Luận văn định hướng và giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển kinh tế trên địa bàn quận cẩm lệ thành phố đà nẵng

  • 101 trang
  • file .pdf
1
Luận văn
Định hướng và giải pháp quản lý nhà
nước nhằm phát triển kinh tế trên địa
bàn quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng
2
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quận Cẩm Lệ - thành phố Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định số
102/2005/CP ngày 05/08/2005 của Chính phủ trên cơ sở 3 xã của huyện Hòa
Vang và phường Khuê Trung - quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, để hình
thành nên 6 phường trực thuộc quận. Sự hình thành quận Cẩm Lệ là kết quả
của quá trình xây dựng và phát triển của thành phố Đà Nẵng trong nhiều năm
qua nhằm phấn đấu trở thành trung tâm kinh tế - xã hội và là động lực phát
triển của khu vực kinh tế miền Trung và Tây Nguyên trong thời kỳ CNH -
HĐH theo tinh thần Nghị quyết 33- NQ/TW của Bộ Chính trị. Đồng thời, với
sự hình thành quận Cẩm Lệ, đây là bước phát triển mới nhằm mở rộng và
phát triển không gian đô thị của thành phố về phía tây nam theo đúng quy
hoạch tổng thể phát triển KT - XH của thành phố đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt tại Quyết định số 903/1997/QĐ- TTg ngày 23/10/1997. Chính
vì vậy, việc đẩy nhanh quá trình xây dựng và phát triển quận Cẩm Lệ trong
thời kỳ CNH - HĐH giai đoạn 2006 - 2010 là một trong những giải pháp để
thực hiện mục tiêu trên.
Với đặc thù là một quận mới thành lập còn mang tính chất của một
vùng "nửa thành thị, nửa nông thôn", có vị trí địa lý ở cửa ngõ về phía tây
nam của thành phố, đang trong quá trình đô thị hóa nhanh, cơ sở vật chất còn
nhiều yếu kém, kinh tế kém phát triển, đời sống nhân dân còn thấp. Vấn đề
đặt ra cho Đảng bộ và chính quyền của quận trong giai đoạn từ nay đến năm
2010 và những năm về sau là nhanh chóng khắc phục những hạn chế, nhược
điểm, khai thác những tiềm năng và điều kiện hiện có để đẩy nhanh quá trình
xây dựng và phát triển quận trên địa bàn nhằm xây dựng quận trở thành một
địa bàn phát triển, một vùng đô thị mới hiện đại văn minh đang trở thành vấn
đề cấp thiết không những là nỗi trăn trở của Đảng bộ và nhân dân quận Cẩm
3
Lệ mà còn là nhiệm vụ nặng nề của Đảng bộ và nhân dân thành phố Đà Nẵng
trong những năm tới.
Là người trực tiếp tham gia quản lý nhà nước của quận, trước vấn đề
đặt ra như trên, tôi chọn đề tài: "Định hướng và giải pháp quản lý nhà nước
nhằm phát triển kinh tế trên địa bàn quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng "
làm luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành: Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Lĩnh vực quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước trên phạm vi
cấp quận (huyện) về kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu,
các nhà hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn. Đã có một số tạp chí
chuyên ngành, một số luận văn, luận án, có nghiên cứu xoay quanh nội dung
quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước trên các ngành, lĩnh vực cụ
thể như thương mại, dịch vụ, nông nghiệp, công nghiệp… Kể từ khi triển khai
Chương trình Nghị sự số 21 về phát triển bền vững, công tác quản lý nhà
nước về kinh tế cấp quận được chú ý hơn và được gắn với phát triển bền
vững. Tuy nhiên, hầu hết các bài báo, tạp chí tập trung khai thác một số khía
cạnh cụ thể của công tác quản lý nhà nước về kinh tế trên các lĩnh vực nhất
định. Luận văn, luận án nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước khá đồ sộ, tập
trung giải quyết hầu hết các lĩnh vực của công tác quản lý nhà nước như luận
án tiễn sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Hữu Từ (2005) với tiêu đề: "Tiếp tục đổi
mới quản lý nhà nước về tài chính ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương" hay luận án của tác giả Phạm Văn Vận với đề tài: "Một số vấn đề cơ
bản về quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với công nghiệp trên
lãnh thổ trong cơ chế thị trường (lấy tỉnh Nam Hà làm ví dụ)"; luận án tiễn sĩ
của Trịnh Quang Hảo: "Đổi mới vai trò quản lý của Nhà nước về kinh tế ở
tỉnh Ninh Bình cho phù hợp với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam"… Công
trình khá gần với đề tài phải kể đến luận án PTS Khoa học Kinh tế của tác giả
4
Trần Đình Song (1993): "Nâng cao hiệu quả việc thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về kinh tế của chính quyền cấp quận". Mặc dù đối tượng nghiên cứu
đều tập trung vào quản lý nhà nước về kinh tế trên địa bàn cấp quận nhưng
thời gian nghiên cứu của luận án từ trước 1993 do đó một số nội dung trong
công tác quản lý nhà nước đã có nhiều thay đổi, mặt khác đề tài này tác giả
nghiên cứu cấp quận nói chung, do đó những kết luận rút ra mang tính định
hướng chung và cần được xem xét khi vận dụng vào một địa bàn cụ thể với
những điều kiện đặc thù.
