Luận văn lễ hội đua bò của người khmer ở bảy núi với phát triển du lịch tại an giang

  • 19 trang
  • file .pdf
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
____________________________
ISO 9001:2008
TRẦN ANH ĐÀO
LỄ HỘI ĐUA BÒ CỦA NGƯỜI KHMER
Ở BẢY NÚI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TẠI AN GIANG
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60310640
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ CHÍ QUẾ
TRÀ VINH, NĂM 2016
TÓM TẮT
Đề tài luận văn: “Lễ hội đua bò của người Khmer ở Bảy Núi với phát triển du lịch
tại An Giang” được thực hiện từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 7 năm 2016 tại tỉnh An Giang.
Dựa vào phương pháp nghiên cứu liên ngành như: lịch sử, dân tộc học, chủ yếu
là phương pháp nghiên cứu văn hóa học, nội dung cơ bản của luận văn này trình bày
nguồn góc và quá trình hình thành của Lễ hội đua bò của đồng bào Khmer ở bảy núi,
các hình thức sinh hoạt và hoạt động lễ hội. Trên cơ sở đó luận văn xây dựng các sản
phẩm du lịch gắn kết với sinh hoạt văn hóa hướng đến xây dựng mô hình du lịch văn
hóa đặc trưng cho tỉnh khu vực Nam bộ nói chung, tỉnh An Giang nói riêng. Quan điểm
của luận văn này cho rằng: Muốn bảo tồn văn hóa cộng đồng Khmer được tốt cần phải
tìm cách nâng cao đời sống của cộng đồng. Bởi vì khi đời sống ấm no, thì họ mới bảo
tồn văn hóa tốt. Nếu cộng đồng đói nghèo thì di sản văn hóa truyền thống ít được quan
tâm. Do đó, muốn cộng đồng Khmer bảo tồn tốt văn hóa phải gắn sinh hoạt văn hóa với
du lịch, qua hoạt động du lịch giúp họ tăng thêm thu nhập, nâng cao đời sống, từ đó họ
ý thức được việc bảo tồn văn hóa cộng đồng. Dựa trên quan điểm đó, cuối cùng luận
văn đưa ra những giải pháp và khuyến nghị nhằm bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với
phát triển du lịch, hướng cộng đồng Khmer phát triển bền vững và năng động trong quá
trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Việt Nam nói chung và tỉnh An Giang
nói riêng trong thời gian tới.
- iii -
ABSTRACT
Research: “Khmer bull racing festival in the seven moutains to tourism
development in An Giang province” is conducted from May 2015 to July 2016 in An
Giang province.
Based on multi-field research method such as : history, ethnology, mostly cultural
researching methods, the basic contents of the thesis introduce origins of the Khmer bull
racing festival in the seven moutains, as well as forms of festive activities. On these
foundations, the thesis features products combining both tourism and cultural activities,
in order to make An Giang a unique cultural tourist attraction, as well as the entire
Southern Vietnam region on the whole. To preserve the Khmer traditional culture we need
to improve the life conditions of the Khmer community. Because the better their conditons
become, the more they are concerned about preserving their culture as well as its heritages.
From these reasons, to make the Khmer people more aware of preserving their culture,
tourism has to be combined with cultural activities. They will have increased earnings and
improved conditions, thus become more aware of preserving their mass culture. Based on
these opinions, the thesis suggests some solutions and recommendations to combine
tourism development to cultural preservation. These solutions will make the Khmer
community develop more steadily and flexibly in the age of modernization and
industrialization in An Giang province and the nation on the whole.
