Lạm phát và hậu quả của lạm phát

  • 11 trang
  • file .docx
LỜI NÓI ĐẦU
Lạm phát, dường như đó là căn bệnh trung của nền kinh tế thị trường.
Nói đến lạm phát ta có thể hình dung ra ngay sự suy thoái của nền kinh tế,
dù có thể ta chưa hiểu rõ về khái niệm này. Tác hại của lạm phát gây ra thật
khôn lường như chúng ta đã được chứng kiến trong thời gian vừa qua ở
nước ta, bằng chứng là chúng ta đã phải đổi mới một loạt cơ chế chính sách,
thực hiện những cải cách thị trường. Chính vì muốn tìm hiểu được vấn đề
này rõ hơn, em đã chọn cho mình đề tài “Lạm phát và hậu quả của lạm
phát”. Với kiến thức hạn chế của môn học bài viết của em không thể tránh
khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy
cô. Nhân đây em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo -
người đã hướng dẫn em hoàn thành bài viết này.
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
I. LẠM PHÁT
1
1. Khái niệm
Lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ, là tình trạng khối lượng tiền giấy
tràn đầy các kênh lưu thông tiền tệ vượt quá các nhu cầu kinh tế được biểu
hiện ở sự mất giá của tiền tệ, mà sự mất giá của tiền tệ lại biểu hiện rõ rệt
nhất ai cũng thấy được là sự tăng giá bình quân của tất cả mọi thứ hàng hoá.
Lạm phát xảy ra khi giá cả mọi thứ hàng hoá, dịch vụ và mọi chi phí đều
tăng tuy nhiên với một tốc độ và tỉ lệ không đều nhưng nói chung mọi thứ
đều tăng giá.
Như vậy, đặc tính cơ bản chung về lạm phát là hiện tượng giá cả chung tăng
lên và giá trị, đúng hơn là sức mua thực tế của đồng tiền giảm xuống.
2. Các mức lạm phát
 Lạm phát vừa phải: Là loại lạm phát xảy ra với tốc độ
gia tăng giá cả chậm, chỉ ở mức một con số hay dưới 10%/năm. Đây là loại
lạm phát phổ biến và tồn tại gần như thường xuyên, một “căn bệnh khinh
niên” cố hữu và đặc trưng ở hầu hết các nền khinh tế thị trường trên thế giới.
 Lạm phát phi mã: Được nhận dạng khi mức tăng giá cả
đạt tới “ngưỡng” thường là từ 2 đến 3 con số (20%, 100%, 200%…) một
năm.
 Siêu lạm phát: Hiện tượng cực hiếm chỉ xảy ra vào thời kỳ chiến
tranh hay chuyển đổi cơ chế kinh tế, khi đó tốc độ tăng giá vượt xa mức lạm
phát phi mã và vô cùng không ổn định. Đã từng có những siêu lạm phát mà
tốc độ mất giá của tiền cũng như tăng giá hàng năm tới 8-10 chữ số không
trong một năm.
3. Đo lường lạm phát.
Người ta cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọng kinh tế của nó.
Tầm quan trọng kinh tế của mỗi mặt hàng được tính bằng phần của tổng số
chi tiêu cho tiêu dùng dành cho mặt hàng đó trong kỳ tính toán:
2
Ví dụ: t = năm tính toán
CPIt = giá trị của CPI trong năm t
Pt gạo = giá gạo trong năm t
Pt thực phẩm = giá thực phẩm trong năm t
Po gạo = giá gạo trong năm gốc.
Phần của gạo = % dành cho gạo trong tổng số chi tiêu dùng của thời kỳ lạm
phát.
ptgao
CPI t = P ogao x 100 x % của gạo
Ngoài chỉ số giá trị tiêu dùng là chỉ số sử dụng phổ biến nhất, còn hai chỉ số
khác có thể sử dụng được, đó là chỉ số giá cả sản xuất và chỉ số giảm lạm
phát GNP.
Chỉ số giá cả sản xuất ( PPI – Production Price Index) là chỉ số giá bán
buôn bán. PPI được xây dựng để tính giá cả trong lần bán đầu tiên, chỉ số
này rất có ích, và nó được tính chi tiết sát với những thay đổi của thực tế.
Chỉ số giảm lạm phát GNP là chỉ số giá cả cho toàn bộ GNP. Tỉ số này
được áp dụng bằng tỉ lệ GNP danh nghĩa và GDP thực tế. Chỉ số này cũng
có ích, vì nó bao gồm giá tất cả các lọai hàng hoá và dịch vụ trong GNP, do
nó đầy đủ và toàn diện hơn CPI.
