Luận án tiến sĩ giáo dục học bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của hồ chí minh

  • 190 trang
  • file .pdf
________
BIÖN PH¸P BåI D¦ìNG PH¦¥NG PH¸P HäC TËP
CHO HäC VI£N ë §¹I HäC QU¢N Sù THEO T¦ T¦ëNG
“LÊY Tù HäC LµM CèT” CñA Hå CHÝ MINH
- 2013
________
BIÖN PH¸P BåI D¦ìNG PH¦¥NG PH¸P HäC TËP
CHO HäC VI£N ë §¹I HäC QU¢N Sù THEO T¦ T¦ëNG
“LÊY Tù HäC LµM CèT” CñA Hå CHÝ MINH
nh:
: 62 14 01 02
dẫn :
- 2013
LỜI CAM ĐOAN
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh
nghiªn cøu cña riªng t«i. C¸c sè liÖu, kÕt qu¶
nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc, cã nguån gèc
xuÊt xø râ rµng.
Tác giả luận án
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 7
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12
Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG PHƢƠNG
PHÁP HỌC TẬP CHO HỌC VIÊN Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ
THEO TƢ TƢỞNG “LẤY TỰ HỌC LÀM CỐT” CỦA HỒ
CHÍ MINH 35
1.1. Nội dung tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh 35
1.2. Quan niệm và giá trị sư phạm của việc bồi dưỡng phương pháp
học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học
làm cốt” của Hồ Chí Minh 46
Chƣơng 2 NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƢỠNG PHƢƠNG
PHÁP HỌC TẬP CHO HỌC VIÊN Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ
THEO TƢ TƢỞNG “LẤY TỰ HỌC LÀM CỐT” CỦA HỒ
CHÍ MINH 64
2.1. Quá trình vận dụng tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí
Minh trong lịch sử dạy học và tự học ở các học viện, nhà trường
quân đội 64
2.2. Thực trạng phương pháp học tập, tự học và bồi dưỡng phương
pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự hiện nay 72
Chƣơng 3 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP BỒI DƢỠNG PHƢƠNG
PHÁP HỌC TẬP CHO HỌC VIÊN Ở ĐẠI HỌC
QUÂN SỰ THEO TƢ TƢỞNG “LẤY TỰ HỌC LÀM
CỐT” CỦA HỒ CHÍ MINH 98
3.1. Yêu cầu xây dựng biện pháp bồi dưỡng phương pháp học tập cho
học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của
Hồ Chí Minh 98
3.2. Biện pháp bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học
quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh 101
Chƣơng 4 THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 128
4.1. Những vấn đề chung về quá trình thực nghiệm 137
4.2. Tiến trình và phân tích kết quả thực nghiệm 134
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 150
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ 152
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
PHỤ LỤC 163
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT
01 Cơ sở thực nghiệm CSTN
02 Đảng Cộng sản ĐCS
03 Đối chứng ĐC
04 Học viên HV
05 Học viện Hậu cần HVHC
06 Học viện Quân y HVQY
07 Phương pháp học tập PPHT
08 Nhà xuất bản Nxb
09 Thực nghiệm TN
10 Trung bình TB
11 Trung bình khá TBK
12 Trường Sĩ quan Chính trị TSQCT
13 Trường Sĩ quan Lục quân 1 TSQLQ1
14 Trường Sĩ quan Lục quân 2 TSQLQ2
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Tên bảng,
TT biểu, đồ Nội dung Trang
thị, sơ đồ
Bảng khái quát phương pháp học tập theo tư tưởng “lấy
01 1.2
tự học làm cốt” và phương pháp học tập thụ động 54
02 2.1 Bảng tổng hợp đối tượng và số lượng điều tra 75
Bảng tổng hợp kết quả điều tra nhận thức của học
03 2.3 viên về phương pháp học tập lấy hoạt động tự học
làm chủ yếu 84
04 2.4 Bảng tổng hợp kết quả học tập năm học 2010 – 2011 85
Bảng tổng hợp số lượng hình thức bồi dưỡng phương
05 2.5
pháp học tâp cho học viên ở đại học quân sự 86
Bảng lượng hoá các tiêu chí đánh giá về kết quả
06 4.1
thực nghiệm 132
07 4.2 Bảng chất lượng của các đơn vị tham gia thực nghiệm 135
08 4.3 Bảng tổng hợp kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 136
