Lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại công ty tôn phương nam

  • 73 trang
  • file .doc
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Năm 2008 khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng không nhỏ đến
tình hình tài chính của các doanh nghiệp. Sang năm 2009 thế giới từng bước
bước ra khỏi cuộc khủng hoảng, nhưng sang tới năm 2010 kinh tế thế giới
vẫn còn chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng năm 2008. Sức cầu của hàng
hóa vẫn đang ở mức thấp ảnh hưởng tới tình hình tiêu thụ, kết quả sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là chỉ tiêu lợi nhuận sụt giảm
đáng kể. Lợi nhuận đóng vai trò quan trọng trong việ đánh giá hoạt động sản
xuất kinh doanh, là mục tiêu mà các doanh nghiệp mong muốn đạt được để
có thể tồn tại và từng bước phát triển.
Việt Nam ngày càng mở rộng giao lưu hợp tác với các nền kinh tế
trên thê giới tạo nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng đưa ra nhiều thách
thức khó khăng đặc biệt với các doanh nghiệp tiềm lực tài chính chưa mạnh.
Bài toán đặt ra là các doanh nghiệp Việt Nam cần phải làm gì để có thể
đứng vững trong cạnh tranh, tạo thị phần riêng của mình, và không ngừng
phát triển trong sân chơi lớn toàn cầu. Trong hoàn cảnh đó, lợi nhuận không
chỉ còn là động lực trực tiếp thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh trên thị
trường. Các doanh nghiệp phải ý thức được tầm quan trọng của việc nâng
cao lợi nhuận đối với sự sống còn của doanh nghiệp mình để có thể có được
phương hướng kinh doanh đúng đắn.
Nhân thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trên cở sở kiên thức
đã được học và qua quá trình thực tập tại công ty Tôn Phương Nam, được sự
hướng dẫn tận tình của thầy giáo- Tiến sĩ Bùi Văn Vần, các thầy cô trong
khoa và sự quan tâm giúp đỡ của ban lãnh đạo, cô chú trong Tổng Công ty
Thép Việt Nam và công ty Tôn Phương Nam, em đã mạnh dạn chọn đề tài
“Lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại công ty Tôn Phương Nam”
làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2.Mục đích của đề tài:
Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thếm lý luận, góp phần rút ngắn khoảng
cách giữa lý luận và thực tế về giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận doanh nghiệp.
Nguyễn Ngọc Phương 1 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Khẳng định vai trò , ý nghĩa của lợi nhuận trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty Tôn Phương Nam.
Đánh giá thực trạng tình hình lợi nhuận và đưa ra các giải pháp nhằm
tăng lợi nhuận tại công ty Tôn Phương Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài lấy đối tượng nghiên cứu là tình hình lợi nhuận tại công ty Tôn
Phương Nam trong giai đoạn 2009- 2010.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số vấn đề về lý luận và thực tiễn
có lien quan trực tiếp đến tình hình lợi nhuận tại công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này em đã sử dụng phương pháp
phân tích, so sánh, thống kê, các bảng biểu, tổng hợp, phương pháp luận
khoa học và phương pháp khái quát hóa.
5. Kết cấu chuyên đề:
Nội dung chuyên đề gồm 3 chương sau:
o Chương 1: Lợi nhuận và sự cần thiết phấn đấu tăng lợi nhuận của
doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay.
o Chương 2: Tình hình thực hiện lợi nhuận tại công ty Tôn Phương
Nam giai đoạn 2009- 2010.
o Chương 3: Các giải pháp nhằm tăng lợi nhuận tại công ty Tôn Phương
Nam trong những năm tới.
Nguyễn Ngọc Phương 2 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
CHƯƠNG 1
LỢI NHUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẤN ĐẤU TĂNG
LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU
KIỆN HIỆN NAY
1.1. LỢI NHUẬN VÀ TỶ SUẤT LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP:
1.1.1.Lợi nhuận của doanh ngiệp:
Theo luật doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh
doanh”.
Khái niệm trên đã nhấn mạnh doanh nghiệp phải là một tổ chức kinh
tế chứ không phải là một tổ chức chính trị hay tổ chức xã hội. Doanh nghiệp
phải lấy hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường như hiện nay,
muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi tất yếu với doanh nghiệp là thu được
lợi nhuận.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, lợi nhuận là khoản chênh lệch có
được giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được doanh
thu từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại. Lợi nhuận của doanh nghiệp
gồm 3 bộ phận sau: lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận
từ hoạt động tài chính và lợi nhuận khác.
o Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh:
Lợi nhuận hoạt Giá thành toàn
Doanh thu
động sản xuất kinh = - bộ sản phẩm
thuần
doanh
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là khoản chênh
lệch giữa doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động
sản xuất kinh doanh trong đó bao gồm giá thành toàn bộ sản phẩm , hàng
hóa, dịch vụ và các loại thuế gián thu phải nộp.
Nguyễn Ngọc Phương 3 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Doanh thu thuần. Đây là khoản chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và các khoản
giảm trừ doanh thu
Lợi nhuận hoạt Giá thành toàn
Doanh thu
động sản xuất kinh = - bộ sản phẩm
thuần
doanh
Doanh thu thuần = Doanh thu bán hàng - Các khoản giảm trừ doanh
thu
- Doanh thu bán hàng là giá trị sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, lao vụ, mà
doanh nghiệp đã bán, cung cấp cho khách hàng, giá trị của hàng bán
đã được thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế về mua sản phẩm, hàng
hóa, lao vụ, dịch vụ đã được ghi trong hóa đơn bán hàng hoặc là sự
thỏa thuận về giá bán giữa người mua và người bán.