- iv -
MỤC LỤC
Trang tựa
Quyết định giao đề tài
LỜI CAM ĐOAN ...........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
TÓM TẮT .................................................................................................................... iii
ABSTRACT ..................................................................................................................iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................... viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ..........................................................................................ix
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài........................................................................................................ 2
3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu .........................................................................................6
4.2 Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................................................. 7
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ........................................................................... 8
6.1. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................8
6.2. Nguồn tư liệu .....................................................................................................9
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn................................................................................................ 9
7.1. Về khoa học .......................................................................................................9
7.2. Về thực tiễn ......................................................................................................10
8. Hướng tiếp cận tư liệu để thực hiện đề tài ........................................................................... 10
9. Bố cục luận văn ..................................................................................................................... 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ AN GIANG .....................12
1.1 Cơ sở lí luận......................................................................................................................... 12
1.1.1. Thuật ngữ, khái niệm ....................................................................................12
-v-
1.1.1.1. Những thuật ngữ, khái niệm liên quan đến văn hóa...............................12
1.1.1.2. Những thuật ngữ, khái niệm liên quan đến du lịch ................................ 13
1.2. Khái quát về tỉnh An Giang............................................................................................... 13
1.3. Người Khmer ở An Giang ................................................................................................ 18
1.3.1. Dân số và địa bàn cư trú ...............................................................................19
1.3.2. Điều kiện kinh tế ...........................................................................................21
1.3.3. Đặc điểm văn hóa, tín ngưỡng ......................................................................23
1.3.3.1. Văn hóa vật thể .......................................................................................23
1.3.3.2. Văn hóa phi vật thể.................................................................................27
1.4. Khái quát về lễ hội ............................................................................................................. 30
1.4.1. Lễ ..................................................................................................................30
1.4.2. Hội ................................................................................................................32
1.5. Giá trị của lễ hội vào hoạt động du lịch ............................................................................ 33
1.5.1. Những mặt mạnh ..........................................................................................34
1.5.2. Những cơ hội và thách thức ..........................................................................35
CHƯƠNG 2: LỄ HỘI ĐUA BÒ CỦA NGƯỜI KHMER AN GIANG NHÌN TỪ
GÓC ĐỘ VĂN HÓA ...................................................................................................36
2.1. Yếu tố văn hóa nông nghiệp.............................................................................................. 36
2.1.1. Tục đua bò gắn với yếu tố nông nghiệp ở An Giang ....................................38
2.1.2. Nghi thức lễ ..................................................................................................39
2.1.3. Tổ chức phần hội ..........................................................................................43
2.2. Chức năng của lễ hội ......................................................................................................... 48
2.3. So sánh lễ hội đua bò với lễ hội chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng) ..................................... 52
CHƯƠNG 3: LỄ HỘI ĐUA BÒ Ở BẢY NÚI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DU LỊCH .....57
3.1. Về du lịch văn hóa ............................................................................................................. 57
3.2. Về du lịch lễ hội ................................................................................................................. 61
3.3. Thực trạng lễ hội trong phát triển du lịch ......................................................................... 66
3.3.1. Định hướng phát triển du lịch cộng đồng gắn với lễ-hội..............................68
3.3.2. Định hướng phát triển du lịch bền vững gắn với lễ-hội ...............................71
- vi -
3.4. Một số giải pháp để thực hiện trong thời gian tới: ........................................................... 73
KẾT LUẬN...................................................................................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................82
PHỤ LỤC .....................................................................................................................86
PHỤ LỤC 1: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN............................................................................... 86
PHỤ LỤC 2: CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC HỘI ĐUA BÒ BẢY NÚI ... 156
PHỤ LỤC 3: MỘT SỐ HÌNH ẢNH LỄ HỘI ĐUA BÒ CỦA NGƯỜI KHMER AN
GIANG VỚI BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH..................................................... 166
- vii -
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DLCĐ: Du lịch cộng đồng
DLBV: Du lịch bền vững
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
KHXH: Khoa học xã hội
Nxb: Nhà xuất bản
NĐKB: Người điều khiển bò
PT&TH: Phát thanh truyền hình
QL: Quốc lộ
VHDT: Văn hóa dân tộc
VHTT&DL: Văn hóa Thể thao và Du lịch
UBND: Ủy ban Nhân dân
xb: xuất bản
- viii -
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Dân số người Khmer trong cả nước, tỉnh An Giang và vùng
Bảng 1.1 20
Bảy Núi
Bảng 3.1 Hiện trạng khách du lịch đến tỉnh An Giang 66
Lượng khách du lịch đến lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam và
Bảng 3.2 67
Hội đua bò Bảy Núi
-ix-
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình cộng cư lâu dài với người Kinh (Việt), người Chăm và người
Hoa, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã sớm hình thành một nền văn hóa
phát triển, đã tạo nên bản sắc văn hóa của tộc người mình, góp phần làm nên sự đa dạng
trong một thể thống nhất của bản sắc văn hóa Việt Nam.