Tóm lại, mặc dù có nhiều công trình tập trung nghiên cứu nội dung
quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước trên địa bàn quận nhưng
chưa có công trình nào giải quyết một cách toàn diện, thấu đáo nội dung quản
lý nhà nước về kinh tế ở Cẩm Lệ - thành phố Đà Nẵng về tiềm năng, thế
mạnh riêng và những hạn chế mang tính đặc thù. Để thực hiện đề tài, tác giả
có chú trọng kế thừa một số ý tưởng trong các công trình đã công bố nhằm hệ
thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản, cũng như tìm kiếm các giải pháp cho
địa bàn nghiên cứu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ căn cứ lý luận,
phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển kinh
tế trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu
- Xây dựng căn cứ lý luận làm khung lý thuyết về vai trò quản lý nhà
nước nói chung và quản lý nhà nước về kinh tế trên địa bàn quận nói riêng.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận thuộc phạm vi nghiên cứu để làm
cơ sở, tiêu chuẩn đo lường về những vấn đề cần giải quyết của đề tài.
5
- Tổng hợp, phân tích và đánh giá về tình hình phát triển kinh tế và thực
trạng quản lý nhà nước tác động tới phát triển kinh tế trong một số năm qua
trên địa bàn nghiên cứu. Qua đó rút ra được những hạn chế cần giải quyết.
- Xác định quan điểm, định hướng, mục tiêu và giải pháp quản lý nhà
nước nhằm phát triển kinh tế của quận trong giai đoạn 2006 - 2010.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước đối với lĩnh vực
kinh tế của cấp quận. Trong đó trọng tâm là vai trò quản lý kinh tế của Nhà
nước cấp quận tác động tới sự phát triển kinh tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu những nhân tố kinh tế
chủ yếu trực tiếp chi phối sự phát triển kinh tế, nội dung chủ yếu về chức
năng, quyền hạn của quản lý nhà nước cấp quận đối với lĩnh vực kinh tế; các
nội dung khác của quản lý nhà nước cấp quận chỉ được đề cập ở mức độ nhất
định để phục vụ cho mục tiêu của đề tài.
- Phạm vi thời gian: đề tài nghiên cứu thực trạng từ năm 2005 đến nay
và đề xuất định hướng giải pháp đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 của
quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước, các nghị quyết về phát triển KT-XH của Thành phố Đà Nẵng, các lý
thuyết kinh tế hiện đại có sự lựa chọn thích hợp với điều kiện Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: Hệ thống hóa những vấn đề
chung về phát triển kinh tế, những căn cứ lý thuyết và thực tiễn phát triển
kinh tế cấp quận trong điều kiện hiện nay.
6
Phương pháp phân tích số liệu định lượng: Trên cơ sở những số liệu
thu thập được và những số liệu qua khảo sát thực tế, luận văn sử dụng phương
pháp phân tích định lượng theo nhóm vấn đề nghiên cứu nhằm phục vụ nội
dung nghiên cứu và các kết luận tổng hợp.
Phương pháp thống kê, so sánh: Sử dụng các số liệu thống kê để phân
tích, so sánh nhằm đề xuất những kết luận về định hướng và giải pháp phát
triển kinh tế trên địa bàn quận Cẩm Lệ.
Phương pháp phỏng vấn sâu, ý kiến chuyên gia: Trong quá trình thực
hiện luận văn, tác giả sẽ tham khảo ý kiến chuyên gia trên lĩnh vực nghiên
cứu, đồng thời tham khảo ý kiến của những người trực tiếp hoạch định chính
sách và chỉ đạo thực tiễn.
6. Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về lý luận
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước nhằm
phát triển kinh tế thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với cấp quận
trong giai đoạn hiện nay.
- Vai trò, vị trí của chính quyền cấp quận đối với nhiệm vụ phát triển
kinh tế thời kỳ CNH - HĐH trong điều kiện hội nhập quốc tế.