II. HẬU QUẢ CỦA LẠM PHÁT.
Lạm phát tác động trực tiếp đến nền kinh tế, làm thây đổi mức độ và
hình thức sản lượng, đồng thời tạo ra sự phân phối lại thu nhập và của cải xã
hội. Tác hại của lạm phát tỉ lệ thuận với tốc độ lạm phát với mức độ tiến
không thể dự báo trước và vượt ra khỏi khả năng điều tiết, kiềm chế của
chính phủ. Lạm phát phi mã và siêu lạm phát là những tai họa khủng khiếp
cho đời sống kinh tế – xã hội của một nước. Nhìn chung lạm phát có hậu
quả sau:
 Lạm phát làm biến dạng các yếu tố và tín hiệu thị trường, làm cho
toàn bộ các hoạt động kinh tế xã hội đặc biệt là các hoạt động kinh doanh
3
không thể tiến hành bình thường được. Bản thân vai trò điều tiết nền kinh tế
của chính phủ thông qua tiền tệ và thuế cũng bị suy giảm, do mức thuế trở
nên vô nghĩa trước tốc độ tăng lạm phát thời kì phi mã hoặc siêu lạm phát.
 Làm suy yếu thậm chí phá vỡ thị trường vốn và tín dụng. Lạm phát
thường tạo ra tình huống lãi suất thực tế âm, khiến tiết kiệm giảm sút và
chuyển hướng sản xuất. Bởi vậy, lạm phát thường đi kèm suy thoái kinh tế.
 Lạm phát làm biến dạng hành vi kinh doanh, đặc biệt là hành vi
đầu tư, do làm mất khả năng tính toán hợp lí về lợi nhuận. Lạm phát kiềm
hãm các đầu tư dài hạn, nhất là trong lĩnh vực sản xuất, kích thích đầu tư
ngắn hạn thường là là các tài sản mang lại lãi vốn, có tính đầu cơ, gây ra tình
trạng khan hiếm không bình thường.
 Lạm phát làm tăng nguy cơ phá sản do vỡ nợ và làm tăng chi phí
dịch vụ nợ nuớc ngoài tính bằng ngọai tệ của cả các doanh nghiệp lẫn chính
phủ, do lạm phát thường kéo theo những điều chỉnh nâng tỉ giá và lãi suất
đồng bản tệ với tư cách là các giải pháp nhằm thích nghi và kiềm chế lạm
phát (đồng thời, có trường hợp chính sự điều chỉnh phá giá bản tệ là nguồn
gốc trực tiếp làm gia tăng lạm phát do áp lực chi phí đẩy đối với hàng hoá,
vật tư nhập ngoại và tăng cầu đối sản phẩm nội địa và sự tương tác qua lại
giữa chúng nếu vượt quá khả năng kiểm soát của chính phủ, sẽ tạo ra vòng
xoáy bất tận: phá giá- lạm phát - phá giá .. tàn phá nền kinh tế và đời sống
kinh tế - xã hôị của quốc gia.)
 Việc phân phối thu nhập thường kém đồng đều trong các thời kì
lạm phát. Một số người lắm giữ các hàng hoá có giá cả tăng đột biến trở nên
giàu có nhanh chóng, và ngược lại, những người có hàng hoá, tài sản mà giá
cả không tăng hoặc tăng chậm bị nghèo đi, mức lương thực tế cũng sụt giảm
làm tổn hại đến mức sống thực tế của người có mức thu nhập thấp và cố
định. Phúc lợi xã hội dành cho tầng lớp nghèo trong xã hội cũng bị suy giảm
rõ rệt, thậm chí đổ vỡ, mất tác dụng.
4
 Sự mất ổn định của giá cả và tiền tệ còn là môi trường kinh doanh
trong nước xấu đi, khiến dòng đầu tư nước ngoài đầu tư chậm lại, đi đôi với
điều này là sự ra đi của những dòng vốn trong nước. Lạm phát kéo theo giá
cả hàng nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn, hạn chế những hàng hoá, vật tư cần
