Luận văn le thi ha văn hóa làng cổ đông hòa hiệp huyện cái bè tỉnh tiền giang

  • 32 trang
  • file .pdf
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
____________________________
ISO 9001:2008
LÊ THỊ HÀ
VĂN HÓA LÀNG CỔ ĐÔNG HÒA HIỆP
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60310640
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM THỊ THU YẾN
TRÀ VINH, NĂM 2015
TÓM TẮT LUẬN VĂN
 Tên luận văn: “Văn hóa làng cổ Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang”
 Khoảng thời gian khảo sát: Từ 2014 đến nay
 Địa điểm khảo sát: -Xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
-Xã Tân Hòa, huyện Long Hồ; Phường 3, 5 Vĩnh Long.
 Mô tả cuộc khảo sát tiêu biểu: Chúng tôi đã tiến hành 2 cuộc khảo sát định
lượng (phiếu khảo sát), định tính (phỏng vấn sâu) song song vào khoảng thời gian
tháng 4, 5, 6 năm 2015. Cuộc khảo sát định lượng được tiến hành với 150 phiếu khảo
sát, đối tượng chủ yếu là người dân Đông Hòa Hiệp. Cuộc khảo sát định tính kéo
trong 3 tháng với nhiều đối tượng khảo sát khác nhau như: người dân, chủ nhà cổ,
cán bộ quản lý văn hóa, đại diện chính quyền; 15 cuộc phỏng vấn sâu với nhiều thời
điểm khác nhau (do có nhiều vấn đề phát sinh cần làm rõ). Các kết quả số liệu khảo
sát được tính toán bằng phần mềm exel, SPSS…
 Mục đích của đề tài là bước đầu phác thảo bức tranh văn hóa của làng cổ Đông
Hòa Hiệp, phân tích thực trạng tồn tại của di sản, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp
nhằm bảo vệ, phát huy những giá trị di sản văn hóa vốn có.
 Một số nội dung chính của luận văn.
-Luận văn sử dụng một số thuật ngữ khoa học quen thuộc của ngành văn hóa
học, nhân học, xã hội học…như các khái niệm văn hóa của UNESCO, Trần Quốc
Vượng, Hồ Chí Minh; các khái niệm về làng, xã, ứng xử văn hóa. Cơ sở lý thuyết
của luận văn chủ yếu dựa trên 3 thuyết văn hóa là “Vùng văn hóa”, “Bản sắc vùng”,
“Địa –văn hóa”.
-Làng Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang là làng cổ hiếm hoi ở
vùng văn hóa Đồng bằng Nam bộ; với lịch sử trên 300 năm tồn tại và phát triển, di
sản văn hóa của làng Đông Hòa Hiệp được thể hiện rõ nét trên cả 2 phương diện: văn
hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.
+Văn hóa vật thể của làng Đông Hòa Hiệp được thể hiện qua các cơ sở tôn giáo,
tín ngưỡng (đình, chùa, miếu), các công trình dân dụng (nhà cổ) và hệ thống cảnh quan
-iii-
của làng. Hiện tại làng Đông Hòa Hiệp có 1 đình cổ, 2 ngôi chùa, 10 ngôi nhà cổ trên
100 năm, trong đó có 8 cơ sở văn hóa được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Điểm đặc biệt
trong hệ thống văn hóa vật thể tại đây là những công trình nhà cổ rất có giá trị về mặt
lịch sử và kiến trúc. 10 ngôi nhà cổ tại Đông Hòa Hiệp đều là những ngôi nhà rường
với kết cấu gỗ; trong nhà được bài trí nhiều đồ dùng xưa như: hương án, tủ thờ, tủ chè,
ván ngựa (tấm phản), bàn nghế, trường kỉ; hệ thống liễn đối, bao lam…Tất cả đều được
trang trí, chạm khắc tỉ mỉ, sắc sảo. Một số nhà cổ xây dựng có ảnh hưởng kiểu kiến
trúc biệt thự Pháp, tuy nhiên bên trong vẫn được bài trí theo phong cách truyền thống
phương Đông, giản đơn nhưng rất tinh tế…
+Văn hóa phi vật thể làng Đông Hòa Hiệp khá đa dạng và phong phú, đặc điểm
này được thể hiện qua hệ thống tín ngưỡng, lễ nghi, tôn giáo, lễ hội, các nghề truyền
thống, văn hóa dân gian. Người dân làng này vẫn giữ lối sống đơn giản, hòa nhã
thường xuyên quan tâm, tương trợ lẫn; các hệ thống giá trị truyền thống vẫn được
lưu và tiếp nhận những nét văn hóa tiến bộ mới..