6.2. Về thực tiễn
- Trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá về tình hình của quận trong
các năm qua, nhằm làm rõ bức tranh toàn cảnh về các lĩnh vực KT - XH của
quận trong mối tương quan với các địa phương bạn trong thành phố và cả
thành phố nói chung. Điều này là rất cần thiết cho cấp uỷ Đảng và chính
quyền quận trong việc hoạch định kế hoạch phát triển KT - XH của quận
mình trong giai đoạn 5 năm tới và những năm tiếp theo.
- Góp phần xây dựng mục tiêu, định hướng phát triển của quận trong
giai đoạn 2006 - 2010. Đồng thời đề xuất các giải pháp cần tổ chức thực hiện
7
để đạt được mục tiêu phát triển của quận Cẩm Lệ thời kỳ CNH - HĐH và hội
nhập kinh tế quốc tế.
- Là tài liệu tham khảo có giá trị cho cơ quan quản lý nhà nước của
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết thành 3 chương, 7 tiết.
8
Chương 1
Những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước nhằm phát triển kinh tế cấp quận
trong giai đoạn hiện nay
1.1. Những căn cứ để xác định chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với
phát triển kinh tế cấp quận
1.1.1. Phát triển kinh tế và thước đo phát triển kinh tế
* Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng của đời sống
kinh tế - xã hội. Phát triển kinh tế bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế. Muốn phát triển các mặt của đời sống
kinh tế - xã hội, trước hết xã hội phải có thêm của cải, tức là năng lực của nền
sản xuất phải được mở rộng hay nền kinh tế phải tăng trưởng. Những nước có
nền kinh tế phát triển trước hết nền kinh tế phải tăng trưởng với tốc độ cao
trong thời gian dài. Cũng vì vậy, các nước nghèo, lạc hậu muốn tạo ra sự phát
triển kinh tế phải coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu số 1 trong chiến lược
kinh tế - xã hội của mình.
Tăng trưởng kinh tế được quan niệm là sự gia tăng về số lượng, chất
lượng hàng hóa và dịch vụ, là kết quả của tái sản xuất mở rộng theo chiều
rộng bằng cách đầu tư thêm tư liệu sản xuất, sức lao động và theo chiều sâu
bằng cách ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, nâng cao tri thức,
trình độ lành nghề, kỷ luật cho người lao động… Tăng trưởng kinh tế còn
được quan niệm là sự gia tăng của thu nhập bình quân trên đầu người.
Xét trên góc độ kinh tế, tăng trưởng kinh tế có tính hai mặt: lợi ích và
chi phí.
Tăng trưởng kinh tế có rất nhiều lợi ích, là cơ sở, là điều kiện để cải
thiện và nâng cao đời sống của dân cư. Tăng trưởng kinh tế là tiền đề quan
9
trọng bậc nhất để phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội như:
khoa học, giáo dục, y tế, thể dục thể thao… Do những lợi ích đó, tăng trưởng
kinh tế là hết sức cần thiết với tất cả các quốc gia. Với các nước nghèo, lạc hậu,
tăng trưởng kinh tế càng quan trọng vì mức thu nhập, mức sống của dân cư rất
thấp, nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội còn ở trình độ thấp, lạc hậu…
Mặt thứ hai của tăng trưởng kinh tế là chi phí. Nền kinh tế tăng trưởng
càng nhanh, nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên càng lớn và vì vậy tài
nguyên càng sớm bị cạn kiệt, môi trường càng bị tổn hại, ô nhiễm. Nền kinh
tế tăng trưởng càng nhanh, càng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như: phân
hóa giàu nghèo, sự phát triển của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội… Nền
kinh tế tăng trưởng càng nhanh, chi phí càng lớn.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế theo ngành thay đổi theo hướng tiến bộ. Theo
cách phân chia hiện đại, nền kinh tế gồm ba khu vực: khu vực I bao gồm nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và khai khoáng; khu vực II gồm có công
nghiệp và xây dựng; khu vực III là khu vực dịch vụ bao gồm các ngành như
ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, giao thông vận tải, thông tin bưu điện…
Khu vực I có hai đặc điểm: phụ thuộc nặng nề vào tự nhiên; năng suất lao
động và hiệu quả kinh tế thấp. Do đó, trong cơ cấu các ngành kinh tế, khu vực
I càng chiếm tỷ trọng lớn, khu vực II và III càng chiếm tỷ trọng nhỏ thì nền
kinh tế càng phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động và hiệu quả của nền
sản xuất xã hội càng thấp. Và ngược lại, khu vực I chiếm tỷ trọng càng nhỏ…
nền kinh tế càng ít phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động và hiệu quả của
nền sản xuất xã hội càng cao. Bởi vậy, cơ cấu kinh tế theo ngành thay đổi
theo hướng: khu vực I giảm về tỷ trọng, khu vực II và III tăng về tỷ trọng
được coi là tiến bộ và sự thay đổi đó là một nội dung của phát triển kinh tế.