- Các khoản giảm trừ bao gồm: Chiết khấu thương mại, giá trị hàng bán
bị trả lại, giảm giá hàng bán, thuế gián thu.
+ Chiết khấu thương mại là khoản mà doanh nghiệp giảm trừ cho
người mua theo một tỷ lệ nhất định so với giá bán ghi trên hóa đơn do
việc người mua mua hàng với khối lượng lớn.
+ Giảm giá hàng bán là khoản mà doing nghiệp giảm trừ cho người
mua theo một tỷ lệ nhất định theo giá ghi trên hóa đơn do doanh
nghiệp không đảm bảo các điều kiện về hàng hóa như ghi trên hợp
đồng.
+ Giá trị hàng hóa bị trả lại phản ánh các khoản tiền hàng đã nhận của
khách hàng nay phải trả lại do việc cung cấp hàng hóa, sản phẩm
không đúng hợp đồng và người mua không chịu nhận hàng.
+ Các loại thuế gián thu đối với sản phẩm tiêu thụ bao gồm: thuế tiêu
thụ đặc biêt, thuế xuất nhập khẩu, thuế GTGT theo phương pháp gián
tiếp.
Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ. Đây là tổng của giá vốn hàng
bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Nguyễn Ngọc Phương 4 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Giá thành toàn
Giá vốn Chi phí bán Chi phí quản lý
bộ sản phẩm = + +
hàng bán hàng doanh nghiệp
tiêu thụ
- Giá vốn hàng bán là trị giá vốn của hàng bán, gồm chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
- Chi phí bán hàng gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
sản phẩm, hàng hóa dịch vụ như tiền lương nhân viên, chi phí vật liệu
bao bì, chi phí dụng cụ đo lường, chi phí khấu hao, chi phí khấu hao
tài sản cố định, chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí dịch vụ mua ngoài
và chi phí bằng tiền khác.
- Chi phí quản lý doanh doanh gồm các chi phí cho việc quản lý kinh
doanh, quản lý hành chính và chi phí chung có lien quan đến hoạt
động của toàn doanh nghiệp: lương nhân viên văn phòng, chi phí vật
liệu quản lý, chi phí đồ dung văn phòng, chi phí khấu hao tài sản cố
định, thuế, phí, lệ phí, chi phí dự phòng, chi phí dịch vụ mua ngoài,
chi phí bằng khác bằng tiền.
o Lợi nhuận từ hoạt động tài chính:
Lợi nhuận từ
Doanh thu Chi phí hoạt
hoạt động tài Thuế gián
= hoạt động tài + động tài +
chính thu (nếu có)
chính chính
Đây là số tiền chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt động tài chính và chi
phí hoạt động tài chính. Doanh thu hoạt động tài chính là các khoản thu từ
hoạt động vốn góp cổ phần, liên doanh liên kết, đầu tư chứng khoán, cho
thuê tài sản, cho vay lấy lãi chênh lệch có lợi do tỷ giá hối đoái… Còn chi
phí hoạt động tài chính là những chi phí cho những hoạt động trên.
Nguyễn Ngọc Phương 5 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
o Lợi nhuận khác:
Lợi nhuận Thu nhập Thuế gián
= + Chi phí khác +
khác khác thu (nếu có)
Đây là chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác phát sinh do các
hoạt động như thanh lý tài, nhượng bán tài sản , thu tiền phạt vi phạm hợp
đồng, nhận quà biếu…
Như vậy, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp.
Lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp nói riêng và với nền
kinh tế nói chung. Điều đó được thể hiện ở chỗ:
- Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lương tổng hợp nói lên kết quả toàn bộ hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhờ tổ chức sản xuất kinh doanh,
quản lý chi phí tốt, giá thành hạ mà doanh nghiệp thu được lợi nhuận
và lợi nhuận ngày càng cao.
- Lợi nhuận là nguồn tích lũy cơ bản để bổ sung vốn kinh doanh cho
doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng
một cách vững chắc. Lợi nhuận còn là nguồn chủ yếu để cải thiện đời
sống vật chất, tinh thần cho người lao động thong qua tiêu dùng của
quỹ khen thưởng phúc lợi được trích lập từ lợi nhuận sau thuế.
- Lợi nhuận của doanh nghiệp còn là nguồn thu quan trọng đối với ngân
sách nhà nước. Hàng năm, nhà nước được khoảng 25- 30% lợi nhuận
của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế dưới mọi hình
thức thu thuế thu nhập doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho
đầu tư xây dụng cơ sở hạ tầng, thực hiện tái sản xuất mở rộng trên
quy mô toàn xã hội. Qua đó, nhà nước sẽ thực hiện điều hòa lợi ích
trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, lợi nhuận cũng không phải là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá
chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của donh nghiệp cũng như để so
sánh giữa các doanh nghiệp khác nhau do có những hạn chế nhất định sau:
- Lợi nhuận là kết quả cuối cùng, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, có
nhân tố do khách quan và có nhân tố do chủ quan. Các nhân tố đó có
thể ảnh hưởng cùng chiều hay ngược chiều đến lợi nhuận nên kết quả
cuối cùng là lợi nhuận đã chứa đựng sự bù trừ qua lại.