-Văn hóa làng Đông Hòa Hiệp là nét “văn hóa làng cổ” hiếm hoi ở Nam Bộ, nó
tiêu biểu cho văn minh miệt vườn sông nước; với hệ thống cảnh quan, sinh thái đa
dạng, rộng mở; với lịch sử hình thành, tích tụ lâu đời – Đông Hòa Hiệp chứa đựng
nhiều giá trị văn hóa đặc trưng vùng Đồng bằng Nam Bộ. Chính vì vậy, cần xây dựng
hệ thống giải pháp, chính sách hỗ trợ, nhằm bảo tồn, phát huy những di sản văn hóa
mà làng Đông Hòa Hiệp đang lưu giữ.
-iv-
EXECUTIVE SUMMARY
* Research Title: "Ancient Culture of Dong Hoa Hiep Village, Cai Be
District, Tien Giang Province’’
* Survey Period: From January 2014 to present.
* Place of survey: - Dong Hoa Hiep Village, Cai Be District, Tien Giang Province.
- Long Ho District; Tan Hoa Village ,Vinh Long City; Ward 3;
Ward 5 Vinh Long.
* Describing typical survey: We have conducted two quantitative survey
(survey bill), qualitative (interview) parallel in the period of June 4, 5 and 6, 2015.
The survey was conducted with 150 votes, most in Dong Hoa Hiep. Qualitative
survey lasted for 3 months with many different respondents as: people, old house
owners, cultural managers, government representatives; 15 in-depth interviews with
many different times (due to the many problems that need to be clarified). The results
of the survey data are calculated by the Excel, SPSS ...
* The aim of the research is to preliminarily sketch ancient culture of Dong
Hoa Hiep village, analyzing existing situation of heritage, since then we will devise
protective measures to target and promote values inherent cultural heritage.
* Some of the main contents of the thesis.
- Thesis uses some familiar scientific terms of the culture : anthropology,
sociology ... as the cultural concept of UNESCO, Tran Quoc Vuong, Ho Chi Minh ;
the concept of the village, cultural behavior. The theoretical basis of the thesis is
mainly based on three cultural theories "cultural zone", "regional identity", "cultural
georaphy."
-Dong Hoa Hiep Village , Cai Be District, Tien Giang Province is a rare
ancient village in the southern plain culture; with a history of over 300 years of
existence and development, cultural heritage of Dong Hoa Hiep village is clearly
shown on the 2 aspects: tangible and intangible culture.
-v-
+ Material culture of Dong Hoa Hiep village is expressed through religious
institutions and beliefs (temples, pagodas and shrines) and civil engineering (ancient
houses) and the system of village landscape. Currently Dong Hoa Hiep village has 1
old temples, 2 ancient pagodas, 10 old houses over 100 years, there are 8
establishments listed cultural relics at provincial level. A special feature of the system
in this material culture is that the ancient buildings are very valuable in terms of
history and architecture. 10 ancient houses are at Dong Hoa Hiep made of beam
houses with wood structure; furnished house with many old appliances as: altar, tea
chests, couches (flat board), tables, chairs, sofa, distiches, outhouses …All are
decorated, elaborately carved, sharp. Some ancient buildings were influenced by
French villa architecture, but inside decorated in the style of traditional orient, simple
but very delicate ...
+ Intangible Culture in Dong Hoa Hiep village is quite diverse and rich, this
trait is expressed through belief systems, rituals, religions, festivals, traditional crafts,
folklore. The people of this region remain simple lifestyle, gentle , mutual care and
assistance; the traditional value system has been saved and received new progressive
culture ..
-Dong Hoa Hiep Village valve is turned sharp "old village culture" rare in the
South, it represents delta civilization ; the landscape system and ecological diversity,
openness; with development history, ancient accumulation - Dong Hoa Hiep contains
many cultural values which stands for typical Southern Plains. Therefore, it needs to
be built a system solution, supporting policies to preserve and promote the exiting
cultural heritage of Dong Hoa Hiep village.
