Kinh tế tri thức gắn với quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam

  • 16 trang
  • file .docx
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đang ở vào một thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong đường lối và chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của Đại hội Đảng lần thứ 9 của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng
định: "Đường lối kinh tế của Đảng ta là "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một
nước công nghiệp" và chỉ rõ "phát triển kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là nhiệm vụ trọng tâm". bởi vì chỉ có bằng con đường công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm". Bởi vì chỉ có bằng con đường công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta mới có thể thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu,
mới có thể hoà vào dòng thác chung của toàn nhân loại. Vậy phải thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá bằng cách nào?
Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành trung ương khoá VIII đã
xác định rõ "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào
khoa học công nghệ", "khoa học công nghệ phải trở thành nền tảng và động
lực cho CNH, HĐH". Đến đại hội IX của Đảng điều này lại được khẳng định
lại một lần nữa, "phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người
Việt Nam, coi sự phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công ghệ là nền
tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa".
Chúng ta hãy tìm hiểu đề tài "Kinh tế tri thức gắn với quá trình thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam".
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận
- Khái niệm về tri thức:
Tri thức là một yếu tố đặc trưng quan trọng của ý thức con người.
Cùng với xúc cảm, tri thức của con người về tự nhiên, về xã hội đã tạo nên ý
thức, ý thức theo nhận xét của Các Mác và Ph.Ăngghen trong "hệ tư tưởng
Đức" ngay từ đầu là sản phẩm của xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con
người còn tồn tại.
Xét về nguồn gốc, tri thức bắt nguồn từ trong quá trình lao động và
giao tiếp giữa con người với con người. Phương tiện giao tiếp đầu tiên chính
là tiếng nói, ngôn ngữ; Nhờ có tiếng nói lần đầu tiên con người có thể biểu
đạt được những suy nghĩ, những tình cảm và sự nhận thức của mình ra thế
giới bên ngoài. Từ đó có thể đưa ra những hoạch định, những quy định có
tính mục đích xác định đó là những tri thức đầu tiên của con người.
Như vậy tri thức nói riêng, ý thức nói chung là sự kết hợp giữa đối
tượng nhận thức thế giới hiện thực với bộ não có cấu tạo đặc biệt với tư cách
là tổ chức vật chất cao nhất của con người . Tri thức là kết quả của quá trình
nhận thức về thế giới hiện thực của con người. Trong quá trình đó các sự
vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực đã tác động lên bộ não con người
thông qua các giác quan và nhờ đó có bộ não tiến hóa nhất, tư duy con người
đã tái hiện lại những mối quan hệ bản chất, những thuộc tính… từ đó chúng
được khái quát hóa, trừu tượng hóa thành những khái niệm, phạm trù, phán
đoán, quy luật… và được biểu đạt dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ
thống ký hiệu khác nhau. Do đó sự tác động của thế giới hiện thực lên bộ
não con người chính là nguồn gốc của tri thức.
Tri thức có nguồn gốc từ thế giới hiện thực, là sự phản ánh thế giới đó
trong đầu óc con người thông qua quá trình nhận thức. Cho nên bản chất của
tri thức là hình ảnh của thế giới hiện thực trong đầu óc con người. Hình ảnh
đó càng ngày càng được nhận thức của con người bổ sung cho chi tiết, chính
xác hơn trên con đường nhận thức và cải biên tự nhiên.
Việc bổ sung, hoàn thiện dần bức tranh về thế giới hiện thực là quá
trình vận động của nhận thức đi từ thực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính, từ tri thức kinh nghiệm
đến tri thức lí luận. Quá trình này diễn ra liên tục, từ thế hệ này sang thế hệ
khác, là sự phản ánh lịch sử phát triển của tư duy con người.
Quá trình từ tri thức kinh nghiệm đến tri thức lí luận hay từ tri thức rời
rạc đến hệ thống tri thức khoa học diễn ra trong sự nhận thức của từng con
người, cũng như trong suốt tiến trình phát triển của duy nhân loại.