Người Khmer An Giang sống tập trung đông nhất ở hai huyện miền núi (Tri Tôn
và Tịnh Biên), có biên giới giáp với vương quốc Campuchia. Do đó hình thành Văn
hóa Khmer vùng núi - văn hóa núi. Văn hóa Khmer vùng núi được hình thành với những
đặc điểm khác khác vùng đồng bằng, nó bị chi phối bởi yếu tố miền núi (phương thức
canh tác, lối sống, nếp sống… khác với vùng đồng bằng - nước) và sự giao thoa văn
hóa Khmer bản địa (Campuchia) và Khmer nước đồng bằng sông Cửu Long
Đã từ lâu, người Khmer là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như
dân tộc học, văn hóa học, lịch sử… cả những học giả trong nước và các học giả nước
ngoài đều quan tâm nghiên cứu đến dân tộc này. Trong luận văn này, chúng tôi tập
trung đưa ra những tư liệu qua khảo sát trường hợp tại 02 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên,
với những lý do sau đây:
Đồng bào Khmer còn lưu giữ được nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian như múa
hát, nghệ thuật sân khấu, như sân khấu Rôbam, kịch Dukê, đua bò… tạo nên bản sắc
riêng của người Khmer. Những tác phẩm xa xưa vẫn còn được lưu giữ cho tới bây giờ,
đặc biệt là các pho sách viết trên lá thốt nốt, hoặc những tác phẩm xa xưa vừa theo
những câu chuyện có gốc rễ từ đạo Bàlamôn, đạo Phật, vừa ghi chép những ngụ ngôn,
ngạn ngữ, ca dao, hát đối, câu đố, câu nói lại có xuất từ dân gian.
Văn hóa người Khmer trong quá khứ và hiện tại có vai trò quan trọng, là một
trong những nguồn lực cho sự phát triển của bản thân tộc người cũng như của khu vực
đồng bằng sông Cửu Long. Vì lẽ đó, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của người
Khmer là một vấn đề cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay và những năm tiếp theo.
-1-
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế hội nhập ở nước
ta hiện nay, một trong những vấn đề bức xúc được đặt ra là bảo tồn, phát huy những giá
trị văn hoá truyền thống của các dân tộc. Chỉ thị số 68/CT-TW của Ban Bí thư về công
tác ở vùng đồng bào Khmer đã chỉ rõ: “Tôn trọng, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa chùa
chiền Khmer kết hợp với nội dung văn hóa mới. Ở những chùa có những điều kiện, xây
dựng chùa thành những Trung tâm văn hóa thông tin, hướng dẫn thực hiện nếp sống mới
cho đồng bào Khmer ở phum, sóc… nghiên cứu đưa một số chùa Khmer có ý nghĩa tiêu
biểu về lịch sử-văn hóa vào danh mục xếp hạng của Nhà nước”.
Về phong tục tập quán của người Khmer những lễ hội truyền thống một mảng
quan trọng, giúp chúng ta hiểu được văn hóa và phong tục tập quán của dân tộc này.
Trong tiến trình lịch sử, hình thức của những lễ hội của người Khmer có những biến
đổi do những tác động khách quan và chủ quan của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
và giao lưu văn hóa. Chính vì lẽ đó, việc bảo tồn và phát huy lễ hội càng cần thiết hơn.