Nguyễn Ngọc Phương 6 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
- Do điều kiện kinh khác nhau về nhiều mặt giữa các doanh nghiệp
thuộc lĩnh vực kinh doanh khác nhau, việc so sánh lợi nhuận để đánh
giá kết quả kinh sẽ không mang lại tính khách quan toàn diện. Ngay
cả với doanh nghiệp cùng ngành, lợi nhuận cũng rất khác biệt khi
doanh nghiệp có thuận lợi hay khó khăn riêng.
- Ngoài ra, lợi nhuận của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào rất nhiều quy
mô kinh doanh. Thông thường, doanh nghiệp có quy mô lớn thường
thu được lợi nhuận cao hơn các doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Vì vậy để đánh giá sát hơn, toàn diện hơn tình hình kinh doanh của
một doanh nghiệp, ngoài chỉ tiêu lợi nhuận người ta còn sử dụng chỉ tiêu tỷ
suất lợi nhuận.
1.1.2.Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp:
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tương đối dùng để so sánh kết quả
kinh doanh giữa các thời kỳ của một doanh nghiệp hoặc giữa các doanh
nghiệp. Mức tỷ suât lợi nhuận càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp kinh
doanh có hiệu quả.
Có nhiều cách để xác định tỷ suất lợi nhuận. Mỗi cách có một nội
dung kinh tế riêng để đánh giá kết quả trên góc độ khác nhau. Sau đây là
một số chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thường dùng.
a,Tỷ suất lợi nhuận vốn sản xuất kinh doanh:
Tỷ suất lợi nhuận vốn sản xuất kinh doanh là quan hệ giữa số lợi
nhuận đạt được với số vốn sản xuất kinh doanh sử dụng bình quân trong kỳ
(gồm vốn cố định và vốn lưu động).
Công thức xác định:
Lợi nhuận trước thuế ( hoặc sau thuế )
Tỷ suất vốn sản
= trong kỳ x 100%
xuất kinh doanh
Vốn Kinh doanh bình quân trong kỳ
Trong đó:
Vốn kinh doanh = Vốn cố định + Vốn lưu động.
Vốn cố định = Nguyên giá TSCĐ - Số khấu hao lũy kế.
Nguyễn Ngọc Phương 7 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Vốn lưu động gồm vốn lưu động trong khấu hao dự trữ sản xuất, vốn
lưu động trong khâu sản xuất và vốn lưu động trong khâu lưu thong.
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp, cụ thể là: nếu trong kỳ doanh nghiệp sử dụng 100 đồng vốn kinh
doanh bình quân thì doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước
thuế (hoặc sau thuế). Do đó, tỷ suất lợi nhuận vốn sản xuất kinh doanh nói
lên trình độ sử dụng tiền vốn, vật tư, tài sản của doanh nghiệp, qua đó kích
thích việc sử dụng vốn hiệu quả nhất, tức mang lại nhiều lợi nhuận nhất so
với số vốn tham gia kinh doanh nhỏ nhất.
b,Tỷ suất lợi nhuận giá thành:
Tỷ suất lợi nhuận giá thành là quan hệ tỷ lệ gữa lợi nhuân tiêu thụ
(trước thuế hoặc sau thuế) với doanh thu bán hàng trong kỳ.
Công thức xác định:
Lợi nhuận trước thuế ( hoặc sau thuế )
Tỷ suất lợi trong kỳ
= x 100%
nhuận giá thành Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ
trong kỳ
Đây là một chỉ số tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Cụ thể là doanh nghiệp cứ thu được 100 đồng doanh thu
bán hàng trong kỳ thì doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
trước thuế hoặc sau thuế.
c,Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu là tỷ lệ giữ lợi nhuận sau thuế với
số vốn chủ sở hữu tham gia kinh doanh trong kỳ.
Công thức xác định:
Tỷ suất lợi Lợi nhuận trước thuế ( hoặc sau thuế )
nhuận doanh thu = trong kỳ x 100%
bán hàng Doanh thu bán hàng trong kỳ
Nguyễn Ngọc Phương 8 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Chỉ tiêu này phản ánh: trung bình khi doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng
vốn chủ sở hữu vào kinh doanh thì thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận
sau thuế. Đây là chỉ tiêu được quan tâm nhất vì nó thể hiện hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã mang lại cho họ kết quả như thế nào.
Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận sau thuế
= x 100%
vốn sở hữu Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
Ngoài các chỉ tiêu doanh lợi (tỷ suất lợi nhuận) phổ biến nêu trên,
người ta còn có thể xác định doanh lợi vốn cố định, doanh lợi vốn lưu
động… để đánh giá và so sánh kết quả trong những trường hợp cần thiết.
1.2.SỰ CẦN THIẾT PHÂN ĐẤU TĂNG LỢI NHUẬN DOANH
NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY.
Như trên đã phân tích, để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh,
người ta có thể dùng chỉ tiêu lợi nhuận hoặc tỷ suất lợi nhuận. Các chỉ tiêu
này càng cao thì hiệu quả kinh doanh càng cao. Do đó, vấn đề quan trong
nhất vẫn là tăng lợi nhuận, đây cũng là mục tiêu của mọi doanh nghiệp. Đặc
biệt, trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì vẫn đề lợi nhuận được quan
tâm hơn bao giờ hết và sự gia tăng lợi nhuận là rất cần thiết. Điều này có thể
lý giải bằng những lý do trình bày sau đây.