Tri thức kinh nghiệm và tri thức lí luận đều là tri thức chân thực,
nhưng chúng ở những trình độ nhận thức khác nhau, biểu hiện những cấp độ
khác nhau là sự phản ánh hiện thực khách quan.
Tri thức kinh nghiệm là tri thức được hình thành nhờ vào quá trình
nhận thức cảm tính. Bản thân thức kinh nghiệm cũng có 2 loại: "Tri thức
kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học, tri thức khoa
học thông thường bao gồm những hiểu biết, những quan niệm của con người
được hình thành một cách trực tiếp trong quá trình hoạt động sống hàng
ngày, được tích lũy lại và truyền từ đời này sang đời khác thành thói quen,
tập quán… đáp ứng được những yêu cầu của đời sống xã hội, cộng đồng và
còn ở trình độ nhận thức giản đơn. Tri thức kinh nghiệm khoa học được hình
thành trên cơ sở quan sát, mô tả phân tích so sánh các thực nghiệm, thí
nghiệm khoa học, sống vẫn chưa vượt khỏi trình độ nhận thức kinh nghiệm
bởi vì nó còn phải tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu. Nhìn chung
tri thức kinh nghiệm mới chỉ dừng lại ở sự nhận thức cá biệt, đơn lẻ, rời rạc,
những mối quan hệ và liên hệ bên ngoài của các sự vật, hiện tượng, quá
trình, nghĩa là mới chỉ nắm bắt được các thuộc tính bên ngoài của đối tượng
nghiên cứu. Song, tri thức kinh nghiệm là một giai đoạn nhận thức không thể
thiếu được, nó là nền tảng là một nấc thang cần thiết để sự nhận thức của
con người bước lên một trình độ cao hơn, trình độ lý luận. Đúng như
Ph.Ănghen đã nhận xét: "Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự do không bao
giờ có thể chứng minh được đầy đủ tất yếu… Nhưng bằng chứng của tính tất
yếu là ở trong hoạt động của con người trong kinh nghiệm, trong lao
động….
Tri thức lí luận là trình độ cao của nhận thức, trình độ lý tính hay "tư
duy trừu tượng", nó bao gồm những tư tưởng, quan điểm được hệ thống hóa,
khái quát hóa và đã hoàn thành nên các học thuyết khoa học, được trình bày
dưới dạng hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các quy luật……với tư
cách là kết quả của quá trình nhận thức lý tính, tri thức lý luận tuy đã tách
khỏi đối tượng nghiên cứu, nhưng lại có khả năng phản ánh hiện thực khách
quan một cách toàn diện, sâu sắc đầy đủ, chính xác, vạch ra mối liên hệ bản
chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình từ đó chỉ ra các quy luật vận động,
biến đổi và phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy. Một trong những hình
thức cao nhất va chung nhất của tri thức lí luận là phép biện chứng duy vật.
Tri thức kinh nghiệm, đặc biệt là tri thức kinh nghiệm khoa học và tri
thức lí luận tuy là hai hình trình độ phản ánh hiện thực khác nhau, nhưng
chúng có quan hệ khăng khít, bền chặt với nhau. Tri thức kinh nghiệm và tri
thức lí luận đều có chung nguồn gốc, đều xuất phát từ thực tiễn cuộc sống,
từ nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới của con người. Ngay cả toán học -
môn khoa học có tính trừu tượng cao, cũng sinh ra từ nhu cầu thực tiễn của
con người từ việc do diện tích các khoảnh đất và việc đo dung tích nhưng
bình chứa, tính thời gian… và đối tượng của toán học thuần tuý là những
hình không gian và những quan hệ số lượng của thế giới hiện thực.
Tri thức kinh nghiệm là nền tảng là cơ sở của tri thức lí luận. Tri thức
lí luận của khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội đều phải xuất phát
từ các sự kiện hiện thực. Những tri thức kinh nghiệm nhận được từ sự
nghiên cứu các sự kiện hiện thực là cơ sở tất yếu của tri thức lí luận khoa
học là nguồn gốc là động lực phát triển của nó.