-vi-
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN .......................................................................................... iii
EXECUTIVE SUMMARY .......................................................................................v
PHẦN DẪN LUẬN ...................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................7
5. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................7
6. Đóng góp của luận văn ........................................................................................8
7. Bố cục của luận văn .............................................................................................8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .. 10
1.1. Cơ sở lý luận ...................................................................................................10
1.1.1. Hệ thống khái niệm ..................................................................................10
1.1.1.1. Khái niệm “văn hóa”, “vùng văn hóa”, “không gian văn hóa”,“di sản
văn hóa”. .........................................................................................................10
1.1.1.2. Khái niệm “làng”, “xã” và mối “quan hệ làng –xã”. .........................14
1.1.2. Lý thuyết tiếp cận các vấn đề nghiên cứu. ...............................................16
1.2. Cơ sở thực tiễn: Tổng quan về tỉnh Tiền Giang, huyện Cái Bè và làng Đông
Hòa Hiệp ................................................................................................................22
1.2.1. Khái quát về Tỉnh Tiền Giang .................................................................22
1.2.2 Khái quát về huyện Cái Bè. .......................................................................23
1.2.3. Khái quát về làng Đông Hòa Hiệp. ..........................................................24
1.2.4. Lịch sử hình thành làng Đông Hòa Hiệp..................................................26
1.3.Tiểu kết Chương 1 ...........................................................................................29
-vii-
Chương 2: DI SẢN VĂN HÓA LÀNG ĐÔNG HÒA HIỆP, HUYỆN CÁI BÈ,
TỈNH TIỀN GIANG ...............................................................................................30
2.1.Di sản văn hóa vật thể ......................................................................................30
2.1.1. Nhà cổ.......................................................................................................30
2.1.1.1. Số lượng, thời gian xây dựng. ............................................................30
2.1.1.2. Về tổ chức không gian nhà cổ............................................................31
2.1.1.3. Đặc điểm kết cấu nhà cổ Đông Hòa Hiệp. .........................................34
2.1.1.4. Họa tiết, hoa văn trang trí. .................................................................36
2.1.1.5. Văn hóa dựng nhà của người Đông Hòa Hiệp ...................................38
2.1.1.6. Một số ngôi nhà cổ điển hình .............................................................40
2.1.2. Đình ..........................................................................................................46
2.1.2.1. Khái quát về đình ở Nam Bộ. ............................................................46
2.1.2.2. Đình ở làng Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. ..........47
2.1.3. Chùa ..........................................................................................................54
2.1.3.1. Chùa Phước Ân ..................................................................................54
2.1.3.2. Chùa Thiên Hòa .................................................................................56
2.2. Di sản văn hóa phi vật thể...............................................................................58
2.2.1. Tín ngưỡng dân gian ................................................................................58
2.2.2. Lễ hội truyền thống. .................................................................................61
2.2.3. Nghề thủ công truyền thống. ....................................................................65
2.2.4.Văn hóa dân gian (thơ, ca, hò, vè, nghệ thuật trình diễn, diễn xướng…) .....68
2.3. Mối tương quan giữa làng cổ Đường Lâm (Hà Tây –Hà Nội) và Làng Đông
Hòa Hiệp (Cái Bè – Tiền Giang) ...........................................................................73
2.4. Tiểu kết Chương 2 ..........................................................................................77
Chương 3: LÝ GIẢI HỆ GIÁ TRỊ ĐẶC TRƯNG VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN,
PHÁT HUY VĂN HÓA LÀNG ĐÔNG HÒA HIỆP, HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH
TIỀN GIANG ..........................................................................................................79
3.1. Lý giải hệ giá trị đặc trưng của làng Đông Hòa Hiệp từ góc nhìn địa – văn hóa .. 79
3.1.1.Văn hóa làng Đông Hòa Hiệp – nét đặc trưng của nền văn hóa miệt vườn ....79
-viii-
3.1.2. Sự phong phú, đa dạng của cảnh quan sinh thái làng Đông Hòa Hiệp ....81
3.1.3. Đông Hòa Hiệp có cộng đồng dân cư sinh sống lâu đời, phát triển liên tục
trong lịch sử ........................................................................................................83
3.1.4. Văn hóa ứng xử của con người làng Đông Hòa Hiệp ..............................85
3.2. Một số ý kiến kiến nghị ..................................................................................92
3.2.1. Kiến nghị về việc khoanh vùng, quy hoạch làng cổ Đông Hòa Hiệp ......92
3.2.2. Một số kiến nghị về công tác bảo tồn những giá trị đặc trưng. ................94
3.2.3. Kiến nghị về việc khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa....................98
3.3. Tiểu kết Chương 3 ........................................................................................102
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................104
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................107
PHẦN PHỤ LỤC...................................................................................................110
PHỤ LỤC I: BẢN ĐỒ TỈNH TIỀN GIANG, HUYỆN CÁI BÈ, XÃ ĐÔNG HÒA
HIỆP VÀ PHÂN VÙNG BẢO VỆ .....................................................................110
PHỤ LỤC II: KHOANH VÙNG KHU VỰC BẢO VỆ I, II ..............................113
PHỤ LỤC III: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT ..........................................................126
PHỤ LỤC IV: MỘT SỐ BẢNG SỐ LIỆU KHẢO SÁT ....................................129
PHỤ LỤC V: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU ..................................................133
PHỤ LỤC VI: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ VĂN HÓA LÀNG ĐÔNG HÒA HIỆP ..154
-ix-
-1-
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1. Thứ nhất, xuất phát từ vai trò và những giá trị vô
cùng quan trọng của làng Đông Hòa Hiệp.