1.2.1.Xuất phát từ vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp:
Trong cơ chế thị trường, nhiều thành phần kinh tế mới ra đời cùng với
sự xóa bỏ bao cấp với thành phần kinh tế Nhà nước mọi doanh nghiệp phải
đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt thì chỉ bằng cách kinh doanh có lãi
doanh nghiệp mới tồn tại được.
Phần lớn lợi nhuận còn lại sau khi bù đắp tất cả chi phí sẽ là nguồn
tích lũy cơ bản để doanh nghiệp tái sản xuất, đầu tư mở rộng và đáp ứng nhu
cầu chi dùng khác. Tái đầu tư sản xuất kinh doanh bằng lợi nhuận sẽ là một
nguồn chính đối với tất cả các doanh nghiệp. Ngay cả khi doanh nghiệp
muốn vay them vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh thì phải thể hiện tình
hình kinh doanh tốt đẹp, có khả năng thu lợi nhuận hay không thì mới thuyết
Nguyễn Ngọc Phương 9 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
phục người đầu tư bỏ vốn. Đối với doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh, nguồn tích lũy chủ yếu là từ lợi nhuận thu được.
Như vậy, lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Nó là chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh
doanh, trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng
thời lợi nhuận còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng tác động với sự hoàn thiện
và phát triền kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp làm ăn phát đạt,
lợi nhuận cao và ổn định thì uy tín sẽ được nâng cao, mở rộng quy mô và
liên kết với các đơn vị khác.
Bên cạnh đó, việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp cũng có vai trò
quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp
kinh doanh có lãi, nộp thuế cho ngân sách nhà nước sẽ làm tăng tích lũy và
mở rộng sản xuất kinh doanh trên quy mô toàn bộ nền kinh tế.
1.2.2.Xuất phát từ yêu cầu phát huy quyền tự chủ tài chính và tự chủ
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
Vấn đề tự chủ tài chính cũng là mới so với trước đây và yêu cầu phát
huy quyền tự chủ tài chính của doanh nghiệp sẽ ngày càng cao hơn trong
nền kinh tế thị trường. Trước đây, quan hệ cấp phát giữa ngân sách nhà
nước và doanh nghiệp dẫn tới việc đồng vốn được sử dụng máy móc theo
kiểu “tiền nào của nấy” chứ không phải vì mục tiêu hiệu quả, mọi vận động
của tài chính doanh nghiệp đều tuân theo chỉ huy của nhà nước. Chuyển
sang cơ chế mới, các doanh nghiệp nhà nước được mở rộng quyền hạn chế
về quản lý, sử dụng vốn để phát huy quyển tự chủ tài chính. Doanh nghiệp
Nhà nước hiện nay được sử dụng linh hoạt số vốn nhà nước giao, có quyền
huy động thêm vốn hoặc đầy từ vốn ra bên ngoài miễn sao có hiệu quả sử
dụng đồng vốn là cao nhất. Kết quả kinh doanh sau khi thực hiện nghĩa vụ
với nhà nước được giữ lại cho nhà đầu tư tái sản xuất. Nhờ sự đổi mới này
mà các doanh nghiệp nhà nước có quyền tự chọn phương án kinh doanh có
lợi cho mình, tự do ký kết hợp đồng kinh doanh. Và cũng vì vậy, doanh
nghiệp nhà nước không còn con đường nào khác là phải tự kinh doanh có lãi
để hướng tới sự phát triển vốn, tạo tích lũy cho doanh nghiệp.
Nguyễn Ngọc Phương 10 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Còn đối với doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
mà sự ra đời được lấy mốc từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, Nhà nước cũng ban hành chính sách, quy định để tạo điều
kiện thuận lợi cho việc huy động vốn, đầu từ vốn… Nhà nước chỉ thực hiện
chức năng quản lý Nhà nước đối với các thành phần kinh tế này chứ các
quyết định kinh doanh, sử dụng vốn là hoàn toàn do chủ sở hữu doanh
nghiệp thực hiện. Với quyền tự chủ tài chính như vậy, mọi doanh nghiệp
đều hướng tới lợi nhuận và tăng lợi nhuận, lấy đó làm kết quả kinh doanh
phải phấn đấu để tồn tại và phát triển.
1.2.3.Xuất phát từ tình hình thực hiện lợi nhuận của các doanh nghiệp
trong điều kiện hiện nay.
Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp đã đóng góp vào sự tăng
trưởng của nền kinh tế trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng
không ít các doanh nghiệp hoạt động chưa thực sự có hiệu quả, đặc biệt là
doanh nghiệp nhà nước. Bộ phận doanh nghiệp nhà nước này vẫn được sự
bảo hộ của Nhà nước như được trợ giá đối với một số mặt hàng, được giao
vốn kinh doanh, được Nhà nước giúp đỡ cạnh tranh với hàng nhập khẩu qua
hàng rào thuế quan. Sự bảo hộ một mặt có tác động tích cực, một mặt cũng
khiến cách doanh nghiệp trở nên thụ động, sức cạnh tranh kém.
Thực tiễn trên cùng với xu thế quốc tế hóa nền kinh tế thế giới đã đặt
ra vấn đề tháo gỡ dần sự bảo hộ của Nhà nước đối với doanh nghiệp trong
nước để kích thích sự sáng tạo và tự chủ của các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế. Chỉ bằng cách đó mới buộc các doanh nghiệp phải
không ngừng cải tiến, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng lợi nhuận, góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và hội nhập cùng khu vực và thế giới.
