Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hoá chất trong ao nuôi thâm canh cá tra (pangasianodon hypophthalmus) ở huyện châu thành, tỉnh đồng tháp

  • 64 trang
  • file .pdf
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
NGUYỄN THANH TÙNG
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ
HOÁ CHẤT TRONG AO NUÔI THÂM CANH
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
Ở HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Cán bộ hướng dẫn
Ths. NGUYỄN THỊ NHƯ NGỌC
NCS. LÊ MINH LONG
Cần Thơ, 2014
i
PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn kèm theo đây, với tựa đề “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hóa
chất trong ao nuôi thâm canh cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở huyện
Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp”, do sinh viên Nguyễn Thanh Tùng thực hiện và báo
cáo đã được hội đồng chấm luận văn thông qua.
Thành viên của hội đồng
PGS. Ts. Bùi Thị Nga Ts. Nguyễn Xuân Lộc
Ths. Nguyễn Thị Như Ngọc
ii
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm ơn quí thầy, cô bộ môn Khoa học Môi trường đã giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Thị Như Ngọc đã dành nhiều
thời gian để hướng dẫn, động viên, cung cấp nhiều kiến thức quý báu để tôi thực
hiện tốt luận văn này.
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Anh Lê Minh Long, Nghiên cứu sinh chuyên ngành Môi trường đất và nước
khóa 2013-2017 đã giúp đỡ tôi xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cán bộ Trạm Thuỷ sản huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp đã nhiệt tình giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin.
Các hộ nuôi thâm canh cá tra tại các xã An Nhơn, An Hiệp, Tân Nhuận Đông
huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp đã nhiệt tình giúp đỡ, tiếp đón và cung cấp
thông tin trong quá trình phỏng vấn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp Khoa học Môi trường
khóa 37 đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình làm luận văn.
Sau cùng tôi xin chân thành biết ơn cha, mẹ, anh, chị và những người thân đã
chia sẻ, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chương trình đại học.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thanh Tùng
iii
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong ao nuôi thâm canh
cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp” được
thực hiện từ tháng 07 năm 2014 đến tháng 10 năm 2014; nhằm xác định hiện trạng
sử dụng thuốc và hoá chất trong ao nuôi thâm canh cá tra, làm cơ sở cho các nghiên
cứu về dư lượng thuốc và hoá chất trong các ao nuôi. Tình hình nuôi cá tra trên địa
bàn huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp giảm, diện tích treo ao của huyện từ năm
2013 đến năm 2014 tăng 2,91 lần. Diện tích ao nuôi trung bình 4,040±385,18 m2/ao,
mật độ thả nuôi bình quân 59,57±2,84con/m2, năng suất nuôi trung bình
318,62±19,49 tấn/ha, FCR trung bình 1,54±0,02. Kết quả khảo sát ghi nhận được:
17 sản phẩm hóa chất và tảo dược của 7 công ty được sử dụng cải tạo ao và xử lý
nước; 19 sản phẩm chứa kháng sinh của 7 công ty để phòng trị bệnh cá trong đó
kháng sinh cấm sử dụng (5,3%), kháng sinh hạn chế sử dụng (52,6%) và 17 sản
phẩm hoá chất sử dụng để phòng trị bệnh cá; 18 sản phẩm thương mại gồm chế
phẩm sinh học, men tiêu hóa, vitamin và khoáng chất của 6 công ty được các hộ
nuôi sử dụng như chất bổ sung trong quá trình nuôi cá tra. Thời gian ngưng sử dụng
thuốc trước khi thu hoạch khoảng 1 tháng và chi phí cho việc sử dụng thuốc và hóa
chất chiếm 3,46±0,25% trong tổng cơ cấu đầu tư giá thành sản xuất. Các hộ nuôi
xử lý bao bì chứa thuốc và hoá chất hợp lý và hạn chế gây ô nhiễm môi trường.
