Luận văn lễ bỏ mả của người ragiai (trường hợp nghiên cứu tại xã phước chiến, huyện thuận bắc, tỉnh ninh thuận)

  • 16 trang
  • file .pdf
MỤC LỤC
Lời cam đoan ..................................................................................................................... i
Lời cảm ơn........................................................................................................................ ii
PHẦN MỞ ĐẦU ..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................6
4. Đối tượng nghiên cứu ...............................................................................................6
5. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................6
6. Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................................7
7. Bố cục của luận văn..................................................................................................7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI RAGLAI ...........8
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ................................................................................................8
1.1.1. Một số khái niệm về lễ hội .............................................................................8
1.1.2. Quan niệm về lễ bỏ mả ................................................................................ 12
1.1.3. Đặc trưng của lễ bỏ mả ................................................................................ 13
1.2. KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI RAGLAI .................................................... 18
1.2.1. Thành phần dân tộc, dân số và địa bàn cư trú............................................. 18
1.2.2. Khái quát về văn hóa truyền thống ............................................................. 20
1.2.3. Văn hóa tín ngưỡng của người Raglai ....................................................... 21
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH LỄ BỎ MẢ CỦA NGƯỜI RAGLAI Ở XÃ PHƯỚC
CHIẾN, HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN .................................... 31
2.1. LỄ CHÔN .......................................................................................................... 31
2.1.1. Những lễ thức khi có người chết ................................................................. 31
2.1.2. Nhà mồ......................................................................................................... 34
2.1.3. Kagor nhà mồ .............................................................................................. 36
2.2. DIỄN TRÌNH LỄ BỎ MẢ ............................................................................... 37
2.2.1. Ngày thứ nhất .............................................................................................. 40
2.2.2. Ngày thứ hai (ngày lễ chính) ....................................................................... 42
2.2.3. Ngày thứ ba .................................................................................................. 44
CHƯƠNG 3: SỰ BIẾN ĐỔI TRONG LỄ BỎ MẢ CỦA NGƯỜI RAGLAI .............. 49
iii
3.1. NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG LỄ BỎ MẢ CỦA NGƯỜI RAGLAI .... 49
3.1.1. Giá trị văn hóa tâm linh ............................................................................... 49
3.1.2. Giá trị nhân văn, đạo đức ............................................................................ 50
3.1.3. Giá trị văn hóa nghệ thuật ........................................................................... 50
3.2. NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG LỄ BỎ MẢ .................................................... 51
3.2.1. Chính sách phát triển kinh tế- xã hội .......................................................... 53
3.2.2. Không gian sống bị phá vỡ.......................................................................... 53
3.2.3. Kinh tế thị trường và sự thay đổi phương thức sản xuất. ........................... 54
3.2.4. Biến đổi cấu trúc xã hội truyền thống ......................................................... 56
3.3. SO SÁNH VỚI MỘT SỐ TỘC NGƯỜI QUA NGHI LỄ BỎ MẢ.................. 56
3.4. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ............................................................................ 60
3.5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ...................................................................................... 63
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 688
PHỤ LỤC
iv
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lễ hội là một trong những di sản văn hóa với những giá trị truyền thống mang
tính tâm linh, Lễ hội đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của
cộng đồng các tộc người. Ở Việt Nam hiện nay có 54 tộc người, mỗi tộc người có
những nét văn hóa đặc trưng riêng, điều đó làm nên sự phong phú, đa dạng trong đời
sống văn hóa cộng đồng các tộc người ở Việt Nam. Trong số đó, chúng ta không thể
không nhắc đến văn hóa của tộc người Raglai.