thiết. Lạm phát cao (thường trên 40%) luôn gắn với thâm hụt tài chính lớn
và thâm hụt đó trở nên nặng nề hơn, nhất là thâm hụt ngân sách
II. VIỆT NAM KHẮC PHỤC HẬU QUẢ LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN QUA.
Qúa khứ kéo dài của cơ chế quản lí hành chính quan liêu can thiệp trực
tiếp vào đời sống kinh tế xã hội, kéo theo nó là cơ chế bao cấp, bù lỗ qua
ngân sách nhà nước, coi nhẹ hiệu quả kinh tế, chạy theo các mục tiêu chính
trị của các hoạt động sản xuất xã hội, cùng với các cơ chế khác như cơ chế
bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu động lực phát triển là các lợi ích kinh tế
cá nhân, cơ chế nhà nước độc quyền cạnh tranh, dân chủ…, hợp lực của tất
cả đã tạo ra cơ chế làm tăng chi phí sản xuất và phi sản xuất, tạo ra tình
trạng khan hiếm phổ biến – mảnh đất màu mỡ cho quá trình tích tụ liên tục
những xung lực lạm phát, chuyển hoá dần chúng từ lạm phát ngầm, bị đè
nén sang lạm phát mở và bùng phát thành lạm phát phi mã, siêu lạm phát
trong suốt thời gian chuyển đổi nền kinh tế của đất nước.
Như chúng ta đã biết, trong hai thập kỉ vừa qua chúng ta đã rơi vào tình
trạng siêu lạm phát làm cho nền kinh tế suy giảm trầm trọng. Chúng ta đã
phải đổi tiền sau cuộc khủng hoảng đó. Nhưng với sự nhất quán của đảng và
nhà nước ta trong việc từng bứơc thay thế cơ chế quản lí cũ bằng cơ chế
quản lí mới. Đến nay, đã hình thành bước đầu những đường nét của nền
kinh tế vận hành theo nguyên tắc thị trường, có sự quản lí của nhà nước.
Thực tế đã chứng tỏ đầy thuyết phục sự đúng đắn của việc lựa chọn những
phương hướng và giải pháp chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1991- 1995: đưa ra
mục tiêu chống lạm phát lên vị trí hàng đầu và gắn liền với hệ thống quản lí,
thi hành chính sách giá cả thị trường, chính sách tiền tệ tín dụng chặt chẽ,
đổi mới hệ thống ngân hàng, phát triển kinh tế đối ngoại, hoàn thiện cơ chế
5
khoán hộ gai đình trong nông nghiệp, khuyến khích khu vực phi nhà nước
… Nhờ đó mà lần đầu tiên trong suốt 20 năm qua, Việt Nam đã đạt và vượt
mức hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1991-1995.
Lạm phát đưục kiềm chế, giá trị đồng tiền được ổn định, củng cố kinh tế
phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện làm tăng lòng tin của nhân dân
trong nước và thế giới vào con đường mà Việt Nam lựa chọn cho mình. Có
thể nói cho đến nay Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng, bước vào thời kì
mới: ổn định và phát triển.
Tuy nhiên cần chỉ ra rằng, dù đã làm được nhiều việc và đã thu được
thành tích đáng kích lệ, song chúng ta vãn còn nhiều việc phải làm trong
tương lai. Trong thời gian tới, cùng với sự tiếp tục quá trình chuyển đổi của
nền kinh tế, lạm phát nước ta vẫn tiếp tục mang tính chất đặc trưng của nền
kinh tế chuyển đổi. Động thái lạm phát chịu quy định của nhiều nhân tố liên
quan đến quá trình tiếp tục hoàn thiện mô hình, cơ chế của thị trường trong
xu hướng mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới. Vì thế trong thời gian
qua Đảng và nhà nước ta đã thực hiện kiềm chế lạm phát bằng các biện pháp
sau :
 Sự tham gia đầy đủ của Việt Nam vào các hoạt động hợp tác của
ASEAN, APEC nói riêng, và quá trình xúc tiến hội nhập với thế giới nói
chung trong xu hướng tự do hoá và toàn cầu hoá là một nhân tố bên ngoài
mới lạ. Nó làm tăng động lực cạnh tranh và hoàn thiện các yếu tố thị trường,
cũng như bổ xung các nguồn vốn, công nghệ, kĩ năng thị trường của nước
ngoài trong toàn bộ nền kinh tế, đồng thời tạo ra những cơ hội kinh doanh
mới, đa dạng hơn cho doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường khu vực và thế
giới.
 Thâm hụt ngân sách nhà nước là nguồn đe dọa thường xuyên và
tiềm tàng sự phục hồi lạm phát cao trong tương lai, do mâu thuẫn giữa nhu
cầu chi tăng nhanh còn nguồn thu tăng chậm. Để cân bằng ngân sách nhà
6
nước cần phải bịt chặt lỗ hỏng thất thu, thất thoát nhà nước qua mọi hình
thức.