Từ khóa: Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus), nuôi thâm canh, thuốc và hóa
chất, thuốc kháng sinh.
iv
MỤC LỤC
...............................................................................................................................Trang
Trang phụ bìa ........................................................................................................... i
Trang phê duyệt của hội đồng ................................................................................. ii
Lời cảm tạ ................................................................................................................ iii
Tóm lược ................................................................................................................. iv
Mục lục .................................................................................................................... vi
DANH SÁCH BẢNG .............................................................................................. viii
DANH SÁCH HÌNH ............................................................................................... ix
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU........................................................................................... 1
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ................................................................. 2
2.1 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản ở đồng bằng sông Cửu Long .................... 2
2.2 Sơ lược về tỉnh Đồng Tháp ....................................................................... 2
2.3 Sơ lược về loài cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) .......................... 3
2.4 Kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra ................................................................. 4
2.5 Tình hình sử dụng thuốc và hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản ............... 5
2.5.1 Tình hình sử dụng thuốc và hoá chất ở đồng bằng sông Cửu Long ... 5
2.5.2 Thuốc và hoá chất sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản ........................ 5
2.6 Nguyên tắc dùng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản.................. 8
2.7 Ảnh hưởng của việc nuôi và sử dụng hoá chất không hợp lý trong nuôi
thâm canh cá tra............................................................................................... 9
2.7.1 Ảnh hưởng đến môi trường con người và vật nuôi ............................. 9
2.7.2 Hình thành hệ vi khuẩn kháng thuốc .................................................. 10
2.8 Một số bệnh thường gặp trên cá tra và cách phòng trị .............................. 11
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................... 13
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ............................................................ 13
3.2 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu ........................................................ 13
3.3 Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 13
3.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp ...................................................................... 13
3.3.2 Phỏng vấn tình hình sử dụng thuốc, hóa chất trong ao nuôi thâm
canh cá tra ............................................................................................... 13
3.3.3 Phân loại danh mục thuốc, hóa chất trong ao nuôi thâm canh cá tra
của các nông hộ ở tỉnh Đồng Tháp ......................................................... 14
3.4 Phương pháp xử lý số liệu ........................................................................ 14
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .......................................................... 15
4.1. Tình hình và kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra ở Châu Thành-Đồng Tháp 15
v
4.2. Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trên địa bàn khảo sát ..................... 18
4.2.1 Kiến thức sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất................................ 18
4.2.2 Hóa chất sử dụng cải tạo ao và xử lý nước ......................................... 20
4.2.3 Thuốc và hóa chất sử dụng để phòng trị bệnh cho cá ......................... 22
4.2.4 Chế phẩm sinh học và chất bổ sung cho cá......................................... 26
4.2.5 Thời gian ngưng sử dụng thuốc và hoá chất trước khi thu hoạch ....... 27
4.3. Chi phí sử dụng thuốc và hoá chất ........................................................... 28
4.4. Tình hình quản lý và xử lý vật dụng chứa thuốc và hóa chất .................. 30
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................... 31
5.1. Kết luận .................................................................................................... 31
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 32
PHỤ LỤC
vi
DANH SÁCH BẢNG