Bảng thống kê kết quả kiểm tra về sự tiến bộ
09 4.4 phương pháp học tập theo tư tưởng “lấy tự học làm
cốt” của học viên 139
Bảng phân phối tần xuất kết quả kiểm tra sự tiến bộ về
10 4.5 phương pháp học tập theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt”
của học viên qua thực nghiệm 139
Bảng phân phối tần xuất luỹ tích kết quả kiểm tra sự
11 4.6 tiến bộ về phương pháp học tập theo tư tưởng “lấy tự
học làm cốt” của học viên 140
12 4.9 Bảng phân phối các tham số đặc trưng kết quả tiến bộ
Tên bảng,
TT biểu, đồ Nội dung Trang
thị, sơ đồ
về phương pháp học tập theo tư tưởng “lấy tự học làm 142
cốt” của học viên qua thực nghiệm
Bảng phân phối các tham số đặc trưng kết quả tiến bộ
13 4.12 về phương pháp học tập theo tư tưởng “lấy tự học làm
cốt” của học viên qua thực nghiệm 144
Bảng so sánh kết quả đánh giá sự tiến bộ về phương
14 4.13 pháp học tập theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của học
viên các lớp thực nghiệm và đối chứng 147
Bảng so sánh kết quả đánh giá sự tiến bộ về kết quả học
15 4.14
tập của học viên các lớp thực nghiệm và đối chứng 148
Biểu đồ nhận thức của học viên ở đại học quân sự về
2.2.
16 phương pháp học tập theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” 78
Biểu đồ so sánh kết quả tiến bộ về phương phá học tập
theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của học viên giữa lớp
17 4.8
thực nghiệm và đối chứng qua thực nghiệm môn Giáo
dục học quân sự 141
Biểu đồ so sánh kết quả tiến bộ về phương pháp học
tập theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của học viên
18 4.11
giữa lớp thực nghiệm và đối chứng qua môn Giáo dục
học quân sự 143
Đồ thị biểu diễn tần xuất luỹ tích điểm kết quả tiến bộ về
phương pháp học tập theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt”
19 4.7
của học viên qua môn Giáo dục học quân sự ở cơ sở thực
nghiệm 1 140
20 4.10 Đồ thị biểu diễn tần xuất luỹ tích điểm kết quả tiến bộ
Tên bảng,
TT biểu, đồ Nội dung Trang
thị, sơ đồ
về phương pháp học tập theo tư tưởng “lấy tự học làm
cốt” của học viên qua môn Giáo dục học quân sự ở cơ
sở thực nghiệm 2 143
Sơ đồ và mối quan hệ giữa “tự học” – “chỉ đạo” và
20 1.1
“thảo luận” theo tư tưởng Hồ Chí Minh 46
Các biện pháp bồi dưỡng phương pháp học tập cho học
21 3.1
viên ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” 126
9
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu
Đề tài luận án “Bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại
học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh” được
nghiên cứu sinh quan tâm nghiên cứu từ khi còn được đào tạo giáo viên
chuyên ngành Giáo dục học ở Học viện Chính trị. Các công trình nghiên cứu
của nghiên cứu sinh đều tập trung vào tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, dạy học nói riêng.
Khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu được dựa trên cơ sở làm rõ giá
trị và tính đúng đắn của luận điểm về cách học tập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh
chỉ ra. Theo Người, trong quá trình học tập, người học muốn dành kết quả
cao phải nâng cao về PPHT, đặc biệt phải coi trọng vai trò của tự học, lấy tự
học làm hoạt động cốt lõi trong quá trình nhận thức của mình. Luận điểm đó
đã được Hồ Chí Minh chứng minh bằng thực tiễn quá trình tự học kiên trì và
bền bỉ với ý chí, quyết tâm cao của chính bản thân Người. Học với cốt lõi là
tự học sẽ giúp cho người học chủ động, tích cực, sáng tạo và đạt hiệu quả
cao trong quá trình học tập. HV ở đại học quân sự cần phải có được PPHT
theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh để vận dụng vào quá
trình học tập và công tác sau này.