Nằm bên cạnh dòng sông Cái Bè hiền hòa, cách
trung tâm thành phố Mỹ Tho 40 km về hướng Đông Bắc,
làng cổ Đông Hòa Hiệp (thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền
Giang) được các nhà nghiên cứu văn hóa đánh giá là một
trong những di sản văn hóa quý giá của vùng đất Nam Bộ.
Với đặc trưng về cảnh quan, kiến trúc, những sinh
hoạt văn hóa, ẩm thực,…Đông Hòa Hiệp xứng đáng là một
địa danh đặc biệt của tỉnh Tiền Giang nói riêng và Đồng
bằng sông Cửu Long nói chung. Có lẽ giá trị lớn nhất được
thể hiện ở hình ảnh những ngôi nhà cổ mang đậm nét kiến
trúc văn hóa nhà vườn Nam bộ với niên đại hàng trăm năm.
Cùng với những ngôi nhà cổ, miệt vườn xanh mướt, người
dân Đông Hòa Hiệp còn gìn giữ, phát huy giá trị của các
nghề thủ công truyền thống, lễ hội, tín ngưỡng, thơ ca, hò
vè…Đông Hòa Hiệp mang đầy đủ những giá trị văn hóa
tiêu biểu của những ngôi làng cổ mà nhiều người muốn tìm
về để tìm hiểu, nghiên cứu và thưởng ngoạn.
2. Thứ hai, xuất phát từ ảnh hưởng của làn sóng đô
thị hóa. Với tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh và mạnh
như hiện nay, không ít những làng quê Việt Nam đang dần
bị mai một, Đông Hòa Hiệp cũng không tránh khỏi sự ảnh
hưởng của xu hướng đó. Việc mở rộng không gian thị trấn
Cái Bè, việc xây dựng các công trình đô thị, cầu đường,
khu dân cư, xí nghiệp. Cùng với thực trạng một số người
-2-
dân còn chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của bản thân
trong việc gìn giữ và phát huy các di sản văn hóa của làng
và với sự mai một của thời gian đã khiến một số ngôi nhà
cổ bị xuống cấp, nhiều nét đẹp văn hóa đã bị lãng quên…
3. Thứ ba, tuy là điểm nhấn văn hóa khá đặc biệt
tại vùng sông nước miền Tây – Nam Bộ, song làng cổ
Đông Hòa Hiệp chưa được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng.
Những công trình nghiên cứu về làng cổ Đông Hòa Hiệp
có rất ít, hầu như đây là mảng đề tài còn bị bỏ ngỏ và chưa
có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào. Giai đoạn
trước có một số bài báo và một số sách có đề cập đến
nhưng phần trình bày rất ngắn gọn chỉ trong vài trang giấy
hoặc thiên về cảm xúc của tác giả khi được đến tham quan
làng cổ với tư cách là một khách du lịch.
4. Lý do cá nhân: Là người con sinh ra và lớn lên
tại Tiền Giang, công tác tại sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch của tỉnh nhà, chúng tôi luôn tha thiết và quyết tâm
phục vụ hết mình cho công tác nghiên cứu văn hóa. Việc
nghiên cứu, khảo sát, phát hiện, gìn giữ, bảo tồn và phát
huy giá trị các di sản văn hóa là một trong những vấn đề
cần thực hiện trọng tâm cho sự phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội của Tiền Giang hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhóm các tài liệu nghiên cứu về làng xã nói chung:
Nghiên cứu về làng xã và văn hóa làng xã Việt
Nam nói chung đã có rất nhiều công trình được công bố
trong khoảng vài chục năm qua. Có thể kể đến các giáo
trình Cơ sở văn hóa Việt Nam của các giả Trần Quốc
Vượng, Trần Ngọc Thêm, Văn hóa vùng và phân vùng
văn hóa của Ngô Đức Thịnh... Tiêu biểu cho nhóm những
-3-
công trình dạng này là các tác phẩm của 3 tác giả: Lê Văn
Quán, Đinh Khắc Thuần, Vũ Ngọc Khánh.