Thứ ba, những tiến bộ kinh tế chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội
10
tại. Nền kinh tế tăng trưởng, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi tiến bộ chủ yếu
phải do các nguyên nhân bên trong, do các nguồn lực trong nước. Do vậy,
việc đề cao nội lực là cần thiết và đúng đắn.
Thứ tư, chất lượng cuộc sống của dân cư không ngừng được nâng cao,
người dân phải được thụ hưởng những thành quả của tăng trưởng kinh tế.
Chất lượng cuộc sống được thể hiện ở mức thu nhập; tuổi thọ; mức độ thụ
hưởng các dịch vụ văn hóa, y tế, giáo dục; cơ hội lựa chọn trong việc thoả
mãn các nhu cầu; sự đảm bảo về an ninh…
Như vậy, khái niệm phát triển kinh tế có nội dung rộng hơn khái niệm
tăng trưởng kinh tế. Nếu tăng trưởng kinh tế mới chỉ đề cập tới những thay
đổi về lượng của nền kinh tế thì phát triển kinh tế không những đề cập tới
những thay đổi về lượng, mà còn bao hàm cả những thay đổi về chất.
* Các thước đo phát triển kinh tế
Để đo lường mức độ phát triển kinh tế có rất nhiều thước đo. Có thể
chia các thước đo thành bốn nhóm cơ bản sau đây:
Nhóm 1: Các thước đo tăng trưởng kinh tế
a. Tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân
Để xác định được mức tăng trưởng của nền kinh tế, trước hết phải xác
định được quy mô của nền kinh tế.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product) là giá trị của
toàn bộ hàng hóa và dịch vụ được sản xuất và cung ứng bởi các yếu tố sản
xuất trên phạm vi một quốc gia (hay lãnh thổ) trong một năm. Đây là thước
đo quan trọng, phản ánh tương đối chính xác quy mô của các hoạt động kinh
tế của một quốc gia, một ngành, địa phương hay khu vực.
Theo các cách xác định trên đây, GDP phản ánh năng lực sản xuất, mức
thu nhập hoặc mức tiêu dùng trong phạm vi một quốc gia, một ngành, một địa
11
phương mà không kể đến quyền sở hữu năng lực sản xuất, mức thu nhập đó.
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP - Gross National Product) là toàn bộ
giá trị hàng hóa và dịch vụ do công dân của một nước sản xuất và cung ứng
bất kể là ở trong nước hay ở nước ngoài trong một năm. Như vậy, GNP phản
ánh năng lực sản xuất hoặc mức thu nhập thật sự của nhân dân một nước.
Khi sử dụng thước đo GDP và GNP chỉ đo lường được quy mô của các
hoạt động kinh tế mà không đo lường đầy đủ hiệu quả của chúng; ở các nước
đang phát triển, GDP và GNP danh nghĩa thường nhỏ hơn quy mô các hoạt
động kinh tế vì tính chất tự cung, tự cấp còn rất đậm nét và vì thế một bộ phận
sản phẩm và dịch vụ không phải là hàng hóa do đó không tính được hết vào
GDP và GNP.
b. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Đó là tỷ lệ tính theo phần trăm giữa phần tăng thêm của GDP (hoặc
GNP) so với GDP (hoặc GNP) của năm gốc so sánh. Đây là thước đo hết sức
quan trọng, trực tiếp đo lường mức độ tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế có thể tính cho quy mô của nền kinh tế hay theo bình quân đầu người.
c. Chỉ số giá cả CPI (Consumer Price Index)
Sự thay đổi của GDP và GNP có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự
thay đổi của giá cả. Muốn biết tốc độ tăng trưởng kinh tế thực tế là bao nhiêu,
người ta phải loại bỏ tác động của giá cả bằng cách lấy GDP hoặc GNP danh
nghĩa chia cho chỉ số giá cả.
d. Sức mua ngang giá PPP (Purchasing Power Parity)
Mức giá của hàng hóa và dịch vụ ở các quốc gia không giống nhau. Do
đó, để có thể so sánh chính xác hơn GDP hoặc GNP của các quốc gia, cần
phải sử dụng thước đo sức mua ngang giá PPP.
