năng của ngôn ngữ
Hai chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ là: chức năng công cụ giao tiếp và
chức năng công cụ tư duy.
* Chức năng công cụ giao tiếp
Giao tiếp là gì? Giao tiếp là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc giữa các thành viên
trong xã hội để trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm và để bày tỏ thái độ của bản thân
với thế giới xung quanh. Giao tiếp là nhu cầu có tính bản năng của sinh vật bậc cao và
là nhu cầu đặc biệt thiết yếu với con người. Hoạt động giao tiếp có ngay từ khi có con
người và xã hội loài người, và ngày càng phong phú, đa dạng cùng với sự phát triển
của con người và xã hội. Con người và xã hội không thể thiếu hoạt động giao tiếp.
Nhờ có hoạt động giao tiếp, con người mới dần trưởng thành để có được những đặc
trưng xã hội và xã hội loài người mới dần hình thành và phát triển. Ðặc điểm của hoạt
động giao tiếp là bao giờ cũng xảy ra trong một hoàn cảnh nhất định, với những
phương tiện nhất định và nhắm một mục tiêu nhất định.
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất. Về các công cụ giao tiếp xã hội
không phải là ngôn ngữ: Loài người đã tiến hành giao tiếp bằng nhiều loại công cụ.
Nhưng những công cụ này dù có những ưu điểm mà ngôn ngữ không có nhưng lại có
nhiều hạn chế và không thể quan trọng bằng ngôn ngữ.
Cử chỉ, nét mặt, dáng điệu là những phương tiện giao tiếp quan trọng. Nhưng so
với ngôn ngữ, chúng thật nghèo nàn và hạn chế. Không một cử chỉ nét mặt nào có thể
diễn đạt một nội dung chẳng hạn Thế nào là giao tiếp bằng ngôn ngữ? Hơn nữa nhiều
cử chỉ có ý nghĩa không rõ ràng, chính xác. Người tạo cử chỉ nghĩ một đằng, người
tiếp thu nó hiểu một cách khác.
7
Các ngành nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, khiêu vũ... đều là những
công cụ giao tiếp rất quan trọng của con người. Chúng có những khả năng to lớn và kì
diệu nhưng vẫn bị hạn chế nhiều mặt so với ngôn ngữ. Chúng không thể truyền đạt
khái niệm và tư tưởng mà chỉ khơi gợi chúng trên cơ sở những hình ảnh thính giác hay
thị giác gây ra được ở người xem. Những tư tưởng, tình cảm này thường thiếu tính
chính xác, rõ ràng. Ngay cả ở những hội nghị về âm nhạc, hội họa, điêu khắc... người
ta cũng không thể nào chỉ giao tiếp nhờ các tác phẩm âm nhạc, hội họa hay điêu khắc
mà không cần dùng đến ngôn ngữ. Những hệ thống kí hiệu được dùng trong giao
thông, toán học, tin học, hàng hải, quân sự... cũng tương tự. Chúng chỉ được dùng
trong những phạm vi hạn chế nên chỉ có thể là phương tiện giao tiếp bổ sung quan
trọng bên cạnh phương tiện ngôn ngữ là cái được dùng chung trong phạm vi toàn xã
hội.
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người: Ta đã biết, ngôn
ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, có khả năng biểu hiện đến độ vạn năng và vô
hạn; tuy phức tạp nhưng đối với người bản ngữ, để nói được, lại tự nhiên, giản đơn lạ
kì nếu họ sống bình thường trong xã hội. Chính vì vậy, ngôn ngữ là phương tiện được
dùng phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc trong sinh hoạt xã hội. Tất cả các ngành hoạt động
ngoài hệ thống kí hiệu dùng riêng cho mình vẫn phải dùng ngôn ngữ làm công cụ
chung, chủ yếu để giao tiếp. Không dùng ngôn ngữ, lập tức hoạt động giao tiếp sẽ bị
kém hiệu quả hoặc ngưng trệ. Cũng vì vậy, hầu hết kho tàng trí tuệ, tư tưởng, tình cảm
đồ sộ của loài người đã được ngôn ngữ lưu trữ, truyền đi và phát huy tác dụng to lớn
của nó. Trong lao động, ngôn ngữ là công cụ đấu tranh sản xuất. Nó không trực tiếp
sản xuất ra của cải vật chất nhưng giúp con người giành được tri thức trong sản xuất,
giúp con người hợp tác tốt với nhau để làm cho sức sản xuất ngày càng phát triển to
lớn. Trong xã hội, ngôn ngữ là công cụ đấu tranh giai cấp. Ngôn ngữ không có tính
giai cấp nhưng các giai cấp lại dùng nó như một vũ khí đấu tranh sắc bén. Nếu không
có ngôn ngữ, chỉ có các công cụ giao tiếp khác thì chắc chắn xã hội không thể đạt tới
trình độ phát triển như hiện nay được. Nhận rõ chức năng công cụ giao tiếp quan trọng
của ngôn ngữ, Ðảng và Chính phủ ta, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, đã
luôn coi trọng việc xây dựng tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ của các dân tộc anh
em trên đất nước Việt Nam để chúng không ngừng phát triển và phục vụ tốt nhất cho
sự nghiệp cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
8
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tác giả trong nước:
1. Lê Thị Kim Anh. Phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ mầm non.Bài giảng lưu
hành nội bộ. Đại học Sư phạm Hà Nội, 1999
2. Võ Phan Thu Hương. Biện pháp dạy trẻ mẫu giáo nói đúng ngữ pháp. Luận án tiến
sĩ Giáo dục học, Hà Nội, 2009.
3. Nguyễn Xuân Khoa. Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo dưới (0- 6
tuổi). Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học , Hà Nội, 1998.
3. Lưu Thị Lan. Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em (0-6 tuổi). Luận án tiến sĩ
Ngôn ngữ học, Hà Nội, 1997
4. Nguyễn Thị Phương Nga. Giáo trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Tài liệu
lưu hành nội bộ. Trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3, 1999
5. Nguyễn Thị Oanh. Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu
giáo lớn (5-6 tuổi). Luận án tiến sĩ Giáo dục học, Hà Nội, 2000.
6. Đinh Hồng Thái. Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em. NXB Đại học
Sư phạm, Hà Nội, 2006
7. Đinh Hồng Thái. Phát triển ngôn ngữ trẻ em. Bài giảng chuyên đề cao học. Tài liệu
lưu hành nội bộ. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2006.
8. Bùi Kim Tuyến. Xây dựng nội dung, biện pháp phát triển hoạt động ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số B98-59, Hà
Nội, 2001.
Tác giả nước ngoài:
9. Church Amelia. Conversation analysis in early childhood research. Univerrsity of
Melbourne, Australia, 2008.
11. M.M. Konxova với Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học
12. A.N.Xookolop với Lời nói bên trong và tư duy
10. Winhem Preyer với Trí óc của trẻ em
57