Bằng thực tiễn thông qua tri thức con người kiểm tra được tính chân
thực của tri thức. Rõ ràng trong một giai đoạn nhất định nào đó quá trình
nhận thức, những quy luật được rút ra từ thế giới hiện thực được hệ thống
hoá và khái quát hoá, sau đó con người lại đem ứng dụng những quy luật đó
vào hoạt động thực tiễn của mình. Thực tiễn là nơi kiểm nghiệm sự thống
nhất của tính chân thực của tri thức. Và thực tiễn xã hội là một quá trình
không ngừng vận động, biến đổi và phát triển, do vậy tri thức của con người
cũng phải luôn đổi mới.
- Khái niệm về tri thức khoa học:
Trong lịch sử phát triển tư duy của nhân loại có rất nhiều quan niệm
khác nhau về khoa học, một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã
hội, mặt khác phụ thuộc vào trình độ của nhận thức. Xét về phương diện xã
hội khoa học là một hiện tượng xã hội có nhiều mặt, trong đó biểu hiện sự
thống nhất giữa những yếu tố vật chất và những yếu tố tinh thần. Về phương
diện nhận thức, khoa học là giai đoạn cao nhất của nhận thức, nhận thức lí
luận về phương diện triết học, khoa học là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt. Khoa học không chỉ phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào xã hội,
những chân lý của nó được thực tiễn xã hội kiêm nghiệm mà khoa học còn
là kết quả của quá trình sáng tạo logic, của trực giác thiên tài: Khoa học là
yếu tố ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng của lực lượng sản xuất, quyết
định trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng, của phương thức
sản xuất và của xã hội nói chung.
Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người
và về tư duy của con người. Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ
nội tại, bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình, từ đó chỉ ra những quy
luật khách quan của sự vận độngvà phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Hệ thống tri thức khoa học được hình thành trong quá trình nhận hức
của con người từ trực quan sinh động, đến tư duy trừu tượng, tư duy trừu
tượng đến thực tiễn dưới dạng khái niệm phạm trù, quy luật, lý thuyết…
Như vậy, tri thức kha học là sự phản ánh thế giới mà còn được kiểm nghiệm
qua thực tiễn.
Tri thức khoa học còn có thể được hình thành nhỏ trực giác hoặc tuân
theo những quy luật của logic học. Loại tri thức khoa học này, xét cho đến
cùng cũng là sự phản ánh thế giới hiện thực và được thực tiễn kiêm nghiệm.
do đó, một hệ thống tri thức được coi là tri thức khoa học phải đảm bảo tính
đúng đắn, tính chân thực.
Nhờ giáo dục đào tạo, tri thức khoa học có sức sống mãnh liệt, được
phổ biến rộng rĩa và lan truyền rất nhan chóng. Tốc độ lan truyền đó đã tăng
lên rất nhiều lần nhờ vào quá trình toàn cầu hoá và công nghệ thông tin. Nó
không chỉ là sức mạnh là sự biến đổi mau lẹ mà còn là biểu hiện sự giàu có,
thịnh vượng của mọi quốc gia, dân tộc và cá nhân. Hệ thống tri thức khoa
học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài, liên tục của tư duy nhân loại
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay nó đang trở thành tài sản chung
của xã hội loài người.
- Tri thức và tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã hội.