Nhóm 2: Các thước đo cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một nội dung của phát triển kinh tế. Để đo lường cơ
12
cấu kinh tế, người ta sử dụng các thước đo chủ yếu sau đây:
a. Tỷ trọng các ngành trong GDP
Đây là thước đo trực tiếp đo lường cơ cấu kinh tế. Thước đo này cho
biết mức độ phát triển của nền kinh tế. Sự phát triển của nền kinh tế thể hiện ở
chỗ: tỷ trọng của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và khai
khoáng ngày càng giảm xuống; tỷ trọng của công nghiệp, xây dựng và dịch
vụ ngày càng tăng lên.
b. Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế
Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế do cơ cấu các ngành kinh tế quy
định. Do đó, cơ cấu lao động là sự phản ánh trình độ phát triển của cơ cấu kinh tế.
c. Cơ cấu dân cư theo khu vực thành thị - nông thôn
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ cũng là quá
trình đô thị hóa. Điều đó làm cho tỷ lệ dân cư sống ở thành thị ngày càng
tăng, tỷ lệ dân cư sống ở nông thôn ngày càng giảm. Bởi vậy, cơ cấu dân cư
theo khu vực thành thị và nông thôn là thước đo cơ cấu kinh tế.
d. Tỷ trọng hàng hóa và dịch vụ xuất nhập khẩu trong GDP và cơ cấu
xuất nhập khẩu
Tỷ trọng và cơ cấu xuất nhập khẩu không chỉ phản ánh mức độ phát
triển các quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia, mà còn phản ánh cơ cấu
các ngành kinh tế. Trong nền kinh tế mở, những ngành có tiềm năng, có lợi
thế sẽ có điều kiện phát triển và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế.
Nhóm 3: Các thước đo động lực của các tiến bộ kinh tế
a. Tỷ lệ vốn đầu tư nội địa trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế
Vốn là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng, phát triển kinh tế. Nếu
nguồn vốn trong nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của nền kinh
tế thì có thể kết luận rằng những tiến bộ kinh tế xuất phát từ nội lực.
b. Tỷ lệ lao động kỹ thuật và lao động quản lý là người bản địa trong
13
tổng lao động kỹ thuật và lao động quản lý trong nền kinh tế
Lao động là một trong bốn nguồn lực cơ bản để tăng trưởng, phát triển
kinh tế. Trong nguồn lực này, lao động kỹ thuật và lao động quản lý có vai trò
rất quan trọng. Do đó, để đánh giá động lực của các tiến bộ kinh tế cần phải
sử dụng thước đo này.
c. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
trong những trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế
Kim ngạch xuất khẩu không chỉ thể hiện quy mô của nền kinh tế, sự
phát triển của các quan hệ thị trường mà còn phản ánh cơ cấu các ngành kinh
tế. Do đó, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
trong nước đo lường được động lực của các tiến bộ kinh tế.
Nhóm 4: Các thước đo chất lượng cuộc sống
Để đo lường chất lượng cuộc sống, người ta sử dụng các thước đo chủ
yếu sau đây:
a. Thu nhập bình quân trên đầu người
Mức thu nhập quyết định mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất và các
nhu cầu tinh thần. Do vậy, thu nhập bình quân trên đầu người là thước đo hết
sức quan trọng đo lường chất lượng cuộc sống.
b. Các chỉ số về giáo dục
Các chỉ số về giáo dục bao gồm; tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ người đi học
trong các độ tuổi, số năm đi học bình quân, số giáo viên trên một nghìn dân,
số sinh viên trên một nghìn dân, số người có trình độ đại học và trên đại học
trên một nghìn dân… Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển giáo dục của
một quốc gia và mức độ thụ hưởng các dịch vụ giáo dục của dân cư.
c. Các chỉ số về y tế
Các chỉ số về y tế bao gồm: tỷ lệ trẻ em trong các độ tuổi, tỷ lệ dân cư
được tiêm phòng; số bác sĩ trên một nghìn dân; số người bệnh trên một nghìn
14
dân… Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển y tế của một quốc gia và
mức độ thụ hưởng các dịch vụ y tế của dân cư.
d. Các chỉ số công bằng xã hội
Đó là các chỉ số như: hệ số Gini, tỷ lệ nghèo đói, hệ số chênh lệch giàu
nghèo…Các chỉ số này đo lường mức độ công bằng trong phân phối thu nhập.
e. Chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index)
Đây là chỉ số tổng hợp phản ánh trình độ phát triển con người và mức
độ thụ hưởng các thành quả kinh tế của dân cư. Chỉ số này bao gồm ba chỉ số
nhỏ: tuổi thọ trung bình; mức độ phổ cập giáo dục; thu nhập bình quân trên
đầu người. Như vậy, HDI không chỉ phản ánh mức sống vật chất, mà còn đo
lường cả mức sống tinh thần của dân cư và do đó chỉ số này đo lường chính
xác hơn chất lượng cuộc sống của dân cư.