Nghiên cứu về lễ hội đua bò, một mặt làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và
phát huy giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc. Mặt khác, phản văn hóa và định hướng
trong việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của người Khmer, trên cơ sở bảo
tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người, phát triển lễ hội đua bò thành sản phẩm văn
hóa du lịch của An Giang
Đề tài này không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian của
dân tộc Khmer mà còn mang ý nghĩa thiết thực hơn đối với một người làm công tác
quản lý lễ hội truyền thống ở An Giang như tôi, muốn đóng góp một phần công sức rất
nhỏ bé cho tỉnh nhà trong lĩnh vực khôi phục, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống
của người Khmer ở An Giang.
Với những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Lễ hội đua bò của người
Khmer ở Bảy Núi với phát triển du lịch tại An Giang” làm Luận văn tốt nghiệp cao học
chuyên ngành Văn hoá học.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Phần lớn những nghiên cứu Lễ hội đua bò Bảy Núi đều gắn liền với nghiên cứu
văn hóa gắn với phát triển du lịch tại An Giang, đi từ quan điểm tiếp cận dân tộc học,
-2-
nhân học, địa văn hóa, tôn giáo. Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu đi sâu
vào hiện tượng văn hóa Lễ hội đua bò Bảy Núi gắn với sự phát triển du lịch.
Lễ hội đua bò của đồng bào Khmer Nam bộ được đề cập như một nét văn hóa
mang tính chất tôn giáo, thực chất là một lễ hội nông nghiệp (phchum banh) gắn với
tục thờ cúng tổ tiên (Dolta) trước khi nó trở thành lễ xá tội vong nhân của đạo Phật
[Nguyễn Xuân Nghĩa 1987, tr.66].
Trong các nghiên cứu của mình về văn hóa tộc người thiểu số Giáo sư Ngô Văn
Lệ quan tâm đến các điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội có ảnh hưởng như thế nào
đến việc hình thành những đặc trưng văn hóa của các cộng đồng cư dân
Cũng như người Khmer Nam Bộ, người Khmer An Giang có truyền thống văn
hóa và hoạt động tinh thần phong phú và đặc sắc, đó là kho tàng văn học nghệ thuật dân
gian, phong tục tập quán và các lễ hội gắn liền với hoạt động kinh tế nông nghiệp lúa
nước và đời sống tín ngưỡng tôn giáo, mang nhiều nét tương đồng với cư dân trong khu
vực Đông Nam Á. Trong các công trình nghiên cứu về người Khmer được công bố, đề
cập tới các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội, tín ngưỡng tôn giáo nhưng không
nói đến lễ hội đua bò [Lê Hương, 1970]. Đua bò Bảy Núi được nói đến trong công trình
Địa chí An Giang [UBND tỉnh An Giang, 2007]. Theo đó, Hội đua bò vùng Bảy Núi đã
được tổ chức trước năm 1975 gắn liền với lễ Dolta, được tổ chức tự phát ở một số địa
phương. Đến năm 1992 lễ hội đua bò mới chính thức tổ chức định kỳ hàng năm tại hai
huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Như vậy, đua bò ở Bảy Núi xuất hiện trong những năm
trước giải phóng nhưng chỉ trở thành lễ hội sau giải phóng, khi mà đời sống mọi mặt
của người dân đã có những thay đổi.