Việt Nam tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và gia nhập tổ
chức thương mại quốc tế (WTO) đem đến cho doanh nghiệp trong nược
nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn. Những doanh nghiệp có tiềm lực
mạnh, lợi nhuận ổn định hoàn toàn có thể nghĩ đến việc mở rộng phạm vi
kinh doanh ra các nước khác. Đồng thời, khi hàng hóa của nước ngoài nhập
vào Việt Nam mà không còn hàng rào thuế quan thì buộc các doanh nghiệp
trong nược phải chấp nhận cạnh trạnh và chỉ có kinh doanh hiệu quả, lợi
Nguyễn Ngọc Phương 11 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
nhuận gia tăng mới giúp được doanh nghiệp đứng vững và phát triển. Đặc
biệt khi nền kinh tế vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng tàn dư từ cuộc khủng
hoảng, sự cạnh tranh khốc liệt để có thể sinh tồn vượt qua tình hình khó
khăn càng dồi hỏi doanh nghiệp phải cố gắng hơn trong việc bảo toàn lợi
nhuận, giữ vững chỗ đứng, mở rộng thị phần. Vấn đề tìm các biện pháp để
gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp lại càng trở nên quan trọng quyết định
sự tồn tại của doanh nghiệp trong tình hình hiện nay.
1.3.CÁC BIỆN PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ TĂNG LỢI NHUẬN CỦA
DOANH NGHIỆP.
Việc phấn đấu tăng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận là nhiệm vụ cần
thiết, thường xuyên của các doanh nghiệp. Với mỗi doanh nghiệp. tùy thuộc
vào điều kiện và đặc điểm kinh doanh cụ thể của mình mà tìm ra các giải
pháp thích hợp để tăng lợi nhuận. Nhìn chung để tăng lợi nhuận trong các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiện nay có một số giải pháp chủ yếu sau
đây.
1.3.1.Tăng số lượng và chất lượng sản phẩm tiêu thụ.
Lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ được xác định sau khi quá trình tiêu
thụ diễn ra mà kết quả của việc tiêu thụ sản phẩm lại phụ thuộc rất lớn vào
khối lượng và chất lượng sản phẩm bán ra. Sản phẩm tiêu thụ càng nhiều thì
doanh thu tiêu thụ thu về càng lớn. Chất lượng sản phẩm càng cao thì khiến
việc tiêu thụ sản phẩm của công ty càng dễ dàng, nhanh chóng thu được tiền
hàng. Do đó, tăng số lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa dịch
vụ là một phương hướng chủ yếu để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Về mặt sản xuất, để tăng khối lượng sản phẩm sản xuất, doanh nghiệp
cần tìm các biện pháp để tổ chức tốt nhất các nguồn lực như tổ chức lao
động sao cho phù hợp với khả năng trình độ của công nhân viên, khuyến
khích cung ứng kịp thời, đầy đủ các nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất
kinh doanh diễn ra một cách thuận lợi, trang bị cơ sở vật chất phù hợp với
quy mô kinh doanh và trình độ công nhân… Qua đó tận dụng được mọi
năng lực về nhân công, máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động, nâng
cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
Nguyễn Ngọc Phương 12 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Về mặt tiêu thụ, để tăng được khối lượng tiêu thụ, công ty cần làm tốt
công tác như:
- Kế hoạc sản xuất kinh doanh của ngành phải xuất phát từ nghiên cứu
nhu cầu thị trường về các loiaj sản phẩm, dịch vụ. Do đó, doanh
nghiệp phải có chính sách Marketing thích hợp để tìm hiểu nhu cầu
thị trường, giới thiệu sản phẩm của mình đối với khách hàng và kích
thích họ lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp.
- Đa dạng hóa sản phẩm, mở ộng loại hình kinh doanh để đáp ứng
những nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng.
- Áp dụng nhiều hình thức bán hàng như bán buôn, bán lẻ, bán hàng trả
góp… để đáp ứng mọi nhu cầu và khả năng tài chính của khách hàng,
đồng thời tăng doanh thu doanh nghiệp.
- Thực hiện chinh sách thanh toán mềm dẻo và giá cả linh hoạt sao cho
tiêu thụ được khối lượng sản phẩm tiêu thụ nhiều nhất và đảm bảo
khả năng thu hồi vốn cho doanh nghiệp…
Xét tói sự ảnh hưởng của nhân tố chất lượng sản phẩm tới lợi nhuận
của doanh nghiệp cũng rất quan trọng vì trong điều kiện hiện nay, chất
lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp, chất lượng sản
phẩm cao thì khả năng tiêu thụ càng lớn, uy tín của doanh nghiệp càng
cao… Đây là các nhân tố thuộc về chủ quan của doanh nghiệp nên doanh
nghiệp cần xây dựng các định mức về sản xuất theo đúng tiêu chuẩn chất
lượng quốc gia và quốc tế để ra, phấn đấu thực hiện tốt kế hoạch định mức
hay thiết kế kỹ thuật để đảm bảo chất lượng sản phẩm là tốt nhất.
1.3.2.Lựa chọn kết cầu mặt hàng tiêu thụ hợp lý:
Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường
đưa ra thị trường nhiều loại sản phẩm khác nhau, trong mỗi loại lại chia
thành các kích cỡ, mẫu mã khác nhau và tất yếu là giá bán khác nhau. Khi
thay đổi kết cầu mặt hàng tiêu thụ sẽ làm cho tổng lợi nhuận thay đổi theo.