Trên đây là những thước đo chất lượng cuộc sống chủ yếu. Ngoài ra, để
đo lường chất lượng cuộc sống, các thước đo khác có thể được sử dụng như:
số đầu sách/người/năm, số lần xem phim/người/năm, tỷ lệ các gia đình có tivi,
tủ lạnh, máy giặt, điện thoại…
1.1.2. Vai trũ, chức năng của nhà nước đối với phát triển kinh tế
trong nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa ở nước ta
* Vai trũ của nhà nước đối với phát triển kinh tế
Từ thực tiễn 20 năm đổi mới, nhất là qua những năm thực hiện Nghị
quyết Đại hội IX của Đảng, đó dần thấy rừ hơn những đặc trưng chủ yếu của
nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa Việt Nam là:
- Mụ hỡnh kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu kinh tế thị
trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường, phù hợp với đặc
điểm và điều kiện cụ thể của Việt Nam; là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân
thủ theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được
dẫn dắt, chi phối bởi cỏc nguyờn tắc bản chất của chủ nghĩa xó hội, nhằm
15
mục tiờu “dân giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh”.
Trong quỏ trỡnh xõy dựng và phỏt triển nền kinh tế thị trường định hướng xó
hội chủ nghĩa, những yếu tố, phương tiện và công cụ của nền kinh tế thị
trường được sử dụng và phát triển để tính chất xó hội chủ nghĩa của nền kinh
tế ngày càng được hỡnh thành rừ nét hơn trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xó hội.
Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lónh đạo của Đảng Cộng
sản, vai trũ làm chủ xó hội của cụng dõn và sự quản lý của Nhà nước pháp
quyền xó hội chủ nghĩa, được nhân dân đồng tỡnh và là chủ thể xõy dựng,
khụng phải là sự gỏn ghộp khiờn cưỡng, chủ quan giữa kinh tế thị trường và
chủ nghĩa xó hội, mà là sự nắm bắt và tự giác vận dụng sáng tạo xu thế vận
động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay, tiếp thu có
chọn lọc thành tựu của nền văn minh nhân loại, sử dụng và phát huy cao độ
vai trũ tớch cực đồng thời hạn chế tối đa những khuyết tật của tớnh tự phát
trong kinh tế thị trường, nhằm thực hiện có kết quả mục tiêu rỳt ngắn quỏ trỡnh
cụng nghiệp húa, hiện đại hóa sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, quan hệ sản
xuất không ngừng được đổi mới và hoàn thiện, phù hợp với tính chất và trỡnh
độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm giải phóng triệt để và thúc đẩy
phát triển mạnh sản xuất, cải thiện nhanh đời sống của nhân dân, tạo ra sự
đồng thuận cao trong xó hội, tạo động lực thu hút mọi nguồn lực trong và
ngoài nước đầu tư cho phát triển, và giữ vững ổn định chính trị - xó hội. Các
thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, bỡnh đẳng
trước pháp luật, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển lâu dài;
trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trũ chủ đạo, là lực lượng vật chất quan
trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều
16
kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển; phát triển kinh tế tư
nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, là một động lực phát triển kinh tế - xó hội; nguồn lực của nhà đầu tư
nước ngoài được thu hút mạnh. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết
quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các
nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xó hội; thực hiện cụng bằng trong phõn
phối để tạo động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế - xó hội.
Từ những tớnh chất trờn, đặc trưng vai trũ của nhà nước đối với phát
triển kinh tế thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
- Nhà nước, bằng pháp luật quy định tư cách chủ thể, tạo ra khung pháp
lý cho các hoạt động kinh tế.
- Nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi về an ninh, quốc phũng, chớnh
trị, xó hội ngoại giao cho hoạt động kinh tế.
- Nhà nước bằng pháp luật ngăn ngừa và chống các yếu tố phản thị
trường, phản tự do kinh doanh; duy trỡ trật tự kinh tế, giữ gỡn nền văn hóa và
bản sắc dân tộc trong phát triển nền KT - XH.
- Nhà nước bằng pháp luật định ra các phương thức giải quyết tranh
chấp trong hoạt động kinh tế và thực thi sứ mạng đảm bảo trật tự kinh tế.