............................................................................................................................ Trang
Bảng 4.1. Tình hình nuôi thâm canh cá tra ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng
Tháp qua các năm ..................................................................................................15
Bảng 4.2 Thông tin chung về hộ nuôi ...................................................................16
Bảng 4.3. Một số thông tin kỹ thuật ao nuôi .........................................................18
Bảng 4.4. Cách xác định bệnh cá ..........................................................................19
Bảng 4.5. Một số nguồn tiếp nhận thông tin kỹ thuật ...........................................20
Bảng 4.6. Một số hóa chất dùng để cải tạo ao và khử trùng nước ........................20
Bảng 4.7. Một số bệnh phổ biến trên cá tra ...........................................................22
Bảng 4.8. Một số kháng sinh dùng trong phòng và trị bệnh .................................23
Bảng 4.9. Một số hoá chất sử dụng trong phòng và trị bệnh cho cá .....................25
Bảng 4.10. Chế phẩm sinh học và chất bổ sung ....................................................26
Bảng 4.11. Cách quản lý vật dụng bảo quản thuốc và hoá chất ............................30
vii
DANH SÁCH HÌNH
......................................................................................................................... Trang
Hình 4.1. Cơ cấu chi phí đầu tư trong ao nuôi thâm canh cá tra ........................ 28
Hình 4.2 Tương quan giữa năm kinh nghiệm và chi phí thuốc và hoá chất/kg
cá thương phẩm .................................................................................................. 29
viii
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trồng lúa truyền thống trước
đây, nhưng do tình hình hiện nay canh tác nông nghiệp kém hiệu quả, chi phí sản
xuất cao và lợi nhuận thấp trong khi thuỷ sản ngày càng có vai trò quan trọng trong
phát triển kinh tế xã hội của vùng đặc biệt là nghề nuôi cá tra. Theo thống kê, năm
2013 diện tích nuôi cá tra ở ĐBSCL 5.556 ha, sản lượng 1.131 nghìn tấn
(http://www.mard.gov.vn) Tuy nhiên, thực tế hiện nay nghề nuôi cá tra đã và đang
gặp nhiều khó khăn thách thức như: các vụ kiện tranh chấp thương mại, phương
pháp chăm sóc quản lí, nguồn vốn đầu tư ban đầu khá cao, tình trạng giá cá tăng
giảm liên tục làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Trong năm 2013 nghề
nuôi cá tra vẫn phải đương đầu với những vấn đề như: giá cá thương phẩm giảm,
chi phí đầu tư tăng người nuôi bị lỗ nặng (Bộ NN&PTNT, 2013).
Huyện Châu Thành là một trong 11 huyện-thành phố của tỉnh Đồng Tháp có
nhiều đặc điểm chung của tỉnh nên có nhiều lợi thế và tiềm năng trong nuôi trồng
thuỷ sản. Tính đến tháng 7 năm 2014, huyện Châu Thành có 132,89 ha diện tích
nuôi thâm canh cá tra đứng vị trí thứ 5 trong 11 huyện-thành phố và chiếm 10%
tổng diện tích (Phụ lục 2) nuôi thâm canh cá tra của tỉnh (Chi cục Thuỷ sản Đồng
Tháp, 2014). Đây cũng là vùng nuôi được chính quyền địa phương quan tâm và
đang triển khai mô hình Viet GAP trong nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên, theo
Trương Quốc Phú và Trần Kim Tính, 2012 đa phần các hộ nuôi vẫn còn sử dụng
kháng sinh cấm sử dụng Erofloxacine (40%) và hạn chế sử dụng Trimethoprime
(27%), Florfenicol (13%). Những hạn chế về kiến thức sử dụng thuốc và hoá chất
trong nuôi thâm canh cá tra đặc biệt là thuốc kháng sinh có thể gây tồn lưu trên sản
phẩm. Do đó, nhiều lô hàng xuất khẩu của Việt Nam bị trả lại do hoá chất tồn lưu
trong thuỷ sản, phần nhiều là các loại thuốc kháng sinh (Tổng cục Thuỷ sản, 2012).
Xuất phát từ những thực tế đó, đề tài “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và
hóa chất trong ao nuôi thâm canh cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở huyện
Châu Thành tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện nhằm biết được hiện trạng sử dụng
thuốc và hóa chất trong nghề nuôi thâm canh cá tra.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định hiện trạng sử dụng thuốc và hóa chất trong ao nuôi thâm canh cá tra
nhằm làm cơ sở cho các nghiên cứu dư lượng thuốc và hoá chất trong ao nuôi.
Nội dung thực hiện
- Thu thập số liệu về nghề nuôi thâm canh cá tra ở huyện Châu Thành tỉnh
Đồng Tháp.
- Phỏng vấn hiện trạng sử dụng thuốc và hóa chất trong ao nuôi thâm canh
cá tra.
1
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản ở đồng bằng sông Cửu Long
Theo Tổng cục Thuỷ sản (2012) tổng sản lượng thuỷ sản năm 2012 của Việt
Nam ước đạt 5,8 triệu tấn (tăng 8,5% so với năm 2011), trong đó sản lượng khai
thác đạt 2,6 triệu tấn (tăng 10% so với năm 2011), sản lượng nuôi trồng đạt 3,2 triệu
tấn (tăng 6,8%). Trong đó, sản lượng tôm nước lợ đạt 500 nghìn tấn (tăng 0,9%), cá
tra đạt 1,2 triệu tấn (tăng 3,4%) so với năm 2011.