Nếu tăng tỷ trọng của sản phẩm có lợi nhuận đơn vị cao, giảm tỷ trọng sản
phẩm có lợi nhuận đơn vị thấp thì quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ
lớn hơn và ngược lại…
Nguyễn Ngọc Phương 13 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Việc thay đổi kết cấu mặt hàng tiêu thụ có thể do nguyên nhân khách
quan từ phía thị trường nhưng cũng có thể xuất phát từ chủ quan của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp cần bám sát nhu cầu thị trường để tạo ra cho mình
một kết cấu thích hợp, đồng thời tìm tói, nghiên cứu chế tạo ra các sản phẩm
mới ưu việt hơn thay thế cho sản phẩm đã lạc hậu đồng thời đem lại lợi
nhuận cao hơn. Để thực hiện được điều đó, doanh nghiệp cần phải:
- Nghiên cứu, khảo sát thị trường để từ đó lựa chọn một kết cấu sản
phẩm hợp lý, phù hợp với nhu cầu.
- Thực hiện theo hợp đồng đã ký kết với khách hàng, chỉ được thay đổi
kết cấu về mặt hàng nếu có sự thay đổi từ phía khách hàng. Doanh
nghiệp không tự ý thay đổi kết cấu mặt hàng tiêu thụ, đặc biệt khi
doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng để giữ uy tín doanh nghiệp
trong kinh doanh.
1.3.3.Hạ giá thành sản phẩm.
Từ công thức xác định lợi nhuận nêu trên ta cũng thấy giá thành toàn
bộ sản phẩm giảm bao nhiêu thù lợi nhuận tăng bấy nhiêu. Hạ giá thành sản
phẩm chính là giảm các chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bao gồm: chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gồm: các chi phí về nguyên vật liệu,
nhiên liệu sử dụng trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: chi phí tiền lương, tiền công,
các khoản trích nộp của nhân công trực tiếp tạo ra sản phẩm và dịch vụ mà
doanh nghiệp phải nộp theo quy định của bảo hiểm xã hội, kinh phí công
đoàn, bào hiểm y tế của công nhân sản xuất.
Chi phí sản xuất chung là các chi phí sử dụng cho hoạt động sản xuất,
chế biến sản phẩm của phân xưởng trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ. Bao gồm : chi phí vật liệu, công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố
định của nhân viên xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền phát
sinh ở phạm vi phân xưởng.
Về chi phí bán hàng, đây là những khoản chi phí bỏ ra để đảm bảo
cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ và được thực hiện của
Nguyễn Ngọc Phương 14 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
doanh nghiệp. Những khoản chi phí này bao gồm: tiền lương, các khoản phụ
cấp phải trả cho công nhân viên bán hàng, tiếp thị đóng gói, vận chuyển,
bảo quản, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu, bao bì, dụng cụ
đồ dùng, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền. Chi phí bán
hàng phụ thuộc vào đặc điểm sản xuât kinh doanh, điều kiện tự nhiên và xã
hội của địa phương, tình hình thị trường tiêu thụ.
Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm các khoản chi phí quản lý kinh
doanh, chi phí quản lý hành chính và chi phí chung khác có liên quan đền
qoàn bộ hoạt động của doanh nghiệp như chi phí tiền lương và các khoản
phụ cấp trả cho ban giám đốc và nhân viên quản lý làm ở các phòng ban, chi
phí tiếp tân… Các khoản này thương chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá thành
nhưng càng tiết kiệm được bao nhiêu thì giá thành hàng hóa dịch vụ sẽ càng
hạ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên.
Tăng lợi nhuận bằng cách hạ giá thành có ý nghĩa to lớn không chỉ
đối với kinh doanh mà còn đối với toàn bộ xã hội vì nó làm tăng lợi nhuận
mà không tăng thêm chi phí. Đây là phương pháp cơ bản và lâu dài để tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng các doanh nghiệp cần chú ý giảm đi chi
phí một cách hợp lý để đảm bảo chất lượng hoạt động, chất lượng sản phẩm
và uy tín của doanh nghiệp. Để hạ giá thành sản phẩm các doanh nghiệp cần
thực hiện tốt các giải pháp sau.
- Phấn đây tăng năng suât lao động bằng nhiều các
+ Cải tiền máy móc thiết bị cho phù hợp vơi điều kiện sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện để quá trình sản xuất tận dụng
được tối đa công suât máy móc thiết bị.
+ Khai thác tối đa công suất máy móc thiết bị đi đôi với việc sắp xếp
lao động hợp lý, sữa chữa bảo dưỡng máy móc thiết bị định kỳ, tuân
thủ nghiêm ngặt các yêu cầu của quy trình kỹ thuật.
+ Nâng cao trình độ tay nghề và ý thức trách nhiệm của người lao
động. Phối hợp sử dụng linh hoạt các đòn bẩy kinh tế như tiền lương,
tiền thưởng,… nhằm khuyến khích lòng nhiệt tình, hăng say lao
động, có sáng kiến trong sản xuất để giảm chi phí, tổ chức lao động
Nguyễn Ngọc Phương 15 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
theo hướng giảm tối đa lao động gián tiếp, xây dựng bộ máy quản lý
gọn gang mà hiệu quả để giảm bớt chi phí…
- Phấn đấu tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao. Đây là công tác có ý
nghĩa quan trọng trong việc hạ giá thành vì chi phí nguyên vật liệu
thương chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản xuất sản phẩm. Để tiết
kiệm nguyên vật liệu tiêu hao cần giảm tỷ lệ hao hụt, giảm mức tiêu
hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm… Do đó, cần có các
biện pháp bảo quản nguyên vật liệu, quy định hạn mức tiêu hao
nguyên vật liệu, thường xuyên giám sát quá trình sản xuất nhằm ngăn
chặn kịp thời tình trạn mất mát , sử dụng lãng phí vật tư, tận dụng tối
đa phế liệu để tăng thu nhập cho doanh nghiệp… Bên cạnh đó, mức
tiêu hao nguyên vật liệu còn phụ thuộc nhiều đến trang thiết bị sử
dụng nên cần coi trọng đối với máy móc thiết bị, áp dụng công nghệ
mới cho phép sử dụng tiết kiệm vật tư hay sử dụng rẻ tiền thay cho
đắt tiền, nguyên vật liệu trong nước sản xuất được thay cho loại nhập
khẩu.