Tác phẩm “Nguồn văn hóa truyền thống Việt Nam”
của GS-TS Lê Văn Quán, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2006.
Tác phẩm “Tục lễ cổ truyền làng xã Việt Nam”, tác
giả Đinh Khắc Thuần, Nxb Khoa học xã hội nhân văn.
Tác phẩm “Làng cổ truyền Việt Nam”, “Nghiên cứu
văn hóa cổ truyền Việt Nam” của tác giả Vũ Ngọc Khánh
Nhóm các tài liệu nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ.
Viết về mảng đề tài văn hóa dân gian, lễ hội, phong
tục, đình, miếu ở miền Nam. Cố nhà văn Sơn Nam được
xem là một cây đại thụ với hàng loạt các công trình nghiên
cứu có giá trị như:
Các tác phẩm: “Đình, miếu và lễ hội dân gian miền
Nam”, “Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa và
văn minh miệt vườn”, “Nói về miền Nam, cá tính miền
Nam, thuần phong mỹ tục Việt Nam”, “Đồng bằng sông
Cửu Long: Nét sinh hoạt xưa”, “Tiếp cận với đồng bằng
sông Cửu Long”, “Truyền thống gia đình Nam Bộ
Tác phẩm “Một số vấn đề về văn hóa tộc người ở
Nam bộ và Đông Nam Á”, Nxb Đại học Quốc gia Hồ Chí
Minh của tác giả GS Ngô Văn Lệ.
Ngoài ra còn có một số các công trình có nội dung
gần, đáng chú ý như: “Văn hóa dân gian Nam bộ những phác
thảo”, tác giả Nguyễn Phương Thảo, Nxb Văn hóa Thông tin,
2008; “Văn hóa đồng bằng Nam bộ”, tác giả Võ Sĩ Khải, Nxb
Khoa học xã hội, 2002; “Miền Đông Nam bộ lịch sử và phát
triển”, Nguyệt san tạp chí Xưa và Nay, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh; “Phong tục dân gian Nam bộ và Phật giáo”, tác
giả Thích Đồng Bổn, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2007…
-4-
Nhóm các tài liệu nghiên cứu về vùng đất Tiền Giang.
Nghiên cứu về lịch sử Tiền Giang, Tiến sĩ Nguyễn
Phúc Nghiệp có nhiều bài nghiên cứu hay, chuyên sâu, là
tài liệu tham khảo bổ ích trong quá trình thực hiện luận
văn. Hai tác phẩm “Tiền Giang: con người và sự kiện”
(đồng tác giả), và “Những trang ghi chép về lịch sử - văn
hóa Tiền Giang”, đã giúp người đọc có một cái nhìn khát
quát nhất về vùng đất giàu truyền thống văn hóa và cách
mạng ở miền quê Nam Bộ.
Tác giả Nguyễn Ngọc Minh cũng có một số bài
nghiên cứu cụ thể về văn hóa truyền thống của tỉnh nhà,
trong số đó “Nhà cổ Cái Bè” do Sở văn hóa thể thao tỉnh
Tiền Giang xuất bản 2013, được xem là công trình nghiên
cứu trực diện về hệ thống nhà cổ ở Đông Hòa Hiệp, trong
bài nghiên cứu của mình tác giả đi sâu phân tích giá trị
nghệ thuật kiến trúc nhà ở của cư dân Cái Bè, đồng thời
cũng đề cập đến những vấn đề văn hóa làng cổ, làng nghề
truyền thống, tiềm năng phát triển du lịch của Tiền Giang
nói chung và làng cổ Đông Hòa Hiệp nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Văn hóa làng cổ Đông Hòa
Hiệp, huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang” luận văn nhằm làm
rõ những vấn đề cơ bản sau:
- Nghiên cứu những nét đặc trưng cơ bản trong hệ
thống di sản văn hóa ở làng cổ Đông Hòa Hiệp, để bước đầu
chứng minh Đông Hòa Hiệp là một làng cổ văn hóa – lịch sử
ở Tiền Giang đáp ứng đầy đủ các tiêu chí và mang giá trị đặc
trưng của di sản văn hóa vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.
- Nghiên cứu, phân tích, hình thành những kết luận
khoa học về làng cổ Đông Hòa Hiệp từ đặc điểm địa lý,
-5-
kinh tế, lịch sử hình thành đến những di sản văn hóa vật
thể và phi vật thể của làng.