Giáo sư Ngô Văn Lệ trong Hội thảo khoa học về Lễ hội đua bò Bảy Núi, An
Giang, chỉ ra một khía cạnh nghiên cứu lễ hội nhìn từ tri thức bản địa. Theo ông, người
Khmer cư trú ở hầu hết các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, tập trung tại các tỉnh
Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang. Nhưng tại sao lễ hội đua bò lại chỉ xuất
hiện ở vùng Bảy Núi? Sở dĩ vùng Bảy Núi là nơi khởi đầu của lễ hội đua bò là vì vùng
này có điều kiện để phát triển chăn nuôi (chủ yếu là nuôi bò). Chăn nuôi không phải là
hoạt động kinh tế chính, mà là nhằm đáp ứng nhu cầu sức kéo hàng ngày trong sản xuất
nông nghiệp và cung cấp thực phẩm cho cộng đồng. Ngày lễ Dolta là lễ cúng ông bà, là
-3-
một trong những ngày lễ trọng của người Khmer. Lễ Dolta lại trùng vào dịp xuống giống
vụ lúa ruộng (khoảng cuối tháng 8 đầu tháng 9 âm lịch). Những người nông dân-những
tín đồ trong các phum sroc nhân dịp này bừa giúp ruộng nhà chùa. Công việc này cùng
với các công việc khác được thực hiện trong chùa gọi là làm công quả. Khi bừa ruộng
chùa, ai cũng có trách nhiệm làm hết sức mình, đã xuất hiện sự cạnh tranh giữa những
người nông dân với nhau. Để khuyến khích động viên mọi người nhà chùa thường có
phần thưởng cho những ai làm nhanh nhất, tốt nhất. Mà muốn làm tốt công việc của
mình, người nông dân ngoài việc có sức khỏe tốt, đòi hỏi đôi bò kéo bừa phải khỏe, mới
mong hoàn thành được công việc tốt. Sự tích lũy kinh nghiệm (tích lũy tri thức) trong
lựa chọn giống tốt và kỹ năng chăm sóc đàn bò có chất lượng, không chỉ phục vụ sản
xuất mà còn phục vụ cho các cuộc đua bò hàng năm, sẽ là động lực cho những người
chăn nuôi.
Khác với các môn thể thao thường thấy như đua ngựa, đua bò là hoạt động gắn
liền vời cư dân nông nghiệp nên chi phí cho loại hình hoạt động này là có hạn. Cũng vì
thế thời gian tổ chức phải gắn liền với lễ hội của cộng đồng. Đua bò khác với đua ngựa
hay đua lạc đà. Do ngựa và lạc đà được nuôi ở vùng đồng cỏ hay sa mạc nên trường đua
đòi hỏi phải đất khô có độ cứng nhất định. Còn bò là động vật được nuôi để phục vụ nền
nông nghiệp lúa nước nên trường đua phải có nước xâm xấp, không quá lầy để bò dễ di
chuyển. Điều kiện đề có một trường đua như vậy sẽ hạn chế những địa phương khác
không có cấu tạo thổ nhưỡng tương tự. Có lẽ vì vậy, mà lễ hội đua bò chỉ xảy ra ở vùng
Bảy Núi. Trong điều kiện cụ thể của vùng Bảy Núi, người nông dân đã tích lũy tri thức
của mình trong chăn nuôi và trong việc khai thác đất để làm trường đua. Rõ ràng không
hiểu biết điều kiện tự nhiên nơi các cộng đồng cư dân sinh sống thì không thể chăn nuôi
gia súc có chất lượng và cũng không khai thác đất sản xuất để làm trường đua. Tri thức
bản địa chỉ có thể tích lũy trong điều kiện cụ thể của một địa phương, không thể có tri
thức bản địa cho các cộng đồng cư dân Khmer, khi họ sinh sống trong điều kiện môi
trường tự nhiên khác nhau. Người Khmer Nam bộ sinh sống ở các vùng sinh thái khác
nhau nên có những khác biệt về tập quán văn hóa.
Như vậy có thể thấy thức tri thức bản địa (tri thức dân gian hay tri thức địa phương)
là những kiến thức mà con ngưới tích lũy trong một không gian (địa bàn) cụ thể như ở Bảy
-4-
Núi, nơi có điều kiện cho chăn nuôi bò phát triển. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều cư dân
trong vùng Đông Nam Á, trong hoạt động kinh tế, chăn nuôi không đóng vai trò quan trọng
trong đời sống của cư dân. Bù lại, trải qua quá trình lâu dài trong hoạt động kinh tế của
mình, người dân đã tích lũy được lượng tri thức giúp hướng tới khai thác các sản phẩm chăn
nuôi phục vụ cho sinh hoạt văn hóa của mình. Lễ hội đua bò Bảy Núi ra đời trong bối cảnh
đó. [53].