 Hệ thống ngân hàng lành mạnh, hiện đại và thị trường vốn phát
triển sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế cũng
như kiềm chế vững chắc lạm phát ở nước ta. Cần chủ động khai thông các
nguồn vốn bên ngoài an toàn (FDO, ODA..), đồng thời hạn chế các nguồn
vốn kếm an toàn (vay thương mại, chứng khoán) để giảm thiểu các cú sốc
tài chính – tiền tệ do sự rút chạy hoặc đình hoãn các dự án có vốn đầu tư bên
ngoài. Việc chống đầu cơ và buôn lậu có hiệu quả thực tế cả bằng biện pháp
kinh tế và hành chính, phải được coi là mũi nhọn trong các biện pháp bảo
đảm an toàn trong quá trình mở của đất nước.
 Đấu tranh với tệ nạn tham nhũng. Đối với Việt Nam có thể nói,
tham nhũng và lạm phát có quan hệ qua lại trực tiếp và chặt chẽ với nhau.
Tham nhũng làm nản lòng các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước gia
tăng. Có thể nói tham nhũng làm tăng các xung lực lạm phát và làm trầm
trọng thêm các hậu quả của lạm phát, làm giảm những những chính sách
chống lạm phát của chính phủ. Vì thế chính sách chống lạm phát triệt để
trong nhất thiết cần phải bao hàm nội dung chống tham nhũng .
 Cuối cùng, giải quyết các vấn đề về nhân lực và xã hội vừa là
yêu cầu nội dung, vừa là điều kiện cần thiết hàng đầu để đảm bảo sự thành
công của chính sách chống lạm phát.
Mặc dù các biện pháp trên đã được thực hiện vào trong thực tế trong thời
gian qua, nhưng chính thực tiễn đã chứng minh một điều rằng: các biện pháp
để thực hiện những chính sách đó chưa đủ mạnh và chưa thích ứng kịp thời
với tình hình thực tiễn luôn vận động và biến đổi. Đặc biệt trong giai đoạn
hiện nay đất nước đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại
hoá, đòi hỏi các biện pháp trên phải được đề ra một cách kịp thời và đồng bộ
đáp ứng yêu cầu phát trển kinh tế xã hội.
IV. CÁC GIẢI PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI LẠM PHÁT .
7
Chính phủ cần tăng cường những giải pháp tài chính – tiền tệ theo hướng
xiết chặt, bao gồm giảm phát hành tiền, thu hẹp tín dụng, nâng tỉ lệ dự chữ
bắt buộc, tăng lãi suất, phát hành công trái và khuyến khích gửi tiền tiết
kiệm, tăng thu nhập ngân sách, giảm chi tiêu của chính phủ- nhất là chi tiêu
phi sản xuất và điều chỉnh quy mô, tốc độ đầu tư xây dựng cơ bản theo
hướng thu hẹp và chậm hơn…,tăng thu hồi nợ, chống thất thóat và lãng phí
chi ngân sách. Trong những trường hợp nhất định, chính phủ có thể tung
vàng và ngoại tệ trong lưu thông và ổn định giá bản tệ … Tuy nhiên, không
nhất thiết phải áp dụng cùng một lúc tất cả các giải pháp trên, mà tuỳ thuộc
vào những nguyên nhân cụ thể trực tiếp làm tăng cầu gây ra để triển khai
những giải pháp cụ thể nhằm loại trừ chúng. Đồng thời, cũng cần chú ý đến
tính chất đồng bộ của các giải pháp kiềm chế tổng cầu nếu không sẽ dễ gây
tình trạng trung hoà, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Các tác dụng giảm cầu
kiềm chế lạm phát của những chính sách nhà nước hiện hành. Đặc biệt, khi
lạm phát sảy ra do đồng thời nhiều nguyên nhân và đi kèm với suy thoái
kinh tế, thì nhiệm vụ đối phó với lạm phát sẽ rất phức tạp và khó khăn hơn
rất nhiều, bởi lẽ, nhiều khi những giải pháp chống lạm phát và những giải
pháp chống suy thoái tác động ngược chiều nhau. Thành thử, khi đó phải lựa
chọn mục tiêu: ưu tiên chống lạm phát trước, chống suy thoái sau hay ngược
lại…Quyết định đưa ra sẽ phải căn cứ vào những nguyên nhân cụ thể gây ra
lạm phát và gây ra suy thoái, từ đó mới có thể tìm ra những điểm tựa, nút
thắt để giải quyết các vấn đề đặt ra.
8