ĐBSCL có tiềm năng lớn phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ,
nước mặn. Những năm qua, ngành thủy sản ĐBSCL luôn phát triển nhanh cả về
diện tích, mức độ thâm canh hóa, đa dạng đối tượng nuôi và mô hình nuôi, đóng
góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Theo thống kê năm 2010 cả
nước có trên 1 triệu ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản tăng 45% so với năm 2001
trong đó ĐBSCL chiếm 70,19% diện tích, 70,94% sản lượng cả nước. Diện tích
nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt cả nước có trên 390 nghìn ha trong đó ĐBSCL chiếm
37,83% diện tích, cá tra chiếm 2,22% diện tích và 51,73% về sản lượng cả nước
(Tổng cục Thuỷ sản, 2012).
Tôm và cá da trơn nói chung hay cá tra nói riêng là những loài được nuôi chủ
đạo ở ĐBSCL mang đến giá trị cao. Theo Bộ NN&PTNT (2009) thì tổng diện tích
nuôi thâm canh cá tra ở ĐBSCL đạt khoảng 6.100 ha, sản lượng ước đạt 960.000
tấn. Trong đó Cần Thơ đạt 1.126 ha; An Giang đạt 1.068 ha; Đồng Tháp đạt 1.535
ha; Bến Tre đạt 710 ha; Vĩnh Long đạt 358 ha và Hậu Giang đạt 178,2 ha. Sản
lượng cá tra ở ĐBSCL không ngừng tăng từ 683.000 tấn năm 2007 lên 1,1 triệu tấn
năm 2009 (Nguyễn Hoàng Đức Trung và Trần Thị Thanh Hiền, 2011).
2.2 Sơ lược về huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Châu Thành là một trong 11 huyện-thành phố của tỉnh Đồng Tháp với 11 xã
và 1 thị trấn (http://chauthanh.dongthap.gov.vn).
2
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Châu Thành có những đặc điểm tự nhiên chung với tỉnh Đồng Tháp
(http://vi.wikipedia.org). Với đặc điểm khí hậu gió mùa cận xích đạo với nhiệt độ
cao quanh năm, lượng mưa lớn, ít gió bão. Một năm có 2 mùa rõ rệt là mùa khô và
mùa mưa (UBND tỉnh Đồng Tháp, 2009).
Ngoài ra, Đồng Tháp chịu ảnh hưởng của lượng nước thượng nguồn sông
Cửu Long và thủy triều Biển Đông. Tỉnh có nguồn nước ngọt dồi dào được cung
cấp bởi sông Tiền và sông Hậu. Chế độ nước chịu ảnh hưởng lớn bởi chế độ bán
nhật triều biển Đông nên nguồn nước được thay đổi liên tục. Qua khảo sát sơ bộ ở
một số vùng nuôi thuỷ sản tập trung cho thấy, chất lượng nước phù hợp cho nuôi
trồng thủy sản (UBND tỉnh Đồng Tháp, 2009).
2.3 Sơ lược về loài cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Theo kết quả định danh của Robert and Vidthayanon (1991) cá tra thuộc bộ
Silurifomes, họ Pangasiidae, giống Pangasianodon, loài Pangasianodon
hypophthalmus (sauvage, 1878).
Trong điều kiện nuôi, cá tra có thể ăn thức ăn viên; thức ăn có nguồn gốc
động vật giúp cá lớn nhanh; trong ao nuôi cá đạt trọng lượng 1-1.2 kg/con sau 6
tháng (Dương Nhựt Long, 2004). Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm
(2009) cá tra thích nghi tốt với điều kiện nuôi dưỡng trong các thuỷ vực nước tĩnh
và nước chảy. Cá tra là loài được nuôi nhiều nhất hiện nay, cũng là một trong những
loài xuất khẩu chủ yếu.