- Dựa trên cơ sở lý luận về làng văn hóa, dựa vào kết
quả khảo sát di sản văn hóa làng Đông Hòa Hiệp, luận văn
sẽ đề xuất những giải pháp nhằm gìn giữ, bảo tồn và phát
huy các giá trị di sản văn hóa quý báu của nhân dân Đông
Hòa Hiệp tỉnh Tiền Giang nói riêng, của Đồng bằng sông
Cửu Long nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng:
Đề tài sẽ cố gắng tiếp cận và nghiên cứu một số
phương diện cơ bản các vấn đề văn hóa của làng Đông
Hòa Hiệp, đó là hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật
thể của làng.
 Phạm vi nghiên cứu:
- Một số phương diện văn hóa nổi bật trong quá
khứ và hiện tại ở làng Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh
Tiền Giang.
-Nghiên cứu thêm một số làng cổ như Đường Lâm
(Hà Nội), Phước Tích (Thừa Thiên Huế), Xã Tân Hòa,
huyện Long Hồ và Phường 3, 5 thuộc TP. Vĩnh Long tỉnh
Vĩnh Long để có sự so sánh điểm tương đồng, khác biệt…
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu
khoa học như: phương pháp điều tra điền dã, phân tích
khảo cứu, phương pháp diễn giải và quy nạp, phương
pháp so sánh đối chiếu, phương pháp so sánh lịch đại và
so sánh đồng đại, phương pháp phân tích - tổng hợp…trên
cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn khách
-6-
quan. Trong đó 3 phương pháp được chúng tôi sử dụng
nhiều nhất là:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành;Phương
pháp điều tra xã hội học; PP kiểm định thực chứng, điền
dã dân tộc học:
6. Đóng góp của luận văn
- Kế thừa lý thuyết làng văn hóa và di sản văn hóa, chỉ
ra các tiêu chí xác định làng văn hóa ở tỉnh Tiền Giang.
- Miêu thuật, lý giải những nét cơ bản của hệ giá trị
văn hóa làng cổ Đông Hòa Hiệp.
- Đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp có
tính khả thi, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả
trong công việc bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị văn hóa
làng trong đời sống xã hội và phát triển kinh tế xã hội hiện
nay ở Đông Hòa Hiệp.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm
tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học xã
hội và nhân văn tại địa phương và là một tài liệu tham
khảo, học tập bổ ích, đáng tin cậy.
7. Bố cục của luận văn
Đề tài ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham
khảo, phụ lục, phần nội dung chính gồm có 3 chương:
Chương 1: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề
nghiên cứu”
Chương 2: “Di sản văn hóa làng Đông Hòa Hiệp,
huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
Chương 3: “Lý giải hệ giá trị đặc trưng và vấn đề
bảo tồn, phát huy làng Đông Hòa Hiệp, huyện Cái
Bè, tỉnh Tiền Giang”.
-7-
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Hệ thống khái niệm
1.1.1.1.Khái niệm “văn hóa”, “vùng văn hóa”,
“không gian văn hóa”,“di sản văn hóa”
-Khái niệm văn hóa: Trong cuốn “Cơ sở văn
hóaViệt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm, tác giả đã đưa
khái niệm như sau: “…Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích lũy qua quá tình hoạt động thực tiễn, trong sự tương
tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội…”
Theo tác giả Trần Quốc Vượng trong cuốn “Cơ sở
văn hóa Việt Nam” cho rằng: “…Trong vô vàn cách hiểu,
cách định nghĩa về văn hóa, ta có thể tạm qui về hai loại.
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối ứng
xử...Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp văn học, học vấn,..và tùy
tường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau…”
Ông đưa ra khái niệm như sau: “…Văn hóa là tổng thể nói
chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển…”
-Khái niệm “Vùng văn hóa”: Hiện có khá nhiều
quan niệm về vùng văn hoá, trong đó quan niệm của Trần
Quốc Vượng đảm bảo được tính ngắn gọn của một định
nghĩa, thể hiện rõ quan điểm tiếp cận, đồng thời nêu bật
được đặc trưng cơ bản của một vùng văn hoá: “Một vùng
-8-
văn hóa là một tổng thể - hệ thống một không gian văn
hóa (cutural space) với một cấu trúc - hệ thống (structure-
system) bao gồm các hệ dưới - hay tiểu hệ (sub-
system) theo lối tiếp cận hệ thống (system-analysis)”.
-Khái niệm “không gian văn hóa” : Theo ý nghĩa
trừu tượng, có thể hiểu “không gian văn hoá” như một
“trường” (mượn khái niệm trường của vật lý), để chỉ một
hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa
của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp
nhận và lan toả (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hoá đó một
không gian (trường) văn hoá rộng hay hẹp khác nhau.