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án được trình bày trong 151 trang
và sử dụng 122 tài liệu tham khảo (112 tài liệu tiếng Việt, 10 tài liệu tiếng
Anh). Kết cấu của luận án gồm: Phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên
cứu, 4 chương (8 tiết), kết luận, kiến nghị, danh mục công trình khoa học
của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học. Thông qua tự
học và bằng con đường tự học, Người đã tự trang bị cho mình kiến thức,
10
phương pháp luận và phương pháp trong hoạt động cách mạng. Trong quá
trình học tập, phương pháp học tập coi trọng tự học luôn được Người vận
dụng và xác định là yếu tố chủ yếu trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Theo
Hồ Chí Minh, để tiếp thu, lĩnh hội những kiến thức phong phú của nhân loại,
người học phải có những cách thức tiếp nhận, lĩnh hội phù hợp với nhận thức
và khả năng của mỗi người. Chính vì vậy, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm
việc” viết năm 1947, Người chỉ rõ: “Cách học: Phải lấy tự học làm cốt. Do
thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [48, tr.273].
Quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong đổi mới và nâng
cao chất lượng dạy và học, Đảng ta luôn coi trọng bồi dưỡng phương pháp
học tập chủ động, tích cực và sáng tạo. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ
rõ: “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học” [19, tr.216].
Luật giáo dục năm 2005, sửa đổi và bổ sung năm 2009 đã xác định: “Phương
pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo
của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành,
lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [73, tr.34]. Lý luận dạy học hiện đại
đã chỉ rõ, bản chất của quá trình dạy học ở đại học là quá trình nhận thức có
tính chất nghiên cứu của người học dưới sự chỉ đạo của người dạy. Tự học có
vai trò quan trọng trong quá trình lĩnh hội kiến thức, trở thành phẩm chất quan
trọng và học tập suốt đời là triết lý sống của con người trong xã hội bùng nổ
thông tin, xã hội học tập. Thông qua tự học, người học tích lũy được kiến
thức, nâng cao khả năng tư duy, kỹ năng nhận thức [42, tr.187]. Như vậy, để
đáp ứng được yêu cầu chiếm lĩnh lượng thông tin lớn như hiện nay, người học
không chỉ học tập trên giảng đường hay tự mình tìm kiếm thông tin trên các
phương tiện kỹ thuật hiện đại, mà họ phải tích cực nâng cao năng lực tự học,
kể cả khi nghe giảng trên lớp. Điều đó đòi hỏi người học phải tìm cho mình
một PPHT chủ động, coi hoạt động học tập của mình là hoạt động chủ yếu
11
trong việc chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Học ở đại học là học
phương pháp. Vì vậy, trong dạy học các trường đại học cần chú trọng bồi
dưỡng PPHT cho người học.
Nằm trong hệ thống các trường đại học trong cả nước, cùng với xu thế
đổi mới giáo dục, các học viện, nhà trường đào tạo bậc đại học trong Quân
đội nhân dân Việt Nam (sau đây gọi tắt là đại học quân sự) đã và đang tích
cực đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học. Các trường đại học quân sự đã
thực hiện đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy, gắn học
tập với nghiên cứu khoa học và rèn luyện các kĩ năng nghề nghiệp cho HV để
thực hiện tốt mục tiêu đào tạo theo hướng kết hợp đào tạo trình độ với đào tạo
chức vụ, đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ cho quân đội. Tuy nhiên,
các trường đại học quân sự ít chú ý đến việc bồi dưỡng, rèn luyện PPHT mà
chủ yếu là tự học cho HV. Còn HV ở đại học quân sự, việc học tập chủ yếu ở
trạng thái thụ động, chưa phát huy được tính chủ động thông qua tự học để
lĩnh hội tri thức. Trong khi đó, quá trình dạy học ở đại học là quá trình nhận
thức có tính chất nghiên cứu của người học dưới sự hướng dẫn tổ chức của
người dạy. Việc bồi dưỡng PPHT chưa được quan tâm và khái quát thành hệ
thống, thống nhất, còn mang tính cá thể ở từng học viện, nhà trường và từng
cá nhân HV.