3
2.4 Kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra
Theo Bộ NN&PTNT (2004) quy trình kỹ thuật nuôi thâm canh cá tra được
quy định:
Chuẩn bị ao nuôi
 Tát cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ, dọn sạch cỏ quanh mái bờ, lấp hết hang
hốc, đắp sửa những chỗ bờ bị sạt lở.
 Vét bớt bùn đáy, rải vôi bột đáy và mái bờ ao với lượng vôi khoảng 7-
10kg/100m2; phơi đáy ao từ 1 đến 2 ngày.
 Cấp nước vào ao qua lưới chắn lọc để ngăn ngừa địch hại cho cá nuôi.
Khi mức nước ao đến độ sâu theo quy định 2 - 3 m thì thả cá giống.
Thả cá giống
 Mật độ thả nuôi từ 15 đến 20 con/m2.
 Cỡ cá giống thả nuôi 10-14 cm.
Cho ăn: có thể sử dụng hai loại thức ăn sau đây để nuôi cá tra:
 Thức ăn hỗn hợp tự chế biến (thức ăn tự chế biến): thức ăn được phối chế
từ các loại nguyên liệu chính là cá tạp, cám, tấm và một số nguyên liệu khác có ở
địa phương.
 Thức ăn hỗn hợp dạng viên chế biến công nghiệp (thức ăn công nghiệp)
do các nhà máy sản xuất thức ăn cung cấp. Chất lượng thức ăn viên công nghiệp sử
dụng cho các giai đoạn phát triển của cá tra phải theo đúng quy định của Tiêu chuẩn
Ngành 28 TCN 188:2004 (thức ăn hỗn hợp dạng viên cho cá tra và cá ba sa).
 Yêu cầu chất lượng thức ăn trong các giai đoạn nuôi: trong 2 tháng đầu
nuôi, thức ăn phải đảm bảo có hàm lượng đạm 28%. Giai đoạn tiếp theo, hàm lượng
đạm của thức ăn giảm xuống còn 25 - 26%. Trong 2 tháng cuối trước khi thu hoạch,
hàm lượng đạm của thức ăn giảm xuống còn 20 - 22%. Yêu cầu quản lý, sử dụng
các loại thức ăn đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn để nuôi cá tra phải theo đúng
quy định của Tiêu chuẩn Ngành 28TCN 176:2002.
 Phương pháp cho ăn: mỗi ngày cho cá ăn 2-4 lần, sáng vào lúc 6-10 giờ,
chiều tối vào lúc 16-18 giờ. Khẩu phần ăn với thức ăn công nghiệp là 2,0-2,5% khối
lượng cá trong ao/ngày; với thức ăn tự chế biến là 5-7% khối lượng cá trong
ao/ngày. Khi cho ăn, thức ăn phải được đưa xuống ao từ từ để toàn bộ số cá trong
ao nuôi đều có thể ăn được; cá sử dụng hết lượng thức ăn không gây lãng phí và ô
nhiễm môi trường. Thức ăn công nghiệp được rải xuống ao bằng tay. Thức ăn tự
chế biến được nắm thành cục nhỏ hoặc dùng máy ép đùn thành dạng sợi đưa vào
băng chuyền cho rơi từ từ xuống ao để cá ăn.
4
Thời gian nuôi
 Sau thời gian nuôi 8-10 tháng, khi cá đã đạt chất lượng thương phẩm và
tuỳ theo yêu cầu của thị trường có thể tiến hành thu hoạch toàn bộ cá nuôi trong ao.
 Nếu sử dụng thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật và hoá chất để
phòng trị bệnh cá trong khi nuôi, thì phải sau ít nhất 4 tuần kể từ khi ngừng sử dụng
mới được phép thu hoạch cá (Bộ NN&PTNT, 2004).