1.3.4.Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Như vậy, những giải pháp về tăng doanh thu và hạ giá thành sản
phẩm nhằm tăng lợi nhuận nêu trên là xuất phát từ quan hệ doanh thu- chi
phí- lợi nhuận nên rất dễ nhận thấy cơ chế tác động của chúng tới lợi nhuận
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, lợi nhuận của doanh nghiệp còn được tăng khi
đồng vốn tham gia kinh doanh có hiệu quả, với một lượng vốn nhất định tạo
ra nhiều lợi nhuận nhất hay để tạo ra một lượng lợi nhuận nào đó thì cần bỏ
ra ít vốn nhất. Do đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng là một cách để
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có thể chia thành hai bộ phận
là: vốn lưu động và vốn cố định. Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của
các loại vật tư, hàng hóa, thành phẩm… Sử dụng tốt vốn lưu động nghĩa là
việc nâng cao hiệu quả sử dụng của chúng, tăng tốc độ luân chuyển của vốn
lưu động. Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động nói lên tình hình tổ chức
các mặt công tác mua sắm, dự trữ, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp có
hợp lý hay không, vật tư dự trữ cho sản xuất có đảm bảo chất lượng hay
Nguyễn Ngọc Phương 16 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
không, doanh nghiệp có hợp lý chiếm dụng vốn nhiều hay ít… Tốc độ luân
chuyển vốn tăng tức là đồng vốn đã được quay vòng nhanh hơn, điều đó
cũng có nghĩa doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra ít vốn hơn mà vẫn đảm bảo hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình được diễn ra liên tục. Do đó, việc sử
dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ làm cho giá thành sản phẩm hạ và tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Còn bộ phận vốn cố định lại có ý nghĩa quan trọng
khác, vì nó mang tính chất quyết định đến năng lực sản xuất của doanh
nghiệp. Mặt khác, vốn cố định thường gắn với đầu tư dài hạn, thu hối vốn
chậm và dễ gặp rủi ro. Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng
là trọng điểm của công tác tài chính doanh nghiệp.
Để làm tốt công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh
doanh, các doanh nghiệp cần chú ý đến các vấn đề sau đây:
- Lựa chọn các phương án kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất, đảm bảo
kết cấu tài sản cố định hợp lý theo xu hướng tăng tài sản cố định trực
tiếp sản xuất, sử dụng biện pháp khấu hao hợp lý nhằm hạn chế ảnh
hưởng của hao mòn vô hình làm thất thoát vốn kinh doanh.
- Tăng cường công tác kiểm tra giám đốc tài chính đối với các bộ phận
vốn lưu động như vốn dự trữ sản xuất, vốn thành phẩm dở dang, vốn
thành phẩm,… Kiểm tra chặt chẽ các định mức tiêu hao nguyên vật
liệu, phat huy tinh thần năng động sáng tạo, tinh thầm làm chủ của
người lao động, trên cở sở đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Chú trọng công tác tổ chức tài chính của doanh nghiệp, làm cho tài
chính của doanh nghiệp thực sự trở thanh công cụ quản lý, điều hành
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách có hiệu quả.
- Ngoài ra, để phân tích rủi ro và góp phần tăng thêm hiệu quả sử dụng
vốn, các doanh nghiệp có thể đầu tư ra bên ngoài như góp vốn liên
kết, mua cổ phiếu, trái phiểu của các đơn vị làm ăn có hiệu quả.
Trên đây là một số giải phấp cở bản để tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp cần chú trọng đặc biệt tới việc nâng cao
chất lượng và uy tín của doanh nghiệp và mỗi doanh nghiệp phải tùy vào
đặc điểm kinh doanh và phương hướng phát triển của mình, kết hợp với
Nguyễn Ngọc Phương 17 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
những giải pháp cơ bản trên thì mới có thể đưa ra giải pháp cụ thể một cách
hữu hiệu nhất. Không thể có một mô hình chung cho tất cả các doanh
nghiệp. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần làm tốt những việc sau:
- Phối hợp các mặt quản lý để tìm ra các giải pháp thích hợp nhất có thể
phát huy những mặt mạnh của chính mình.
- Xác định các lợi thể về vốn, lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật, ngành
nghề kinh doanh, thị trường tiêu thụ. Từ đó, tự do lựa chọn áp dụng
các biện pháp giải quyết vấn đề hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản
phẩm, tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Trong các công tác lập vốn và quản lý sử dụng vốn lựa chọn phương
thức huy động vốn hợp lý nhất để giảm chi phí sử dụng vốn, đảm bảo
huy động vốn kịp thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện tốt
các kế hoạch sản xuất kinh doanh. Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt
động sản xuất kinh doanh, nên bắt kịp thời các cở hội kinh danh.