Tri thức rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Bởi vì mọi
việc mà chúng ta làm đều phụ thuộc vào tri thức một cách đơn giản là để
sống, chúng ta phải biến đổi những nguồn lực mà chúng ta có thành những
đồ vật mà chúng ta cần và điều đó cần phải có tri thức. Trong lao động sản
xuất ra của cải phát triển, con người phải nắm bắt, nhận thức được đối tượng
lao động và công cụ lao động để dùng những tri thức đó tạo ra vật chất,
những tri thức về xã hội sẽ giúp con người phát triển quan hệ sản xuất phù
hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất từ đó tạo ra sự phát triển về
phương thức sản xuất. Trong chính trị - xã hội, con người sử dụng những tri
thức của mình để tạo ra một xã hội ổn định hoà bình, văn minh, đời sống văn
hoá tinh thần, không ngừng được nâng cao. Nói tóm lại, xã hội muốn phát
triển được thì cần phải có tri thức, tri thức là chìa khoá để phát triển sản
xuất, phát triển xã hội. Đặc biệt, là tri thức khoa học, tri thức khoa học hình
thành và phát triển trên cơ sở sản xuất và hoạt động thực tiễn. Vai trò của tri
thức khoa học ngày càng tăng lên đối với sự phát triển của xã hội. Ngày nay,
tri thức khoa học đã thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Vai trò của nó thể
hiện ở chỗ khoa học trở thành điểm xuất phát, ra đời, những ngành sản xuất
mới, công nghệmới, nguyên liệu mới. Khoa học trở thành yếu tố tri thức
không thể thiếu được của người lao động biến người lao động thành người
điều khiển kiểm tra quá trình sản xuất. Đội ngũ các nhà khoa học, kỹ thuật
viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất vật chất với quy mô ngày càng
lớn.
Cùng với khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội
như kinh tế học, luật học, xã hội học… cũng không ngừng phát triển và đóng
vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Khoa học không chỉ góp phần nâng
cao chất lượng cuộc sống mà còn giúp con người có đầu óc tư duy sáng tạo,
tầm nhìn suy rộng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo vì
phải nắm bắt được cơ sở khoa học thực tế thì mới hoạch định được chính
sách, đường lối phát triển của một tổ chức hay một quốc gia. Ngày nay việc
quản lý xã hội, trong đó quan trọng là quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước,
thành công đến mức nào là tuỳ thuộc vào khả năng xử lý thông tin. Không
theo kịp những biến đổi hết sức mới trong lĩnh vực này mà khư khư giữ lấy
cách quản lý cũ, lạc hậu thì không tránh khỏi bỏ lỡ thời cơ có thể vươn lên
để tiến kịp cùng thời đại và thoát ra sự trì trệ. Cùng với những biến đổi về
chất lượng trong lực lượng sản xuất, trong kinh tế và trong quản lý xã hội,
tiến bộ khoa học, kỹ thuật còn tạo nên những biến đổi ghê gớm trong lĩnh
vực kỹ thuật quân sự, trong việc tạo ra những phương tiện phá hoại và huỷ
diệt sự sống, làm gay gắt những vấn đề toàn cầu của thời đại. Nhờ tiến bộ
khoa học - kỹ thuật mà càng ngày người ta càng tạo ra được nhiều loại
nguyên liệu và vật liệu có thể thay thế những thứ từ trước đến nay chỉ có thể
dựa vào sự cung cấp của thiên nhiên. Vì vậy tiến bộ khoa học kỹ thuật đang
làm ưu thế dưới dạng tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên trở nên tương đối.
Tiến bộ khoa học kỹ thuật một mặt tạo thời cơ thuận lợi cho các nước thoát
ra khỏi sự lạc hậu và trì trệ nếu như biết định hướng đúng, nếu có một tiềm
năng nhất định nào đó về nguồn vốn và nguồn nhân lực có trình độ cần thiết
để tiếp thu các công nghệ tương đối hiện đại khi đã có những kỹ thuật và
công nghệ mới, tiến bộ thì vấn đề đặt ra tiếp theo là giải quyết việc làm cho
số lao động dôi ra tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm…. Nếu giải quyết tốt thì
chúng khả năng hội nhập của các nước này với trào lưu chung của thế giới là
hiện thực. Song tiến bộ khoa học - kỹ thuật thời đại chúng ta còn có một mặt
khắc nghiệt ngã là hoàn toàn có khả năng nhấn các nước kém phát triển
chìm sâu hơn trong cảnh lạc hậu và phụ thuộc, đồng thời còn tạo nên một
khoảng cách còn lớn gấp bội so với khoảng cách đã từng tồn tại trước đây
giữa họ và các nước phát triển nếu như họ không tìm ra con đường thích hợp
hoặc cố tình duy trì cách làm ăn cũ, thói quen cũ, không thích nghi với
những biến đội của thời đại.