2.5 Tình hình sử dụng thuốc và hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản
2.5.1 Tình hình sử dụng thuốc và hoá chất ở đồng bằng sông Cửu Long
Qua khảo sát tại hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp đã ghi nhận có 30 loại
thuốc, hóa chất chủ yếu được sử dụng để cải tạo môi trường nước, diệt tạp và phòng
trị bệnh cho cá. Trong đó có 5 loại thuốc, hóa chất nằm trong danh mục hạn chế sử
dụng (Nguyễn Chính, 2005). Theo Trương Quốc Phú và Trương Kim Tính, 2012
ghi nhận có 56 loại thuốc, hóa chất được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản với các
mục đích: cải tạo và quản lý chất lượng nước, chất bổ sung cho cá, phòng trị bệnh
cá. Trong đó có 18 loại thuốc, hóa chất không biết rõ nguồn gốc và 3 loại thuốc, hóa
chất nằm trong danh mục hạn chế sử dụng.
Qua khảo sát mô hình nuôi thâm canh cá tra ở cù lao Mỹ Hoà Hưng, theo
Thái Mỹ Anh (2006) việc nuôi thâm canh cá tra ở mật độ cao chiếm đa số nên việc
sử dụng thuốc trong quá trình nuôi rất phổ biến và rất đa dạng như: thuốc thuỷ sản,
thuốc tây, thuốc dạng nguyên liệu. Các loại thuốc sử dụng trong quá trình nuôi như
thuốc kháng sinh và vitamin C được sử dụng xuyên suốt trong thời gian nuôi bằng
cách trộn vào thức ăn hoặc rải trong nước. Ngoài ra các hộ nuôi còn sử dụng các
loại hoá chất xử lý nước như: BKC for fish, Fresh water, Chlorin,…, đối với thuốc
phòng trừ bệnh như: Cotrim, Enromox for fish, thuốc xổ giun,…, bên cạnh đó còn
sử dụng các loại thuốc dinh dưỡng, các loại thuốc bổ nhằm kích thích cá ăn mồi.
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Chính (2005) người nuôi thường sử dụng
thuốc, hoá chất trong phòng trị bệnh cho cá nuôi theo chỉ dẫn của người bán hoặc
theo nhãn thuốc (64%) theo kinh nghiệm bản thân (59%) nhưng rất ít người theo chỉ
dẫn của khuyến ngư (3%). Mặt khác, người nuôi biết rất rõ về danh mục thuốc cấm
nhưng một số người vẫn còn sử dụng mà chưa hiểu rõ các nguy cơ của việc sử dụng
thuốc, hoá chất trong phòng trị bệnh cá. Đây là nguyên nhân gây ra hiện tượng tồn
lưu hoá chất ảnh hưởng đến môi trường, con người và vật nuôi,…
2.5.2 Thuốc và hoá chất sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản
Theo GESAMP (Group of Experts on the Scientific Aspects of Marine
Environmental Protection) (2001) trích dẫn bởi Nguyễn Chính (2005) cho rằng
thuốc, hóa chất sử dụng trong nuôi trồng thủy sản bao gồm các loại liên quan đến
vật tư kiến trúc công trình, xử lý đất và nước, tác nhân kháng khuẩn, thuốc trị bệnh,
thuốc trừ sâu, chất phụ gia thức ăn, thuốc gây tê và hormon. Sau đây là một số
5
nhóm thuốc, hóa chất đã được sử dụng liên quan đến ngành nuôi trồng thủy sản trên
thế giới.
 Nhóm liên quan đến vật tư kiến trúc công trình như chất dẽo, chất phụ
gia, chất ổn định, chất chống oxy hóa, chống cháy...
 Nhóm xử lý đất và nước: phèn, EDTA, thạch cao, vôi, zeolite.
 Nhóm liên quan đến phân bón: phân hữu cơ và vô cơ.
 Nhóm chất khử trùng: Chloramin, Formalin, Hypoclorit (calci, natri),
Iodopho, Ozon và các Amoni tứ bội.
 Nhóm hóa chất: Acriflavin, hợp chất đồng, Dimetridazol, Glutarandehit,
Hydroperoxit, Levamisol, Malachite green, xanh methylen, Noclosamit, thuốc tím,
Trifluratin. Trong các chất trên thì Malachite green là chất bị nghi ngờ có liên quan
đến bệnh ung thư và quái thai do đó hiện nay rất nhiều nước trên thế giới kể cả Việt
Nam đã cấm sử dụng hóa chất này trong nuôi trồng thủy sản.