Raglai là tộc người nằm trong nhóm ngôn ngữ Nam đảo (Malayo –
Polynedien), ở Việt Nam với dân số 122.245 nghìn người, trong đó: Ninh Thuận có số
dân 58.911 người, riêng huyện Thuận Bắc 39.649 nghìn người và xã Phước Chiến
4.869 người. Tộc người Raglai đứng thứ 19 trong 54 dân tộc ở Việt Nam. Là một dân
tộc sinh sống lâu đời ở vùng cực Nam Trung Bộ, chủ yếu ở phía Tây tỉnh Khánh Hòa,
tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng và đông nhất ở một số xã thuộc các huyện miền núi thuộc
tỉnh Ninh Thuận. Như bao tộc người khác, người Raglai có nền văn hóa truyền thống
đậm đà bản sắc dân tộc, mang tính bản địa đặc trưng của cư dân nông nghiệp lúa nước,
điều đó văn hóa tộc người Raglai đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền
văn hóa Việt Nam.
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử và thay đổi về địa bàn cư trú, quá trình
giao lưu với các tộc người khác, người Raglai đã hình thành nên một nền văn hóa
truyền thống mang sắc thái riêng biệt: Đó là một nền văn hóa vừa mang nét văn hóa
của vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, vừa có nét văn hóa của cư dân vùng biển cực
Nam Trung Bộ. Chính điều này đã góp phần tạo nên bức tranh đa sắc của văn hóa
Ninh Thuận nói riêng và văn hóa vùng cực Nam Trung Bộ nói chung.
Lịch sử, văn hóa của tộc người Raglai chịu ảnh hưởng khá nhiều từ văn hóa của
các dân tộc cận cư, cộng cư như: Chăm, Gia Rai, Ê Đê... Nhưng bản sắc văn hóa
Raglai mang nhiều sắc thái riêng, độc đáo và đa dạng của văn hóa tộc người và văn
hóa vùng. Hiện nay người Raglai vẫn lưu giữ được một nền văn hóa truyền thống với
những lễ hội đặc sắc như: Lễ tạ ơn, lễ ăn đầu lúa mới… đặc biệt là lễ bỏ mả được xem
là lễ đặc trưng nhất của tộc người Raglai.
1
Trong văn hóa truyền thống của người Raglai, lễ bỏ mả là một trong những
hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống tiêu biểu nhất, có nhiều nét đặc trưng nhất.
Bởi lễ, chứa đựng hầu hết các thành tố văn hóa dân gian của người Raglai, từ phong
tục tập quán, tín ngưỡng, văn hóa dân gian, âm nhạc dân gian, nghệ thuật tạo hình dân
gian. Mặt khác, lễ cũng thể hiện các quan niệm tâm linh của người Raglai về sự sống
và cái chết về linh hồn.... Có thể nói, lễ bỏ mả là một trong hình thức sinh hoạt văn
hóa hàm chứa nhiều giá trị truyền thống, góp phần hình thành bản sắc của riêng biệt
của tộc người Raglai này.
Cũng như nhiều dân tộc khác, sự biến đổi về văn hóa là điều không thể tránh
khỏi; đặc biệt trong những năm gần đây cùng với các chính sách của Đảng và Nhà
nước về phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa; sự giao lưu, tiếp biến với nhiều nền văn
hóa đã làm cho văn hóa Raglai có nhiều biến đổi, nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa
tộc của người Raglai là điều khó tránh, nếu không có biện pháp khắc phục, bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của Raglai hiện nay.
Bên cạnh đó có những phương diện đánh giá, nhận xét và so sánh sự giao lưu
tiếp biến về quan niệm, nét đặc trưng của người Raglai với một số dân tộc khác Ê Đê,
Gia Rai, Chăm, Ba Na...
Do vậy, nghiên cứu văn hóa dân gian của người Raglai ở xã Phước Chiến,
huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận, qua trường hợp lễ bỏ mả, vừa để tìm hiểu những
giá trị trong văn hóa truyền thống của người Raglai, vừa góp phần bảo tồn và phát
huy những giá trị văn hóa ấy.