- Nhà nước thông qua các công cụ như chính sách tài chính, tiền tệ, tín
dụng, quy hoạch, kế hoạch… tác động đến nền kinh tế nhằm kiểm soát hạn
chế hậu quả trong các biến động bất lợi của thị trường.
- Nhà nước thông qua kinh tế nhà nước đảm bảo tính hiệu quả, tính ổn
định của nền kinh tế quốc dân, bảo đảm phúc lợi chung cho toàn xó hội;
- Nhà nước bằng pháp luật bảo đảm sự phát triển hài hũa giữa kinh tế
và xó hội, đảm bảo sử dụng khai thác hợp lý các nguồn tài nguyờn, bảo vệ
mụi sinh;
- Nhà nước đóng vai trũ là người mở đường và bảo trợ cho nền kinh tế
17
đất nước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới.
* Chức năng của Nhà nước đối với phát triển kinh tế
Để nhận thức chức năng của nhà nước thỡ cần phải đặt nhà nước vào
trong chỉnh thể của đời sống kinh tế - xó hội. Bởi vỡ nhà nước là hiện tượng
xó hội, là sản phẩm của mỗi mụ hỡnh kinh tế - xó hội. Nếu đứng trên bỡnh
diện đó thỡ chức năng của nhà nước chính là các hoạt động mang tính khách
quan thể hiện vai trũ của nhà nước đối với xó hội. Mặc khỏc, dù quyền lực
nhà nước có tác động rất sâu sắc và rộng lớn nhưng cũng không thể bao trùm
hết đời sống kinh tế - xó hội nên cần thiết phải xác định phạm vi cần thiết cho
sự hoạt động của nhà nước.
Từ góc độ khác, chức năng của nhà nước bao hàm ý nghĩa năng lực của
nhà nước. Các hoạt động của nhà nước thể hiện vai trũ của nhà nước chỉ có
thể được triển khai trên cơ sở năng lực thực tế của bộ máy nhà nước ứng với
mỗi bước phát triển của nền kinh tế - xó hội. Sự vận động biến đổi của đời
sống kinh tế - xó hội thường phong phú, đa dạng và khẩn trương hơn so với sự
phát triển của bộ máy nhà nước. Điều này cũng chính là yêu cầu của việc nõng
cao năng lực và ý nghĩa về sự cần thiết của nhà nước đối với kinh tế - xó hội và
con người.
Xét từ mối liên hệ giữa nhà nước và pháp luật, có thể thấy chức năng
của nhà nước thể hiện ở thẩm quyền của nhà nước phải được quy định trong
khuụn khổ pháp luật. Điều này là hệ quả của yêu cầu phát triển nền dân chủ
ngày càng cao, nhà nước là người ban hành pháp luật nhưng tổ chức và hoạt
động của nhà nước cũng phải được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật ấy.
Chức năng của nhà nước nói chung là hoạt động của nhà nước thể hiện vai trũ
của nhà nước đối với xó hội, khi vai trũ của nhà nước đối với lĩnh vực kinh tế
đó chuyển đổi thỡ chức năng của nhà nước cũng phải được xác định cho phù
hợp với yêu cầu của nền kinh tế mới.
18
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng này được thực hiện thụng qua
chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, các nhà kinh tế tiếp cận ở ba góc độ
chủ yêú là phương hướng tác động, các giai đoạn và các lĩnh vực tác động
của quyền lực nhà nước. Ở góc độ phương hướng tác động của quyền lực nhà
nước, chức năng của nhà nước được biểu hiện trên các mặt hoạt động như tạo
lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, phát huy những măt tích cực, hạn chế và khắc phục
những biểu hiện tiêu cực của cơ chế thị trường, làm cho thị trường thật sự trở
thành công cụ quan trọng trong việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả hơn các
nguồn lực, phân phối lại thu nhập quốc dõn; điều tiết lợi ích của các thành
phần kinh tế, các tầng lớp dân cư đáp ứng nhu cầu tăng trưởng ổn định, công
bằng xó hội. Ở gúc độ các giai đoạn của quá trỡnh tỏc động của quyền lực
nhà nước tới cỏc quan hệ kinh tế thỡ nhà nước có chức năng như định hướng
cho sự phát triển kinh tế, tổ chức và điều hành nền kinh tế, kiểm soát và điều
chỉnh các hoạt động kinh tế để đạt được các mục tiêu ổn định và tăng trưởng
kinh tế. Nếu xem xét theo lĩnh vực tác động của quản lý nhà nước về kinh tế
thỡ chức năng của Nhà nước được chia thành các chức năng quản lý nhà nước
về cỏc lĩnh vực như: tài chớnh, tiền tệ, kinh tế đội ngoại, khoa học - cụng
nghệ…Từ phõn tớch trờn cú thể thấy các chức năng quản lý nhà nước về kinh
tế, đó là:
- Chức năng tạo lập môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi
để phát huy các nguồn lực xó hội cho phỏt triển kinh tế.