Để khắc phục những hạn chế trên đây, cần phải bồi dưỡng cho HV ở
đại học quân sự PPHT phù hợp. PPHT đó phải phát huy tính tích cực, tự giác,
độc lập, sáng tạo, phát triển năng lực nội sinh; có tác dụng cổ vũ, động viên,
khích lệ người học. Dù học ở giảng đường hay tự học ở những nơi khác, dù có
sự điều khiển, chỉ đạo trực tiếp của giảng viên hay không, HV cần phải luôn
tích cực học tập. Việc bồi dưỡng PPHT theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt”
của Hồ Chí Minh cho HV ở đại học quân sự có thể đáp ứng được những
yêu cầu đó.
12
Xuất phát từ những lý do cơ bản nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Bồi
dưỡng phương pháp học tập cho học viên ở đại học quân sự theo tư tưởng
“lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của luận án.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Bồi dưỡng PPHT cho HV ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học
làm cốt” của Hồ Chí Minh nhằm giúp cho HV ở đại học quân sự có cách học
chủ động, tích cực đạt kết quả vững chắc; góp phần vào việc chỉ đạo sư phạm,
nâng cao chất lượng dạy học nói riêng, chất lượng giáo dục, đào tạo ở các
trường đại học quân sự nói chung trong bối cảnh đổi mới giáo dục, đào tạo
của nhà trường quân đội hiện nay.
4. Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học ở đại học quân sự.
* Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động bồi dưỡng PPHT theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ
Chí Minh cho HV ở đại học quân sự.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu là hoạt
động học tập, trong đó đi sâu nghiên cứu PPHT của HV đào tạo sĩ quan
cấp phân đội bậc đại học hiện nay; nghiên cứu thực chất và giá trị tư
tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh để từ đó bồi dưỡng PPHT
cho HV ở đại học quân sự theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ
Chí Minh.
- Phạm vi khảo sát: Luận án tập trung khảo sát, tọa đàm, trao đổi
với HV các học viện, nhà trường quân đội đào tạo sĩ quan cấp phân đội
bậc đại học, điển hình chủ yếu các học viện, nhà trường đào tạo từng loại
hình cán bộ: Sĩ quan Lục quân 1, Sĩ quan Lục quân 2, Sĩ quan Chính trị,
13
Học viện Hậu cần, Học viện Quân Y. Thực nghiệm sư phạm tại 2 trường:
Sĩ quan Lục quân 1 và Sĩ quan Chính trị.
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu điều tra, tổng kết sử dụng trong
luận án từ năm 2007 đến nay.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Những đóng góp mới của luận án:
- Góp phần làm sáng tỏ thực chất và giá trị thực tiễn của quan điểm
“lấy tự học làm cốt” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình bồi dưỡng
PPHT cho HV ở đại học quân sự hiện nay.
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn bồi dưỡng PPHT cho
HV .
- Đề xuất những biện pháp bồi dưỡng PPHT cho HV
theo tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh.
* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án:
- Về mặt lý luận: Luận án đã luận giải cơ sở khoa học cho việc bồi
dưỡng PPHT “lấy tự học làm cốt” của HV ở đại học quân sự, góp phần
nâng cao chất lượng quá trình dạy học trong quân đội. Đặc biệt là xây
dựng quy trình bồi dưỡng PPHT “lấy tự học làm cốt” cho HV
quân sự hiện nay
PPHT trong môi trường dạy học ở đại học quân sự.
- Về mặt thực tiễn: Luận án có thể là tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu, giảng dạy và học tập ở các học viện, nhà trường quân đội hiện nay,
đặc biệt là tài liệu trong bồi dưỡng PPHT, bồi dưỡng khả năng tự học, tự
nghiên cứu nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của HV trong quá trình
học tập tại trường.