-Khái niệm “làng” : Theo tác giả Trần Quốc
Vượng trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam “…Làng là
một đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân
nông nghiệp. Làng là một trong ba hằng số của văn hóa
Việt Nam (Nhà – Làng – Nước). Là điểm tụ cư được tổ
chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý, cùng cội nguồn và
cùng chỗ, là hình thức công xã nông thôn với những đặc
thù riêng của mình. Những đặc thù ấy thể hiện ở chế độ
ruộng đất, chế độ công điền, chế độ tổ chức xã hội, các
điều lệ, tập tục...của làng, tín ngưỡng, phong tục tập
quán, lễ hội làng…
1.1.2. Lý thuyết tiếp cận các vấn đề nghiên cứu.
Có hai thuyết văn hóa cơ bản chi phối cách tiếp cận
của tác giả trong quá trình nghiên cứu các vấn đề khoa
học trong luận văn là: thuyết vùng văn hóa, thuyết cấu
trúc văn hóa, địa – văn hóa
-9-
1.2. Cơ sở thực tiễn: Tổng quan về tỉnh Tiền Giang,
huyện Cái Bè và làng Đông Hòa Hiệp.
1.2.1. Khái quát về Tỉnh Tiền Giang.
Tiền Giang là tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ, phía
Bắc giáp tỉnh Long An, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre và
tỉnh Vĩnh Long, lấy sông Tiền làm ranh giới tự nhiên,
phía Đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Đồng Tháp,
cách thành phố Hồ Chí Minh 70km về hướng Nam; là cửa
ngõ giao thương giữa đồng bằng sông Cửu Long với
TP.Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ; hạ tầng giao
thông phát triển, thuận lợi cho giao thông thủy–bộ, nhất là
từ khi đường cao tốc TP.Hồ Chí Minh– Trung Lương đi
vào hoạt động, đã rút ngắn đáng kể thời gian đi lại giữa
TP.Hồ Chí Minh – Tiền Giang nên có thể nói Tiền Giang
là vùng ngoại vi của TP.Hồ Chí Minh.
Tiền Giang có diện tích tự nhiên 2.508km2, dân số
năm 2013 trên 1,7 triệu người; trong đó lao động trong độ
tuổi chiếm trên 59%. Tiền Giang có 11 đơn vị hành chánh
cấp huyện; trong đó có thành phố Mỹ Tho là đô thị loại 2,
vừa là trung tâm chính trị - kinh tế -văn hóa của tỉnh, vừa
là trung tâm giao lưu kinh tế - văn hóa quan trọng và lâu
đời của đồng bằng sông Cửu Long.
1.2.2 Khái quát về huyện Cái Bè.
Huyện Cái Bè có 1 thị trấn và 24 xã. Cái Bè là
huyện nông nghiệp, nằm về phía Tây, cách trung tâm
thành phố Mỹ Tho 50 km, cách thành phố Hồ Chí Minh
113 km. Phía bắc giáp tỉnh Long An, phía nam giáp tỉnh
Vĩnh Long, phía tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía đông
-10-
giáp huyện Cai Lậy. Diện tích tự nhiên là 420,9km2, với
số dân 287.481 người.
1.2.3. Khái quát về làng Đông Hòa Hiệp.
Vị trí địa lý: Xã Đông Hòa Hiệp thuộc huyện Cái
Bè, tỉnh Tiền Giang. Tọa độ địa lý 10 độ 20 phút vĩ độ Bắc,
105 độ 60 phút kinh Đông. Phía Bắc giáp quốc lộ I, phía
Nam giáp sông Cái Bè, phía Tây giáp xã Hòa Khánh (Cái
Bè), phía Đông giáp huyện Cai Lậy. Làng Đông Hòa Hiệp
nằm phía Nam của tỉnh, cách trung tâm thành phố Mỹ Tho
tỉnh Tiền Giang 40 km theo đường chim bay. Cách trung
tâm huyện Cái Bè 1km về hướng Tây. Làng Đông Hòa Hiệp
gồm 7 ấp là: ấp An Ninh, ấp An Hòa, ấp An Hiệp, ấp An
Bình Đông, ấp An Lợi, ấp Phú Hòa, ấp An Thạnh.
Trong tiến trình lịch sử của mình, làng Đông Hòa
Hiệp đã trải qua nhiều biến cố thử thách, địa vực của làng
đã nhiều lần chia tách, đổi tên; trong 2 cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ, Đông Hòa Hiệp đã có nhiều con
em hy sinh cho sự nghiệp giải phóng, thống nhất đất nước.