Từ nhận định của mình, ông đã chỉ ra nguồn gốc của Lễ hội đua bò Bảy Núi riêng
có ở An Giang và sự gắn kết của nó với Lễ Dolta của người Khmer.
Nhiều bài viết nghiên cứu của các tác giả khác như Đinh Thị Dung “Lễ hội đua
bò: Bản sắc vùng nhìn từ góc độ văn hóa du lịch” – xem xét hoạt động đua bò như một
nét đẹp mang đặc trưng bản sắc văn hóa vùng cần được quảng bá để phát huy giá trị của
nó. Tác giả Huỳnh Quốc Thắng thì nhấn mạnh việc cần thiết xây dựng Hội đua bò An
Giang thành loại hình trọng điểm du lịch vùng Tây Nam bộ. [Hội thảo khoa học “Lễ hội
đua bò Bảy Núi, An Giang 2012 [53, tr. 250-265].
Các ý kiến của các nhà nghiên cứu nêu trên về văn hóa dân tộc thiểu số và đặc
biệt về Lễ Sen Dolta và Lễ hội đua bò Bảy Núi của người ở An Giang là những đóng
góp quan trọng làm nền tảng cho những luận cứ nghiên cứu của đề tài.
Tuy nhiên, những nhận định đó đi vào từng khía cạnh theo từng hướng tiếp cận
riêng. Lễ hội đua bò được đề cập thực chất chỉ là Hội đua bò nằm trong chuỗi hoạt động
của Lễ Sen Dolta truyền thống, không phải là một lễ hội riêng lẻ. Do vậy, cũng không
thể nói Lễ hội Sen Dolta vì thực chất nó thiên về nghi lễ và cũng không thể nói Lễ hội
đua bò Bảy Núi vì nó cũng không thể tách ra khỏi Lễ Sen Dolta.
Vì vậy tác giả đề xuất tên đề tài là “Lễ Hội đua bò cuả người Khmer ở Bảy Núi
với phát triển du lịch tại An Giang”. Chính sự gắn kết này và những nét độc đáo riêng
của Hội đua bò đòi hỏi cần có một nghiên cứu hệ thống từ bản chất của hiện tượng văn
hóa Hội đua bò Bảy Núi để có cái nhìn sâu sắc về giá trị văn hóa của nó, liên quan đến
việc định hướng bảo tồn và phát huy giá trị lễ-hội từ nhiều góc nhìn của văn hóa học.
Năm 2014 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang phối hợp với Phân
viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh xây dựng hồ
sơ trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ngày 19/01/2016 đã được Bộ Văn hóa, Thể
-5-
thao và Du lịch ban hành Quyết định 246/QĐ-BVHTTDL công bố trong danh mục di
sản văn hóa phi vật thể quốc gia ( trong đó có Hội đua bò ở Bảy Núi tỉnh An Giang)
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu văn hóa của người Khmer ở An Giang qua phong tục cổ truyền. Từ đó
nhân rộng ra để phát triển du lịch, từ Hội đua bò Bảy Núi để thấy những đặc trưng văn hóa
của tộc người Khmer trên địa bàn và xác định giá trị văn hóa cốt lõi của hiện tượng lễ-hội
và của chủ thể tộc người Khmer để có quan điểm đúng với bản chất hiện tượng, trong chủ
trương phát triển văn hóa du lịch của địa phương từ việc xây dựng những sản phẩm du lịch
mang đặc trưng của văn hóa dân tộc, mang tính khác biệt từ lợi thế văn hóa.
Qua đề tài nghiên cứu này tôi muốn đóng góp một phần cho phát triển du lịch
tỉnh nhà phát triển gắn với sự bảo tồn Lễ hội đua bò Bảy Núi của người dân tộc Khmer.
Tìm hiểu phong tục tập quán, hiểu được đời sống vật chất và tinh thần của người
Khmer qua lễ hội đua bò ở Bảy Núi.