14
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1. Các công trình nghiên cứu về phương pháp
học tập và bồi dưỡng phương pháp học tập của các tác giả ngoài nước
Phương pháp học tập của người học thường gắn với tính tự giác, tích
cực, độc lập của họ trong quá trình học tập và gắn với quá trình dạy học. Đây là
một yếu tố quan trọng, là cơ sở để người học phát huy tối đa năng lực và cách
thức lĩnh hội kiến thức. Từ xa xưa các nhà giáo dục đã nhận thấy tầm quan
trọng của PPHT và bồi dưỡng, chỉ dẫn PPHT và coi đây là điều kiện cơ bản
nhất để người học đạt được kết quả cao trong quá trình học tập. Những kết quả
nghiên cứu trong lĩnh vực này thường gắn liền với các nhà giáo dục học nổi
tiếng mà đến nay những tư tưởng ấy vẫn mang nhiều giá trị thực tiễn to lớn.
Khổng Tử (551 - 479 TCN) là nhà giáo dục vĩ đại Trung Hoa cổ đại,
được người đời suy tôn là “Vạn thế sư biểu”. Ông luôn quan tâm đến cách
học và bồi dưỡng PPHT cho người học. Theo Ông, trong quá trình học tập,
thầy chỉ dẫn gợi ra phương pháp, giải đáp những điều trò còn lúng túng, nghi
hoặc; người học phải tích cực, độc lập, sáng tạo và phải có sự suy luận; người
học phải biết kết hợp học với suy nghĩ “Học tư kết hợp”. “Người tự mình tu
tập cần làm năm điều lành: Học cho rộng, hỏi cho cùng, nghĩ cho kỹ, biện cho
rành, làm cho siêng” [83, tr.71 - 77]. Khổng Tử nhấn mạnh: “Học mà chẳng
chịu suy nghĩ thì chẳng được thông minh. Suy nghĩ mà chẳng chịu học thì
lòng dạ chẳng yên ổn” [83, tr.83] đã phản ánh tư tưởng về PPHT và chỉ dẫn
PPHT cho người học thời bấy giờ. Ông coi trọng cách thức học tập cẩn trọng,
tích cực, kiên trì và tư duy linh hoạt để đi đến thấu hiểu chân lý. Khổng Tử
đòi hỏi người học phải có suy luận những kiến thức mới từ kiến thức người
dạy đã trang bị: “Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba
góc kia thì không dạy nữa” [83, tr.95]. Như vậy, Ông luôn yêu cầu PPHT của
người học phải tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo.
15
Xôcơrát (469 – 339 TCN) nhà triết học, nhà giáo dục Hy Lạp cổ đại, đã
đề cập đến phương pháp dạy học nhằm bồi dưỡng PPHT cho người học mà
Ông gọi là “thuật đỡ đẻ”. Dưới sự hướng dẫn, dẫn dắt của người dạy mà
người học tìm ra chân lý chứ không phải người học có được chân lý do người
dạy chỉ ra. Làm như vậy sẽ “gợi lên những gì vốn đang tiềm ẩn trong trí tuệ
và tâm hồn học sinh” [77, tr.36]. Chính “thuật đỡ đẻ” đó đã trau dồi, phát
triển ở học sinh PPHT nắm thực chất, sâu sắc nội dung các vấn đề học tập.
Đánh giá về phương pháp này, các tác giả Hà Nhật Thăng - Đào Thanh Âm
viết: “Phương pháp dạy học đàm thoại của Xôcơrát đã đi vào lịch sử như là
một trong những phương pháp dạy học truyền thống” [83, tr.41].
Rabơle (1490 - 1553), nhà giáo dục người Pháp quan niệm rằng:
“phương pháp học tập diễn ra theo một quá trình: Nghe, đọc, suy nghĩ, liên
hệ, ôn tập, sau đó kiến thức thu lượm được sàng lọc rồi thâm nhập tâm
trí” [83, tr.81]. Theo Ông, học sinh muốn thu thập, tích luỹ kiến thức thì
“phải học hỏi ở nhiều người khác” và “đọc mới là phương pháp học tập
kiến hiệu” [83, tr.80]. Như vậy, Rabơle đã yêu cầu người học muốn có
PPHT tốt phải rèn luyện các kỹ năng nghe, đọc và các kỹ năng khác giúp
cho quá trình học tập có hiệu quả.
Monteno (1576 – 1636), nhà giáo dục Hà Lan lại coi PPHT là “học
qua hành, hành để học” và tư tưởng “hướng dẫn” PPHT đã được ông nhắc
đến “người thầy không phải là có nhiệm vụ chuyển kiến thức của mình
sang trò mà chỉ là huấn luyện viên hướng dẫn trò, làm cho trò tự mình rèn
luyện trí xét đoán của mình” [83, tr.129].