Bằng quyền lực và sức mạnh tổ chức của mỡnh, nhà nước bảo đảm một
môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi, bỡnh đẳng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, bao gồm môi trường chính trị, phỏp luật, kinh tế, xó
hội,… là những điều kiện cần thiết để giới kinh doanh yên tâm đầu tư vốn và
kinh doanh thuận lợi, góp phần phát triển có hiệu quả kinh tế đất nước. Nhà
nước tạo ra các dịch vụ công về môi trường chính trị, pháp lý, an ninh, thủ tục
19
quản lý, điều kiện kinh doanh, thông tin, an toàn xó hội phục vụ cho xó hội.
Đảm bảo các quyền cơ bản như quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh những
lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước không cấm, xử lý tranh chấp theo pháp
luật, bảo đảm một xó hội lành mạnh và cú văn hóa.
- Chức năng định hướng và hướng dẫn phát triển kinh tế trên cơ sở tôn
trọng các nguyên tác của thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước có chức năng định hướng phát
triển kinh tế bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Quy hoạch, kế hoạch
phải phát huy tối đa mọi lợi thế của quốc gia, vùng và địa phương, thu hỳt
mọi nguồn lực tham gia phỏt triển kinh tế - xó hội.
- Chức năng bảo đảm sự phỏt triển bền vững và ổn định của các cân đối
vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.
Nhà nước bằng các công cụ điều tiết của mỡnh, cần bảo đảm sự bền
vững của các cân đối vĩ mụ, tạo ra xu hướng phát triển tích cực để khuyến
khích kinh tế phát triển. Ngoài ra, nhà nước có nhiệm vụ sắp xếp, tổ chức lại
các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, khu
chế xuất, nhằm tạo nên cơ cấu kinh tế hợp lý, sắp xếp lại hệ thống quản lý, cỏc
cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế từ trung ương đến cơ sở, đổi mới thể chế và
thủ tục hành chính, đào tạo và đào tạo lại, sắp xếp cán bộ công chức quản lý
nhà nước và quản lý doanh nghiệp, thiết lập mối quan hệ kinh tế với các nước
và các tổ chức quốc tế…
- Chức năng hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ
tầng kinh tế - xó hội quan trọng, hệ thống an sinh xó hội.
Trong điều kiện hạ tầng kinh tế - xó hội ở nước ta cũn kộm phát triển,
xây dựng cơ sở hạ tầng yêu cầu chi phí đầu tư lớn,chậm thu hồi vốn, lói suất
thấp, trong khi vốn tích lũy cho đầu tư của các doanh nghiệp cũn nhỏ bộ, thỡ
việc nhà nước chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xó hội là
20
rất cần thiết, đảm bảo kinh tế phát triển ổn định và có hiệu quả.
- Chức năng kiểm tra:
Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát nhằm thiết lập trật
tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng
vi phạm pháp luật, sai phạm chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích của
nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và từng bước thực hiện công
bằng xó hội.
1.1.3. Cơ sở pháp lý về vị trí cấp quận, trong hệ thống chính quyền
ở Việt Nam
Cơ cấu hành chính nhà nước qua các lần sửa đổi Hiến pháp đều khẳng
định sự tồn tại cấp quận, cấp phường.
Hiến pháp năm 1980: "Các đơn vị hành chính của Nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: nước chia thành tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương. Tỉnh chia
thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương
chia thành quận, huyện và thị xã. Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố
thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường".
Hiến pháp năm 1992: "Các đơn vị hành chính của Nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành
phố thuộc tỉnh và thị xã; Thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận,
huyện và thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã
chia thành phường và xã; quận chia thành phường".
Đó là cơ sở pháp lý của sự tồn tại cấp quận, huyện và cấp xã, phường
ở nước ta, đồng thời cũng luôn đặt cấp quận, huyện và cấp xã, phường
trong sự ràng buộc của hệ thống đơn vị hành chính quốc gia (sơ đồ 1). Mặt
khác, trong thực tế đời sống xã hội ở nước ta, cấp quận, huyện đã được các
tầng lớp nhân dân, các thế hệ nối tiếp nhau thừa nhận, cấp quận, huyện đã