Như vậy, tri thức khoa học ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của xã
hội và thế giới ngày nay, nó là người bạn đồng hành của xã hội văn minh
tiến bộ.
2. Vai trò của tri thức và tri thức khoa học đối với quá trình tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
- Tính tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức
lao động thủ cong là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với côngnghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên
sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra năng
suất lao động xã hội cao. Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá.
Hiện đại hoá trong sản xuất trước hết là hiện đại hoá trong lực lượng sản
xuất. Xu hướng vận động chung của lực lượng sản xuất hiện đại là không
ngừng thay thế dần các thiết bị, các quy trình công nghệ chưa hoàn thiện
bằng các trang thiết bị, quy trình công nghệ cao, công nghệ sạch.
Nước ta đang ở vào một thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong đường lói và chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của Đại hội Đảng lần thứ 9 của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng
định: "Đường lối kinh tế của Đảng ta là: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một
nước công nghiệp" và chỉ rõ "phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là nhiệm vụ trung tâm". Bởi vì, chỉ có bằng con đường công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nước ta mới có thể thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, mới có thể
hoà vào dòng thác phát triển chung của toàn nhân loại. Vậy phải thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá bằng cách nào?
- Tri thức, tri thức khoa học là tiền đề và động lực cho quá trình
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
đã xác định rõ "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa
vào khoa học công nghệ"; "khoa học công nghệ phải trở thành nền tảng và
động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá". Đến đại hội IX của Đảng điều
này lại được khẳng định lại một lần nữa lại được khẳng định: "Phát huy
nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi sự phát
triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá".
Mục đích quan trọng nhất của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phát
triển sản xuất xã hội, trước hết là phát triển lực lượng sản xuất nhằm thoả
mãn các nhu cầu ngày càng tăng của con người và thúc đẩy sự phát triển của
xã hội. Lực lượng sản xuất bao gồm những yếu tố cơ bản: tư liệu sản xuất
(đối tượng lao động, công cụ lao động, khoa học công nghệ, hạ tầng cơ
sở…) và con người. Ngày nay tri thức đã thật sự trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp. Trong nền kinh tế tri thức mà một số nước công nghiệp phát
triển đang thực hiện, tri thức khoa học đặc biệt là tri thức của một số lĩnh
vực như tin học, điều khiển học, sinh học… đã trực tiếp gia nhập vào quá
trình sản xuất và dịch vụ của xã hội. Bằng cách này lực lượng sản xuất sẽ
không ngừng được bổ sung và đổi mới theo hướng gia tăng tính hiện đại,
tiên tiến. Xu hướng vận động chung của lực lượng sản xuất hiện đại là
không ngừng thay thế dần các trang thiết bị, các qui trình công nghệ chưa
hoàn thiện (cho năng suất thấp, tiêu hao nhiên liệu, gây ô nhiễm….) bằng
các trang thiết bị, quy trình công nghệ cao, công nghệ sạch. Điều đó là dựa
vào tri thức khoa học. Như vậy tri thức khoa học đã thúc đẩy sự phát triển
của lực lượng sản xuất theo hướng hiện đaịi và đó là nền tảng cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nền sản xuất xã hội.