Trong tác phẩm “Phép dạy học vĩ đại” của Jan Amos Komensky (1592
- 1670), nhà sư phạm, nhà lý luận giáo dục vĩ đại người Séc, Ông đã bàn về
việc trang bị lý luận có tác dụng bồi dưỡng phương pháp dạy học. Ông đã có
những tư tưởng về nguyên tắc, phương pháp sư phạm mới của việc dạy học
16
nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, phản đối phương pháp
giảng dạy kinh viện giáo điều. Ông khẳng định: “Tôi thường xuyên bồi dưỡng
cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong
việc ứng dụng vào thực tiễn” [13, tr.84]. Như vậy, theo Komensky, bồi dưỡng
cho người học phương pháp quan sát, khả năng trình bày vấn đề và khả năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn học tập.
Trong tác phẩm “Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên”, V.I. Lênin khi đặt
nhiệm vụ cho thanh niên Xô Viết là học tập, Người đã nhấn mạnh vấn đề chủ
yếu và quan trọng nhất là “học gì và học như thế nào”. Ông khẳng định: “Nhà
trường của chúng ta phải đem lại cho thanh niên những kiến thức cơ bản, dạy
cho họ biết tự tạo ra những quan điểm cộng sản và phải đào tạo họ thành
những người có học thức” [70, tr.354]. V.I. Lênin đã quan tâm nhiều đến cách
học, PPHT của thanh niên và truyền bá nó trong đội ngũ của họ. Người còn
trăn trở “Tôi cũng sẽ cố gắng giải đáp vấn đề phải học cái đó như thế nào”
[71, tr.374]. Như vậy, theo Lênin, người học muốn có kết quả tốt phải có cách
học. Và Người đã bàn đến việc chỉ dẫn, định hướng về cách học, PPHT cho
người học.
Các nhà giáo dục Liên Xô cũ đã có nhiều công trình nghiên cứu về
PPHT và hướng dẫn, chỉ đạo cho người học những cách thức học tập hiệu
quả. Tiêu biểu là những công trình của L.X Vưgôtxki, xuất phát từ nghiên cứu
về tâm lý nhận thức, nguồn gốc xã hội, Ông đề cao vai trò của giáo viên trong
định hướng cho trẻ nhưng kỹ năng học tập độc lập sáng tạo. Ông khẳng định:
“Những gì hôm nay trẻ làm được nhờ sự giúp đỡ của người lớn thì ngày mai
nó có thể thực hiện độc lập” [28, tr.214]. Những nghiên cứu của L.X.
Vưgôtxki về PPHT và hướng dẫn về PPHT là một trong những đóng góp to lớ
của ông vào sự phát triển của lý luận dạy học hiện đại. A.X. Macarenco trong
tác phẩm “Giáo dục trong thực tiễn” đã khái quát những cách thức chỉ dẫn
17
cho trẻ em cách làm việc, đặc biệt là trẻ em cá biệt và trẻ em không gia đình
trong trại giáo dục của ông. Ông quan niệm: “dạy cho học sinh cách tương tác
để học sinh tự chiếm lính kiến thức thông qua môi trường học tập” [74, tr.45].
Tác phẩm “Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học” của A.A.
Gorokopxki và M.I. Lubixơna bàn về quá trình tổ chức hoạt động tự học. Đây
là một công trình nghiên cứu những kỹ năng tự học và cách thức chỉ dẫn, định
hướng tự học cho sinh viên đại học. Các tác giả khẳng định: “Chỉ có tự học và
thông qua tự học mới giúp cho sinh viên cách thức khai thác, tìm kiếm thông
tin và khả năng học tập suốt đời” [27, tr.96].