Trong công tác quản lý vốn cần thực hiện chế độ giao trách nhiệm
quản lý và sử dụng cho từng nơi sử dụng để bảo vệ tài sản, tránh tình
trạng mất mát hư hỏng tài sản của doanh nghiệp. Tìm biện pháp tăng
nhanh vòng quay vốn, tính toán hiệu quả kinh tế của các phương án
trước khi thực hiện.
Công ty Tôn Phương Nam là một doanh nghiệp hoạt động sản xuất
kinh danh nên cũng không nằm ngoài mục tiêu lợi nhuận và phấn đấu đạt lợi
nhuận ngày càng cao. Sau đây, chúng ta sẽ đi sau nghiêm cứu một cách cụ
thể và chi tiết vấn đề thực hiện lợi nhuận giai đoạn 2009- 2010 và các giải
pháp tăng lợi nhuận tại công ty Tôn Phương Nam.
Nguyễn Ngọc Phương 18 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
CHƯƠNG 2:
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI NHUẬN TẠI CÔNG
TY TÔN PHƯƠNG NAM
2.1 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP, PHÁT TRIỂN VÀ
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TÔN PHƯƠNG NAM
2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển:
Công ty Tôn Phương Nam (SSSC) là đơn vị liên doanh giữa Công ty
Thép Miền Nam, nay là Tổng Công ty Thép Việt Nam với các công ty:
Simitomo Corporation- Nhật Bản và Federal Iron Works Sdn.Bhd-
Malaysia.
Công ty được thanh lập theo giấy phép đầu tư số 1264/GP ngày
09/06/1995 của UBND về Hợp Tác và Đầu tư, nay là Bộ Kế hoạch và đầu tư
và giấy chứng nhận thay đổi làn 2 số 472023000615 ngày 09/08/2010 của
Ban Quản lý các khu công nghiệp Đồng Nai.
Ngày 22/06/1995, tiến hành Lễ động thổ xây dựng nhà xưởng, đến
tháng 06/1997 hoàn thiện phần xây dựng- lắp đặt thiết bị dây chuyền mạ tự
động của Australia và đưa dây chuyền vào sản xuất.
Tháng 06/1998, công ty lắp đặt xong và đưa vào hoạt động dây
chuyền mạ màu tự động hóa tiên tiến nhất Việt Nam do Canada chế tạo.
Công ty đã và đang là đơn vị số 1 dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất kinh
doanh tôn mạ kẽm và tôn mạ màu dạng cuộn tại Việt Nam.
2.1.2 Định hướng của công ty trong thời gian tới
- Tiếp tục khai thác năng suất, chất lượng; duy trì và mở rộng thị
trường tôn mạ kẽm, tôn mạ màu;
- Đầu tư mới thiết bị, công nghệ dây chuyền mạ hợp kim nhôm kẽm
công suất 150.000 tấn/năm nhằm đáp ứng nhu cầu sản phẩm chất lượng cao
và đa dạng hơn cho thị trường.
2.1.3 Thành tựu về sản xuất kinh doanh công ty đã đạt được trong thời
gian qua:
Nguyễn Ngọc Phương 19 Lớp K45/11.09
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Công ty Tôn Phương Nam là một Công ty sản xuất kinh doanh hơn 10
năm luôn có hiệu quả cao, mức tăng trưởng trung bình là 20%/năm; không
có tai nạn lao động, không có khiếu kiện; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp
ngân sách Nhà nước.
Công ty luôn cải tiến và đầu tư nâng cấp thiết bị, công nghệ để theo kịp tiến
bộ kỹ thuật mới của thời đại, luôn duy tu nhà xưởng đảm bảo nơi làm việc
sạch đẹp.
- Bằng khen của Bộ Công Nghiệp, Tổng Công Ty Thép Việt
Nam.Từ năm 2000 đến nay liên tục các năm đều được Bộ Công nghiệp,
Tổng Công Ty Thép Việt Nam tặng bằng khen.
- Bằng khen của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Công đoàn
Công nghiệp Việt Nam tặng bằng khen về công tác “Xanh, sạch đẹp và an
toàn”.
- Được bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều
năm liền.
- Huy chương vàng sản phẩm tôn mạ kẽm và tôn mạ màu
- Bằng khen của UBND TỈNH THỪA THIÊN HUẾ vì đã có nhiều
đóng góp tích cực trong việc tổ chức Hội Chợ Triển Lãm Festival Huế 2006
- Lễ đón nhận chứng chỉ ISO 9001:2000 (ISO 9001: 2000: Quy
định các yêu cầu đối với hệ thống quản lý chất lượng khi công ty cần chứng
tỏ năng lực của mình trong việc cung cấp sản phẩm đáp ứng các yêu cầu của
khách hàng và các yêu cầu chế định tương ứng và nhằm nâng cao sự thỏa
mãn của khách hàng).
- ISO IEC/17025: 1999. SSSC là công ty đầu tiên của nghành sản
xuất tấm lợp ở Việt Nam áp dụng hệ thống ISO IEC/17025: 1999 cho phòng
thí nghiệm.
(Hệ thống ISO IEC/17025: 1999 được áp dụng theo tiêu chuẩn quốc
tế để chứng nhận:
- Phòng thí nghiệm có năng lực kỹ thuật và có thể cung cấp các kết
quả có giá trị về mặt kỹ thuật
- Phù hợp với ISO 9001:2000
Nguyễn Ngọc Phương 20 Lớp K45/11.09