 Nhóm thuốc trừ sâu dùng diệt tạp trước khi thả giống: Azinpho, Ethyl,
Carbazyl, Diclorvo, Nicotin, photphat hữu cơ, hợp chât Organotin, Rotenon,
Saponin, Tricloropho.
 Chất phụ gia trong thức ăn: Astaxanthin, Hydroxyanisol butyl hóa,
Hydroxytoluen butyl hóa, Canthaxanthin, Ethoxyquin, chất dẫn dụ cho ăn, chất kích
thích miễn dịch, vitamin C, E.
 Nhóm thuốc gây tê: Benzocain, Carbondioxit, Metodimat,
Phenoxyethanol, Quinadin, Tricain methasulphonat.
 Nhóm hormon: hormon sinh trưởng, 17 -methyltestosteron, Oestragigol-
17  , thuốc kích thích rụng trứng, Serotenin.
 Nhóm kháng khuẩn: Đây là nhóm thuốc có thể nói là quan trọng nhất vì
hầu hết nhóm này quyết định trong việc điều trị khi bệnh xuất hiện, chúng có độc
tính cao. Đồng thời, cách sử dụng hoàn khác với các nhóm hóa chất, thuốc thường
được trộn trực tiếp vào thức ăn cho động vật thủy sản. Do đó, dư lượng của thuốc
dễ dàng tồn lưu trong cơ thịt của sản phẩm thủy sản dẫn đến gây mất an toàn vệ
sinh thực phẩm. Đây là chỉ tiêu kiểm soát bắt buộc của các nước nhập khẩu thực
phẩm, nhất là các nước phát triển có nhu cầu nhập khẩu thủy sản với lượng lớn. Do
đó, nếu người nuôi ít hiểu biết về cách sử dụng thuốc kháng khuẩn thì việc điều trị
khó thành công dẫn đến hậu quả to lớn về nhiều mặt.
Hiện nay có rất nhiều loại kháng sinh đã được phát minh và sản xuất đại trà
như:
 Nhóm  -lactam: Thuốc có phổ kháng khuẩn tương đối rộng, đại diện và
thông dụng trong nuôi trồng thủy sản là Ampicillin và Amoxicillin. Nhóm có tính
diệt khuẩn bằng cách ức chế giai đoạn cuối cùng của sự tổng hợp peptidoglycan
chất hình thành tế bào vi khuẩn (Bùi Kim Tùng, 2001).
6
 Nhóm Tetracyclin: Thuốc có phổ kháng khuẩn rất rộng, bao gồm nhiều vi
khuẩn Gram+, Gram- và các khuẩn nội bào. Đại diện và thông dụng trong nuôi trồng
thủy sản là Tetracyclin, Chlotetracyclin và Oxytetracyclin. Độc tính của Tetracyclin
là có thể gây xáo trộn tiêu hóa, xáo trộn chức năng gan, thận, đen răng, nổi mẩn
ngứa,... (Mai Phương Mai, 2001 trích dẫn bởi Nguyễn chính, 2005).
 Nhóm Aminoside: Tác dụng chủ yếu lên cầu khuẩn Gram+, Trực khuẩn
Gram+, Trực khuẩn Gram – và hiếu khí (họ vi khuẩn đường ruột). Đại diện và thông
dụng trong nuôi trồng thủy sản là Streptomycin, Gentamycin, Kanamycin và
Neomycin. Độc tính chủ yếu của nhóm aminoside là ở tai và thận (Bùi Kim Tùng,
2001).
 Nhóm Macrolide: Tác dụng chủ yếu lên cầu khuẩn Gram+ và trực khuẩn
Gram+, các nấm nội bào (không có tác dụng đối với vi khuẩn Gram-). Đại diện và
thông dụng trong nuôi trồng thủy sản là Erythromycin tương đối rất độc (Bùi Kim
Tùng, 2001, dẫn bởi Nguyễn Chính, 2005). Thuốc có tác dụng phụ là có thể gây xáo
trộn tiêu hóa, viêm gan, ứ mật, viêm tắt tĩnh mạch (Mai Phương Mai, 2001 trích dẫn
bởi Nguyễn Chính, 2005).