Trong tác phẩm “Nền giáo dục cho thế kỷ 21: Những triển vọng của
châu Á - Thái Bình Dương”, Raija Roysingh (Ấn Độ) đã đề cao vai trò và
PPHT của người học: “Việc công nhận người học là lực lượng tích cực, đúng ra
là lực lượng chủ đạo trong quá trình kiến thức - học và việc họ tự nhận ra các
tiềm năng của bản thân trong quá trình đó là điểm tựa chủ yếu cho việc định
hướng lại giáo dục” [114, tr.123]. Ông đã chú trọng đến việc bồi dưỡng PPHT
và tự học cho người học, giúp cho người học nhận thức được đúng tiềm năng
của mình trong quá trình học tập.
Tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” của Tsunesaburo
Makiguchi đã đề cập nhiều vấn đề về giáo dục, trong đó Ông khẳng định:
“Mục đích của giáo dục phải trùng làm một với mục đích bao quát hơn của
đời sống người được giáo dục” [111, tr.13]. Ông đã khái quát bản chất quá
trình học tập “hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào
trong tay mỗi học sinh, là quá trình hướng dẫn học sinh tự học” [111, tr.19].
Ông đề cập đến nhiều cách thức học tập và luôn coi trọng tự học.
Tác phẩm “Tự học để dạy học” của Patrice Pelpel đã khái quát sự cần
thiết phải nâng cao hoạt động tự học của đội ngũ giáo viên để đáp ứng với
nhiệm vụ giảng dạy. Ông đã đề cập quan niệm, hình thức và điều kiện tổ chức
tự học của giáo viên. Ông chỉ rõ: “Tự học là phương tiện để người dạy tự làm
giàu kiến thức của bản thân” [117, tr.55].
18
Tác phẩm “Bản đồ tư duy trong công việc” của Tony Buzan đã đưa ra
cách thức lập và sử dụng bản đồ kiến thức. Ông quan niệm: “Người học
muốn nhớ lâu tri thức phải khái quát nội dung học tập và tự lập bản đồ tư duy,
một cách thức ghi nhớ kiến thức rất nhanh và bền vững” [119, tr.78]. Tuy
nhiên, tác giả chưa đưa ra những biện pháp cụ thể để khái quát hóa lượng kiến
thức cho bản đồ tư duy.
Tác phẩm “Kỹ năng ngôn ngữ - Kỹ năng nâng cao hiệu quả học tập”
của Lưu Kim Tinh (Trung Quốc) đã đưa ra vấn đề bồi dưỡng dạy học kiểu tác
hợp nhằm tạo cho người học nắm được đặc trưng, nguyên tắc và lợi hình nâng
cao hiệu quả học tập [108, tr.117- 126]. Ông cho rằng, thông qua kỹ năng
ngôn ngữ, người học sẽ hình thành cách thức học tập phù hợp, hiệu quả cao.
và công trình
nghiên cứu PPHT và bồi dưỡng PPHT
ã
PPHT, song các tư tưởng và công trình
đã một số vấn đề: nhấn mạnh cách học của sinh viên với tư cách
là chủ thể học, khẳng định tầm quan trọng của việc hướng dẫn cách học cho
sinh viên và sự cần thiết phải thay đổi cách dạy mà chưa đi sâu nghiên cứu
hình thức, biện pháp cụ thể để bồi dưỡng cách học nói chung, PPHT nói riêng
cho sinh viên. ng tư tưởng và và bồi
dưỡng PPHT
.
1.2. Các công trình nghiên cứu về phương pháp học tập và bồi dưỡng
phương pháp học tập của các tác giả trong nước
Sử sách viết về Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên ở nước ta có
nói đến cách học tập của giám sinh. Theo đó phương pháp học của giám sinh
19
chủ yếu là tự học, tự nghiên cứu. Mỗi tháng nghe thầy giảng kinh truyện 2 kỳ,
tập làm văn 4 kỳ. Bài tập có loại làm ngay tại lớp trong ngày phải xong, có
loại đem về nhà làm. Có thể coi đây là một ví dụ về rèn cách học, cách tự học
cho học sinh bậc đại học ngay từ thời đó, mà thời nay chúng ta đã và đang
phát huy trong thực tiễn dạy học.