Là người công tác trong ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có điều kiện tiếp
xúc với văn hóa của tộc người Raglai và với những nhận thức của mình, tôi chọn Đề
tài: “Lễ bỏ mả của người Raglai (Trường hợp nghiên cứu tại xã Phước Chiến huyện
Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận)” để làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Raglai là một trong những tộc người tồn tại lâu nhất ở vùng đất Ninh Thuận, là
một trong năm tộc người trong nhóm tộc người có cùng ngữ hệ Nam Đảo (Raglai, Gia
Rai, Ê Đê, Chăm và Chu Ru), cư trú ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở
tỉnh Ninh Thuận, người Raglai cư trú chủ yếu ở phía Tây huyện Thuận Bắc, huyện
Bác Ái và một số ở huyện Ninh Sơn và huyện Thuận Nam. Người Raglai có những
kho tàng văn hóa đồ sộ và phong phú, là đối tượng hấp dẫn của các nhà nghiên cứu
2
trong và ngoài nước. Vì vậy, văn hóa Raglai ngày càng được nhà nước tạo điều kiện
trong việc tìm hiểu và nghiên cứu. Trong thời gian qua các tộc người Chăm, Chu ru...
đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhưng vẫn còn qúa ít công trình nghiên cứu về
tộc người Raglai này. Những bài viết về Raglai được các nhà nghiên cứu khoa học đề
cập và giới thiệu đến bạn đọc, họ chỉ giới thiệu khái quát một phần nào đó về văn hóa
Raglai như: Văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, tang ma, lễ hội, dòng tộc.... Nhìn
chung các bài viết chỉ sơ lược về các vấn đề của tộc người Raglai, không đi sâu vào
nghiên cứu một đề tài nhất định, điển hình như:
Lê Khắc Cường, Phan Văn Dốp, Nguyễn Văn Huệ, Phan Xuân Viện, Truyện cổ
Raglai, Tập I, Nxb Khoa học Xã hội, 1990. Công trình bao gồm truyện thần thánh và
truyện cổ tích, các truyện tập trung vào lý giải các hiện tượng trong tự nhiên như sự
hình thành của trời đất, biển mặn, cây lúa… đến lý giải các mối quan hệ trong xã hội
đặc biệt miêu tả về sự xuất hiện con người qua câu chuyện Kay Misiq và Muqpila
(Nguồn gốc loài người).
Nguyễn Tuấn Triết, Người Raglai ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội năm
1991. Tác giả đã khái quát được những đặc điểm môi sinh và sự hình thành vùng cư
trú cũng như vấn đề nguồn gốc lịch sử của tộc người; những đặc điểm kinh tế - xã
hội và văn hóa truyền thống; những biến đổi của xã hội tộc người Raglai qua các
thời kỳ. Đây là chuyên luận đầu tiên giới thiệu tương đối đầy đủ về văn hóa, xã hội
của người Raglai ở Việt Nam.
Phan Xuân Biên (chủ biên), Phan An, Phan Văn Dốp, Võ Công Nguyên,
Nguyễn Văn Huệ, Văn hóa xã hội người Raglai ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội,
1998. Công trình đã phác thảo bức tranh toàn cảnh về đời sống văn hóa và xã hội của
người Raglai trong tiến trình phát triển qua các thời kỳ lịch sử.
Hải Liên, Trang phục cổ truyền Raglai, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001. Trong đó, tác giả dành toàn bộ cho việc nghiên
cứu, so sánh các hóa văn, họa tiết, màu trang trí trên những bộ trang phục cổ của nam
và nữ tộc người Raglai trong sinh hoạt ngày thường và trong ngày lễ hội. Ngoài ra, tác
giả Hải Liên còn có 05 công trình nghiên cứu văn hóa Raglai do Viện Văn hóa dân
gian và Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Ninh Thuận tài trợ như: Lễ bỏ mả và lễ ăn đầu
lúa mới dài 178 trang; trong đó, tác giả đi sâu phân tích, tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng
thuyền Kagor trên nóc nhà mồ của tộc người Raglai. Công trình lễ tang của tộc người
3
Raglai ở cực Nam Trung bộ, dành nhiều trang phân tích, mô tả, so sánh lễ bỏ mả
nhánh Raglai Bắc và Raglai Nam.