Làng Đông Hòa Hiệp hiện nay là một làng nông nghiệp
thuần túy với thế mạnh là trồng cây ăn trái kết hợp với loại
hình du lịch sinh thái miệt vườn. Bên cạnh đó, làng Đông
Hòa Hiệp còn có nhiều sản phẩm thủ công nghiệp khá nổi
tiếng như bánh phồng sữa, bánh phồng mỳ, bánh cuốn,
kẹo dừa …
-11-
Chương 2
DI SẢN VĂN HÓA LÀNG ĐÔNG HÒA HIỆP,
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
2.1. Di sản văn hóa vật thể
2.1.1. Nhà cổ
2.1.1.1.Số lượng, thời gian xây dựng
Hiện tại, xã Đông Hòa Hiệp có 419 ngôi nhà nằm
trong diện quy hoạch bảo vệ, trong đó 409 ngôi nhà thuộc
khu vực bảo vệ 2, 10 ngôi thuộc khu vực bảo vệ 1. Nhà
thuộc khu vực bảo vệ 1 đều là những ngôi nhà cổ có niên
đại ít nhất là 100 năm, đây là loại nhà rường, ở làng Đông
Hòa Hiệp hiện nay còn lại không nhiều chỉ còn 10 ngôi tập
trung trong khu vực khoanh vùng thuộc 03 ấp An Lợi, An
Bình Đông và Phú Hòa.
2.1.1.2.Về tổ chức không gian nhà cổ
Khác với những ngôi nhà san sát kề nếp nhau ở làng
cổ Đường Lâm; cũng không hẳn giống kiểu nhà vườn đồng
bằng ở làng Phước Tích; nhà cổ Đông Hòa Hiệp gắn liền với
một không gian miệt vườn rộng lớn, với nhiều những hạng
mục đặc trưng vùng đồng bằng sông nước như: cổng; lối
vào; hàng rào; sân; vườn cây ăn trái; nhà chính; nhà phụ; nơi
sinh hoạt; sàn nước (cầu nước). Trung tâm của khuôn viên là
nhà chính, sân và các thành phần khác đều lấy nhà chính làm
chuẩn để định vị cho thuận lợi hợp phong thủy.
2.1.1.3. Đặc điểm kết cấu nhà cổ Đông Hòa Hiệp
Kết cấu nhà cổ Đông Hòa Hiệp gồm có: bộ khung giữ
chịu lực bên trong gọi là giàn trò (hệ thống cột, trính (trến)
-12-
xà, xiên, kèo), phần mái (đòn tay, rui, ngói liệt hay là ngói
thí), vách nhà (đố bản, bổ kho, tường bao quanh) nền, cửa …
2.1.1.4. Họa tiết, hoa văn trang trí
Trang trí là phương tiện chủ yếu để tô điểm các công trình
kiến trúc từ bên ngoài lẫn bên trong nội thất, các vật dụng
sinh hoạt và thờ tự. Trang trí bên trong ngôi nhà cổ ở làng
Đông Hòa Hiệp rất phong phú, nhiều vẻ,…Song nhìn
chung, trang trí trong một ngôi nhà ở đây thường được thể
hiện ở các bộ phận, các vị trí, các hình thức trang trí
2.1.1.6. Một số ngôi nhà cổ điển hình
 Nhà cổ ông Trần Tuấn Kiệt.
Giữa thế kỷ XIX ông Trần Châu Lễ và bà Phạm Thị
Tiền là một điền chủ giàu có ở địa phương đã bỏ ra tiền
của cất nhà cho người con trai út là Trần Văn Bính để ra ở
riêng. Năm 1999 ông Trần Văn Bính qua đời, ngôi nhà
được để lại cho người con út là Trần Văn Kiệt ở, và sau
khi hội JICA Nhật Bản trùng tu lại ngôi nhà thì đưa vào
hoạt động khai thác du lịch cho đến ngày hôm nay. Đây là
một trong những ngôi nhà có kiến trúc đẹp, toàn diện nhất
ở Đông Hòa Hiệp.
 Nhà ông Phan Văn Đức (Ba Đức).
Nhà cổ Ba Đức nằm cách thành phố Mỹ Tho 40 km
về phía Tây và cách quốc lộ I 5km về phía Nam, cách
trung tâm huyện Cái Bè 1km về phía Tây, tọa lạc trên bờ
sông Cái Bè trong khu vực dân cư xung quanh là vườn cây
ăn trái (là một trong những vườn cây ăn trái đẹp nhất vùng
rất thích hợp cho khách du lịch tham quan và thưởng thức)
thuộc ấp An Lợi, xã Đông Hòa Hiệp.