Cùng với sự khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tháng 8/1945
là sự ra đời của nền giáo dục cách mạng “hoàn toàn Việt Nam”. Ở các trường
đại học, các khoá học, lớp học thường tổ chức các hội nghị "Học tốt" để cùng
nhau trao đổi, rút kinh nghiệm về PPHT. Nhằm hưởng ứng phong trào thi
đua “Dạy tốt - học tốt”, nhiều cuộc vận động xây dựng phong cách học tập
mới được sinh viên hưởng ứng sôi nổi nhằm xác định đúng đắn “động cơ,
thái độ và phương pháp học tập mới” [40, tr.496], tự học đã trở thành
phong trào rộng khắp trong sinh viên các trường đại học. Để kịp thời khái
quát lý luận về PPHT và bồi dưỡng PPHT cho sinh viên, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội đã xuất bản tài liệu “Làm thế nào để học tốt”, “Muốn
thành công trong học tập” cho sinh viên tham khảo. Đây là những tài liệu
lý luận đầu tiên về bồi dưỡng PPHT cho sinh viên nhằm nâng cao kết quả
học tập, giúp sinh viên “nắm bắt được những cách thức học tập tốt” [92,
tr.35] trên cơ sở “được trang bị những kiến thức và được thực hành về cách
học tập có hiệu quả” [93, tr.67].
Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX trở lại đây, trong các giáo trình, tài liệu
về lý luận dạy học đại học và giáo dục học đã viết về tự học nhằm bồi
dưỡng lý luận cơ bản về tự học cho người học, giúp sinh viên vận dụng có
hiệu quả vào hoạt động học tập của mình. Ngoài ra, có nhiều bài báo khoa
học của các nhà giáo, nhà quản lý giáo dục, nhà khoa học viết về vấn đề tự
học của người học được đăng tải chủ yếu ở các tạp chí giáo dục. Tự học
phải có cơ sở khoa học mà then chốt là có PPHT sáng tạo và chỉ dẫn, phổ
20
biến nó cho nhiều người áp dụng. Từ đòi hỏi này của thực tiễn, Trung tâm
Nghiên cứu phát triển tự học ra đời (tháng 5/1997) với mục tiêu đúng như
tên gọi của nó và cho ra mắt tạp chí “Tự học” từ năm 1999 (nay là tạp chí
Dạy và học ngày nay). Tạp chí “Tự học” là nơi công bố các kết quả nghiên
cứu, là diễn đàn trao đổi phổ biến kinh nghiệm tự học, PPHT.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã coi việc bồi dưỡng PPHT cho sinh
viên đại học là việc làm cần thiết, là điều quan trọng: “…điều chủ yếu nhất là
rèn luyện cho học sinh biết dùng cái thông minh, cái trí tuệ của mình, biết
phát huy cái sáng tạo của họ. Muốn vậy, phải rèn luyện cho họ có PPHT,
phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp đọc sách,
phương pháp trình bày và rèn luyện thành nếp, thành thói quen. Ở trường đại
học, điều chủ yếu là học phương pháp” [25, tr.25]. Theo Ông, điều quan trọng
của bậc học đại học là giảng viên bồi dưỡng cho sinh viên PPHT, tức là
những cách thức học tập để sinh viên tiếp cận chiếm lĩnh tri thức. Ông nhấn
mạnh: “...không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn, tuy
rằng kiến thức là cần thiết. Điều chủ yếu là giáo dục cho học trò phương pháp
suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp diễn tả, rồi đến phương pháp
nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề” [25, tr.34].
Tác giả Phạm Trung Thanh với cuốn sách “Phương pháp học tập -
nghiên cứu của sinh viên cao đẳng, đại học” (1999) quan niệm “phương pháp
học tập - nghiên cứu vừa mang ý nghĩa là một công cụ, một phương tiện để
tiến hành hoạt động đào tạo, vừa là một bộ phận nằm trong chương trình đào
tạo nghề cho sinh viên” [79, tr.3-4] từ đó xác lập mô hình về PPHT - nghiên
cứu của sinh viên. Theo tác giả, sau khi xác lập những nguyên tắc chỉ đạo
việc xây dựng và những nội dung cơ bản của PPHT - nghiên cứu của sinh
viên đã vạch ra mô hình PPHT - nghiên cứu gồm các thành phần: Xác định
mục đích, động cơ, thái độ, gắn lý luận với thực tiễn, việc học ở trên lớp, việc