Phan Đăng Nhật (chủ biên), Luật tục Chăm và Luật tục Raglai, Nxb Văn hóa
dân tộc, Hà Nội, năm 2003. Công trình không chỉ sưu tầm, hệ thống và biên dịch các
điều luật tục cổ truyền, mà còn cùng với các cấp chính quyền địa phương nghiên cứu,
kế thừa luật tục truyền thống xây dựng các quy ước buôn làng mới, coi đó như là sự
thể nghiệm việc ứng dụng luật tục trong việc quản lý cộng đồng.
Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á (2003), Những vấn đề văn hóa
và ngôn ngữ Raglai, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh gồm 16 bài tham
luận của các tác giả Việt Nam và nước ngoài trong hai cuộc hội thảo khoa học về văn
hóa và ngôn ngữ của người Raglai, giới thiệu chung về người Raglai ở Việt Nam và
bốn mảng đề tài chính là “Tổ chức dòng họ luật tục, nghi lễ và ngôn ngữ Raglai”. Đối
với chúng tôi, đáng chú ý là tham luận của tác giả người Pháp Charles Macdonald với
đề tài "Một buổi cúng của người Raglai" dài 40 trang, trong đó, tác giả giới thiệu các
nghi lễ cầu cúng của người Raglai rất da dạng, được sử dụng như một phương tiện cần
thiết trong lễ nghi, tín ngưỡng của tộc người Raglai. Đây là những gợi ý giúp chúng tôi
tiếp cận trong lễ bỏ mả của tộc người Raglai này.
Viện Khoa học Xã Hội Việt Nam (2004), Kho tàng sử thi Tây Nguyên – Sử thi
Akhàt Jucar Ra-glai UDAI-UJàC (2 tập), Nxb Khoa học Xã hội. Công trình này đã
phản ánh những nội dung lịch sử và xã hội liên quan nhiều đến người Chăm, quốc gia
Chămpa và xa hơn là với ấn Độ.
Phan Quốc Anh, Văn hóa Raglai những gì còn lại, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2007.
Tác giả cho rằng, mục đích của lễ bỏ mả là giải thoát linh hồn người đã chết, để có
cơm ăn nước uống, áo mặc trên đường về với ông, bà, tổ tiên ở thế giới bên kia, thể
hiện tấm lòng của người sống làm tròn nghĩa vụ đối với người chết. Đây là những tư
liệu quý giá giúp tôi có cơ sở thực hiện tốt đề tài luận văn này.
Phan Quốc Anh, Nghi Lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận, Nxb
Văn hóa dân tộc, năm 2008. Công trình đề cập đời sống tâm linh, niềm tin tín ngưỡng
thể hiện qua hệ thống nghi lễ, trong đó, nghi lễ vòng đời người Chăm, thông qua
những nghi lễ của các giai đoạn chuyển tiếp trong cuộc đời một con người, sự gắn kết
giữa cá nhân với cộng đồng.
Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm Ninh Thuận, Lễ nghi nông nghiệp truyền
thống của tộc người Chăm và Raglai tỉnh Ninh Thuận, Nxb Nông nghiệp, năm 2010.
4
Công trình đề cập đến các lễ nghi nông nghiệp và các tư liệu sản xuất truyền thống
bằng hình vẽ và hệ thống thủy lợi của tộc người Chăm và Raglai tại địa bàn tỉnh Ninh
Thuận.
Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã tiếp cận được những bài viết về
nghi lễ, tín ngưỡng của tộc người trên thông báo khoa học của Viện Văn hóa - Thông
tin; tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật (9/2001). Trong đó tác giả Trần Quân đã miêu tả
thuyền Kagor trong nghi lễ bỏ mả của tộc người Raglai và các nghi lễ bỏ mả khác của
tộc người ở vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, đây là tài liệu tham khảo có giá trị.