Tri thức khoa học có vai trò to lớn quyết định trong việc biến đổi yếu
tố con người trong lực lượng sản xuất theo chiều hướng hiện đại. Bằng tri
thức con người có thể nhanh chóng vận hành tốt và thích nghi với những
trang thiết bị hiện đại, tiên tiến trong sản xuất, cũng như đủ sức giải quyết
những tình huống phức tạp, có vấn đề trong sản xuất và đời sống. Mặt khác,
do sự thường xuyên đổi mới của trang thiết bị sản xuất và đời sống nó buộc
con người thường xuyên học tập, trau dồi kiến thức để khỏi bị đào thảo ra
khỏi quá trình sản xuất xã hội và để thích ứng với cuộc sống hiện tại. Trình
độ chất lượng của đội ngũ người lao động trong lực lượng sản xuất không
ngừng được nâng cao và hoàn thiện. Do đó với tư cách là yếu tố thuộc lực
lượng sản xuất, tri thức khoa học có vai trò cực kỳ quan trọng, có tính chất
quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát
triển của sản xuất. Ngoài ra nhờ có tri thức khoa học mà quan hệ sản xuất
phát triển con người nắm bắt, truyền đạt thông tin nhanh hơn nhờ đó thúc
đẩy sản xuất. Ngày nay tri thức khoa học liên quan chặt chẽ và tác động trực
tiếp, mạnh mẽ lên cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Bên cạnh đó tri
thức khoa học còn có vai trò trong hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý sản
xuất, kinh doanh, nhằm mục tiêu thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và tri thức khoa học đóng góp phần quan trọng vào việc thực hiện
mục tiêu phát triển bền vững của xã hội.
- Thực tiễn vận dụng tri thức và tri thức khoa học vào công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Thực tiễn trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy ở đâu có sự sáng
tạo trong công cuộc đổi mới các giải pháp khoa học công nghệ thì ở đó có sự
tiến bộ vượt bậc. Về nông nghiệp sự sáng tạo của Đảng trong chính sách
khoán áp dụng trong nông nghiệp những năm 80 là một ví dụ điển hình cho
thấy vai trò của chính sách trong việc tạo ra mức tăng trưởng sản lượng kỷ
lục về lương thực mà không có một yếu tố sản xuất thông thường nào như:
vốn, lao động vật tư có thể mang lại. Chính sách mớilàm cho người lao động
làm việc có trách nhiệm và năng nổ sáng tạo hơn. Đảng đẩy mạnh và khuyến
khích nông dân khoa học - công nghệ vào sản xuất như: sử dụng các loại
giống mới, phân bón máy móc sản xuất theo công nghệ cao của thế giới,
nâng cấp hệ thống thuỷ lợi bằng cách đầu tư, cải tạo nâng cấp hệ thống sông,
đê ngăng chặn nước mặn lên biển, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và vật liệu
mới trong thiết kế và thi công công trình là cho việc thực hiện công trình xảy
ra nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu, lợi ích của bà con nông dân . Về
công nghiệp qua quá trình sáng tạo và triển khai chính sách mở cửa thu hút
vốn đầu tư nước ngoài. Các công ty nhờ đi thẳng vào công nghệ hiện đại mà
đã đạt được những thắng lợi ngoài mong đợi. Trong các ngành, bưu chính
viễn thông, khai thác dầu khí và các ngành khác nhờ những quyết định táo
bạo trong đầu tư vào kỹ thuật công nghệ hiện đại mà đạt được mức tăng
trưởng cao trong thời gian dài, ổn định văn hoá - giáo dục được nâng cấp,
đầu tư một cách thoả đáng. Về kinh tế tổng sản lượng trong năm 2000 tăng
gấp đôi so với năm 1990. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và năng lực sản
xuất tăng nhiều. Nên kinh tế từ tìn trạng hàng hoá khan hiếm nay đã sản xuất
đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Nề kinh tế từ cơ chế tập trung
quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng, kinh tế tăng trưởng tương đối cao:
Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 7% trong một năm; giá trị nông -
lâm- ngư nghiệp tăng bình quân 5,7% trong một năm. Nhịp độ tăng giá trị
sản xuất hàng hoá năm 13,5%. Đầu tư sản xuất ra sản phẩm có chất lượng
đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Về chính trị xã hội nghiên