Để thực hiện đề tài, chúng tôi chọn cách tiếp cận các lễ hội liên quan đến cách
chăm sóc và sự thiêng của lễ hội bằng cái nhìn khái quát những đặc điểm nổi bật về
phương diện văn hóa tín ngưỡng. Theo hướng nghiên cứu này sẽ tạo ra được một cái
nhìn khá đầy đủ về đặc điểm của lễ hội, trên cơ sở đó có thể đối chiếu, so sánh, rút ra
được những điểm giống và khác biệt giữa lễ hội đua bò với lễ hội chọi trâu... Đồng thời
cũng qua đó làm rõ hơn nếp sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, của người Khmer ở
02 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, An Giang đã ít nhiều được phản ánh trong lễ hội.
- Qua đề tài nghiên cứu này chúng tôi muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình
vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Khmer
- Đề xuất, khuyến nghị những giải pháp để có điều kiện nghiên cứu, bảo tồn và
phát huy thành sản phẩm văn hóa du lịch tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở 02
huyện miền núi của tỉnh An Giang.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Lễ hội đua bò của người Khmer ở Bảy Núi
với phát triển du lịch tỉnh An Giang là một hội lễ - được nhận thức với ý nghĩa là đối
-6-
tượng nghiên cứu của luận văn - là một chỉnh thể bao gồm ý nghĩa của lễ cúng ông bà
nói chung, hệ thống các nghi thức với những ý nghĩa cụ thể được thực hiện theo một trật
tự nhất định, các hoạt động vui chơi và người tham dự với các vai trò và vị trí khác nhau.
Đối tượng nghiên cứu này cũng được tiếp cận dưới sự tác động của các yếu tố kinh tế,
xã hội đang diễn ra ở ĐBSCL cũng như ở An Giang.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là khảo sát và phân tích những biến đổi trong
việc tổ chức Lễ hội đua bò Bảy Núi của người Khơme ở tỉnh An Giang, diễn ra ở hai
huyện miền núi là Tri Tôn và Tịnh Biên, nơi tập trung đông người Khơme của tỉnh.
Luận văn sẽ làm rõ về ý nghĩa của Lễ Dolta nói chung, của các nghi thức trong lễ có sự
kết hợp của tín ngưỡng dân gian Khơme và Phật giáo Nam Tông, các hoạt động chuẩn
bị và diễn trình diễn ra Lễ Dolta và Hội đua bò (ở cấp độ hộ gia đình, cấp trung gian
‘‘wện” và cấp cộng đồng phumsóc), trong đó có vai trò điều hành của các vị Sãi cả, của
các Ban Quản trị chùa, của các nghệ nhân, của người tham gia đua bò và của đông đảo
người tham dự... Bên cạnh đó, để tìm hiểu nguyên nhân của những biến đổi trong Lễ
Dolta và hoạt động vui chơi trong Hội đua bò, luận văn cũng chú ý đến việc tìm hiểu
các yếu tố tác động đến lễ hội này. Nhất là sau khi Lễ Dolta và Hội đua bò Bảy Núi được
nâng thành lễ hội cấp tỉnh – và việc đưa Hội đua bò Bảy Núi thành sản phẩm du lịch.
Phạm vi thời gian được xác định là vào thời điểm hiện tại, cụ thể là những năm 2013-
2014 có chú ý so sánh sự biến đổi trong khoảng mười năm qua.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đối tượng: Luận văn đi sâu nghiên cứu về văn hóa của người Khmer tỉnh An
Giang qua Lễ hội đua bò Bảy Núi truyền thống để phát triển du lịch.
- Phạm vi nghiên cứu sẽ giới hạn trong khảo sát Lễ hội đua bò Bảy Núi của người
Khmer ở tỉnh An Giang, tập trung điền dã ở 02 huyện miền núi (Tri Tôn và Tịnh Biên)
nơi tập trung đông nhất người Khmer của tỉnh và là nơi diễn ra Lễ Sen Dolta gắn với
Hội đua bò hàng năm.
Có khảo sát thêm Lễ Sen Dolta ở các địa phương khác trong khu vực Nam bộ, để
thấy sự tương đồng và khác biệt ở An Giang.
-7-