Gần đây, các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng đã có những nghiên cứu về tộc
người Raglai trong mối quan hệ với các tộc người thuộc ngữ hệ Mã lai - Đa Đảo như
các đợt khảo sát của tiến sĩ Charles Macdonal (người Pháp) với tập "Từ vựng Raglai -
Pháp". Giáo sư, Tiến sĩ Toh Goda (người Nhật) với bài "Đường đến Raglai" đăng trên
tạp chí của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh;
những đề tài luận văn thạc sĩ nghiên cứu về văn hóa tộc người Raglai như: Dương Thị
Hải Yến với đề tài "Tang ma của người Raglai", Văn Thị Thanh Nhàn "Quan hệ giới
với gia đình mẫu hệ của người Raglai" năm 2005, Nguyễn Thị Thu Hương "Văn hóa
quản lý xã hội ở cộng đồng người Raglai ở huyện Bác Ái - Ninh Thuận”, Lê Như Hoa,
"Thuyền và thuyền Kagor trong văn hóa Raglai”, Trần Kiêm Hoàng,"Yếu tố biển
trong văn hóa Raglai”.
Tác giả Nguyễn Quang Lê có cuốn sách Văn hóa ẩm thực trong lễ hội truyền
thống Việt Nam, trong đó có bài viết về “Lễ hội bỏ mả theo phong tục của người
Raglai ở vùng núi Ninh Thuận”, là tài liệu tham khảo khá bổ ích đối với tôi khi viết
luận văn.
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết về tín ngưỡng, nghi lễ, lễ hội, tập tục, trang
phục.... của tộc người Raglai hoặc nói về người Raglai nhưng chỉ để so sánh khi
nghiên cứu về tộc người Chăm, Ê Đê, Chu Ru, Gia Rai… được đăng trên các tạp chí,
kỷ yếu, trên Internet của các nhà nghiên cứu, các học giả, các nhà báo...
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về tộc người Raglai chưa nhiều, mới
chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu khái quát các lĩnh vực chung, chưa có những công
trình chuyên sâu, kiểm kê, kiểm chứng và chứng minh kho tàng văn hóa tộc người
Raglai, để từ đó hoạch định kế hoạch nghiên cứu, bảo tồn, phát huy và làm giàu văn
hóa truyền thống của tộc người này. Qua xem xét lịch sử vấn đề nghiên cứu cho thấy,
5
đề tài “Lễ bỏ mả của người Raglai (nghiên cứu trường hợp ở xã Phước Chiến, huyện
Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận) là đề tài mới, không trùng hợp với bất cứ đề tài nào đã
có trước đó.
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc thành quả của các thế hệ trước, kết hợp
với sự nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát của bản thân trong quá trình học tập và công tác,
tôi quyết định tìm hiểu về lễ bỏ mả của người Raglai (Trường hợp nghiên cứu tại xã
Phước Chiến, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận).
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tác giả luận văn mong muốn đạt tới mục đích tìm hiểu rõ hơn về lịch sử văn
hóa của tộc người Raglai, đi sâu nghiên cứu, giải mã những hiện tượng văn hoá thể
hiện trong lễ bỏ mả. Để từ đó phát hiện, tìm hiểu quan niệm về nhân sinh quan, thế
giới quan, về sự sống, cái chết của con người trong đời sống tâm linh, thể hiện qua
phong tục tập quán, quá trình hình thành nên những nét văn hóa đặc trưng, hàm chứa
những giá trị văn hóa của người Raglai.
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về lễ bỏ mả của người Raglai ở xã
Phước Chiến, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận một cách toàn diện và hệ thống.
Qua nghiên cứu, luận văn góp phần làm rõ diện mạo, giải mã nét văn hóa truyền thống
lịch sử của người Raglai; đồng thời khắc họa rõ nét những đặc trưng về văn hóa
truyền thống và những biến đổi của nó trong đời sống văn hóa xã hội người Raglai
hiện nay. Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp tiếp tục việc bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hóa của người Raglai ở xã Phước Chiến nói riêng, tỉnh Ninh Thuận nói chung.
4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là lễ bỏ mả của người Raglai, các quan
niệm về linh hồn, về sự sống, về cái chết của người Raglai cũng như các phong tục,
tập quán, tín ngưỡng và ảnh hưởng của chúng đối với đời sống xã hội của người
Raglai.
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu về tộc người Raglai ở Ninh Thuận và một số vấn đề lý luận chung về
lễ bỏ mả;
Lễ bỏ mả của tộc người Raglai ở xã Phước Chiến, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh
Thuận;
6
Những những giá trị trong lễ bỏ mả của người Raglai và so sánh sự giao lưu
tiếp biến với một số tộc người khác.
Phạm vi không gian nghiên cứu: Xã Phước Chiến, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh
Thuận. Ngoài ra có mở rộng so sánh nghiên cứu đến một số lễ lỏ mả của tộc người
khác
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Lễ bỏ mả của người Raglai từ 10 năm trở lại
đây, có sử dụng tư liệu của thời gian trước.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài có mã ngành là Văn hóa học, sử dụng trong
luận văn này là phương pháp: Điền dã dân tộc học, khảo sát, thực địa, tham dự, phỏng
vấn, ghi âm, chụp hình để thu thập tư liệu, tổng hợp, phân tích và so sánh để đạt được
mục đích của luận văn.
Nghiên cứu trường hợp là phương pháp định tính, lấy lễ bỏ mả của người
Raglai ở xã Phước Chiến làm đại diện để đánh giá văn hóa truyền thống trong lễ tang
của người Raglai nói chung
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về người Raglai.
Chương 2: Quy trình Lễ bỏ mả của người Raglai ở xã Phước Chiến, huyện
Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.
Chương 3: Sự biến đổi trong lễ bỏ mả của người Raglai.
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI RAGLAI
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Một số khái niệm về lễ hội
Việt Nam là quốc gia đa tộc người, mỗi tộc người đều có những phong tục, tín
ngưỡng và tôn giáo khác nhau, nhưng cùng sống trong điều kiện, nền văn hóa lâu đời.
Do vậy có những nét tương đồng về tâm thức, văn hóa đã tạo nên một khối nhất thể
trong đa dạng, hết sức phong phú - đó chính là bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Trong đó, lễ hội là một yếu tố vừa mang tính đặc trưng, vừa đặc sắc trong tổng thể nền
văn hóa dân tộc.
Trong những năm qua, lễ hội được rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Do
đó, có rất nhiều quan niệm khác nhau về lễ hội:
“Lễ”
Trong tiếng Hán - Việt, Lễ chính là những khuôn mẫu của người xưa đã quy
định; các phép tắc buộc phải tôn trọng, tuân theo trong các mối quan hệ xã hội. Đó
chính là rường mối, cơ tầng, nền tảng của mọi mối quan hệ giữa người với người trong
bất kỳ một xã hội nào.
Theo quan niệm của người xưa, Lễ được coi là những phép tắc theo khuôn mẫu
đã được hình thành và củng cố theo thời gian, được quy định một cách chặt chẽ từ
“quan - hôn - tang - tế” đến đi đứng, nói năng, cư xử hàng ngày của mọi người dân.
Đây là những quy định, lễ nghi, phép tắc buộc mỗi con người phải tuân theo trong các
mối quan hệ ứng xử trong xã hội. Dưới thời phong kiến, các nhà Nho quan niệm rằng:
Lễ nghĩa thiên chi tự. Theo họ, Lễ vốn là trật tự, là chữ đã định sẵn của Trời, cần phải
có và không thể đảo ngược. Cuộc sống xã hội của con người cần có lễ để phân biệt,
giữ gìn tôn ty trật tự trong mối quan hệ đa chiều luôn diễn ra trong đời sống xã hội. Lễ
được coi là cơ sở của một xã hội có tổ chức và đã phát triển đến trình độ nào đó. Đối
với mỗi người, lễ thể hiện sự tôn kính, thái độ ứng xử của con người đối với đồng loại.
Lễ nhằm phòng ngừa những hành vi và tình cảm không chính đáng. Lễ không chỉ quy
định chi tiết về thái độ, cử chỉ bên ngoài mà còn tạo điều kiện hình thành một trạng
thái tinh thần tương ứng trong mỗi con người. Lễ cũng đồng thời trở thành phương
tiện để tự sửa mình, điều chỉnh mình cho đúng mực, hoàn thiện hơn. Những biểu hiện
của lễ bao giờ cũng tương xứng với tuổi tác, vị thế và vai trò, điều kiện của cá nhân
8
nào đó trong các mối quan hệ gia đình và xã hội của con người đó.
Trong “Từ điển hội lễ Việt Nam” của Bùi Thiết, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà
Nội (2000) thì “Lễ được hiểu là các hoạt động đã đạt đến trình độ lễ nghi”.
Tác giả Dương Văn Sáu trong cuốn “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du
lịch”, cho rằng: Nghi lễ là những ứng xử của các tầng lớp nhân dân dành cho thần,
hướng về thần trong mối quan hệ “Người - Thần” vốn luôn tồn tại trong tâm thức và
hành động của mọi người, mọi thời đại. Nghi lễ còn là hình thức, biện pháp tiến hành
trong các hoạt động xã hội của con người nhằm đối ứng và tương thích với đối tượng
thờ cúng, với vị thế xã hội, môi trường sống của những người tổ chức tiến hành hoạt
động nghi lễ.
Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh, cho rằng: Lễ là một hiện tượng tổng thể, không
phải là thực thể chia đôi (phần lễ và phần hội) một cách tách biệt như một số học giả
đã quan niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín ngưỡng nào đó
(thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một vị thần linh nghề nghiệp nào đó)
rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hóa, phái sinh để tạo nên
một tổng thể lễ hội. Cho nên trong lễ hội, phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội là
phần phái sinh tích hợp.
Như vậy, với những cách định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu rằng Lễ là những
nghi thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng để
đánh dấu, kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh, ước
nguyện về sự kiện, nhân vật đó với mong muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận
được sự giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ cúng.
“Hội”
Trong tiếng Việt, Hội là danh từ để chỉ sự tập hợp một số cá nhân vào trong một
tổ chức nào đó, tồn tại trong một không gian và thời gian cụ thể. Tác giả Bùi Thiết cho
rằng: “Hội là các hoạt động lễ nghi đã phát triển đến mức cao hơn, có các hoạt động
văn hóa truyền thống”.
Hội chỉ sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức có chung mục đích hoặc các mục
đích gần giống nhau. Hội còn được coi là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người đến dự
theo phong tục tập quán, hay phong trào, trào lưu ở một thời điểm nào đó trong quá
trình phát triển xã hội. Hội bao giờ cũng mang tính chất công cộng cả về tư cách tổ
9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Phan An (chủ biên) (1994), Những vấn đề dân tộc, tôn giáo ở miền Nam, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Đào Duy Anh (1951), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Bốn Phương, Sài Gòn.
3. Toan Ánh (1992), Tìm hiểu phong tục Việt Nam, nếp cũ, tết, lễ, hội hè, Nxb
Thanh niên, Hà Nội.
4. Toan Ánh (2000), Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam, nếp cũ, tết, lễ, hội hè, tái bản,
Nxb Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phan Quốc Anh (2010), Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận,
Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội
6. Phan Quốc Anh (2007), Văn hóa Raglai những gì còn lại, Nxb Văn hóa dân tộc,
Hà Nội.
7. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, tái bản, Nxb Đồng Tháp.
8. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, Võ Công Nguyện, Nguyễn Văn Huệ
(1998), Văn hóa và xã hội người Raglai Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội,
Thành phố Hồ Chí Minh.
9. Nguyễn Chí Bền (1999), Văn hóa dân gian Việt Nam những suy nghĩ, Nxb Văn
hóa dân tộc, Hà Nội.
10. Bộ Văn hóa Thông tin (1995), Nếp sống phong tục Tây Nguyên, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội
11. Lê Ngọc Canh (1999), Văn hóa dân gian những thành tố, Nxb Văn hóa Thông
tin, Hà Nội.
12. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội.
13. Phan Hữu Dật (1998), Một số vấn đề về dân tộc học ở Việt Nam, Nxb Đại học
quốc gia, Hà Nội.
14. Ngô Văn Doanh (1995), Lễ hội bỏ mả Bắc Tây Nguyên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà
Nội.
15. Ngô Văn Doanh, Vũ Quang Thiện (1997), Phong tục các dân tộc Đông Nam Á,
Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
69