 Nhóm Sulfonamid: Thuốc có phổ kháng khuẩn rộng, bao gồm nhiều vi
khuẩn Gram+, Gram-. Tuy nhiên sự đề kháng của vi khuẩn với thuốc nhanh. Đại
diện và thông dụng trong nuôi trồng thủy sản là Sulfadiazine, Sulfadimidine,
Sulfamethoxazone, nhóm thuốc này ít khi được dùng đơn lẻ mà thường kết hợp với
các nhóm chất khác để tăng cường hiệu lực. Thuốc có tác dụng phụ là có thể gây
độc tính với máu, thiếu máu không tái tạo hay gây độc ở thận (Mai Phương Mai,
2001 trích dẫn bởi Nguyễn Chính, 2005).
 Nhóm Quinolone và Fluoroquinolone: Thuốc có phổ kháng khuẩn hẹp,
chủ yếu lên các vi khuẩn Gram-, các lậu cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn và các mầm nội
bào. Đại diện và thông dụng trong nuôi trồng thủy sản là Oxolinic acid và
Flumequin (Quinolone) và Norfloxacin, Ciprofloxacin, Enrofloxacin, Ofloxacine
(Fluoroquinolone). Độc tính chủ yếu của nhóm Quinolone là làm rối loạn tiêu hóa,
rối loạn thần kinh, đau khớp, đau cơ... (Bùi Kim Tùng, 2001).
 Nhóm Phenicol: Thuốc có phổ kháng khuẩn rộng, bao gồm nhiều vi
khuẩn Gram+, Gram- vi khuẩn kỵ khí, vi khuẩn nội bào, đại diện và thông dụng
trong nuôi trồng thủy sản trước đây là Chloramphenicol. Hiện nay, thuốc này đã bị
cấm trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Thuốc có rất nhiều tác dụng phụ là có thể gây suy tủy gây tai biến máu có nguy cơ
tử vong, viêm niêm mạc tiêu hóa, hại hệ tạp khuẩn ruột, gây “Hội chứng xám” ở trẻ
em và có thể gây suy giảm miễn dịch (Bùi Kim Tùng, 2001).
 Nhóm Nitrofuran: Thuốc có phổ kháng khuẩn rộng bao gồm vi khuẩn
Gram+, các lậu cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn. Đại diện và thông dụng trong nuôi trồng
7
thủy sản trước đây là Furazolidone. Hiện nay, thuốc này đã bị cấm trong nuôi trồng
thủy sản ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Thuốc có tác dụng phụ là có thể gây
viêm gan, xơ gan, viêm thần kinh ngoại vi (Bùi Kim Tùng, 2001).
Danh mục các loại thuốc và hoá chất cấm sử dụng và hạn chế sử dụng
trong nuôi trồng thuỷ sản
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có thông tư 15/2009/TT-BNN
ngày 17/3/2009 ban hành danh mục hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng và hạn chế
sử dụng trong sản xuất kinh doanh thủy sản. Ngày 16 tháng 01 năm 2012, Bộ Nông
Nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành thông tư số 03 /2012/TT-BNNPTNT về
việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm
sử dụng, hạn chế sử dụng (phụ lục 6-7) (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2012).
2.6 Nguyên tắc dùng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản
Theo Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan (2004)
 Chỉ dùng kháng sinh đối với bệnh nhiễm khuẩn
 Xác định đúng vi khuẩn gây bệnh
 Thử nghiệm kháng sinh đồ
 Thuốc tới đúng vị trí (cơ quan) bị bệnh: động vật thuỷ sản có 2 phương
pháp chủ yếu là ngâm (tắm) hoặc uống (trộn vào thức ăn). Do đó phải quan tâm đến
độ pH có liên quan đến hoạt tính thuốc. Ví dụ: mất hoạt tính thuốc: Ampicilin,
colistin (bị chuyển hoá một nửa); giữ nguyên hoạt tính thuốc: streptomycine,
kanamycine,…
 Khả năng sinh học của thuốc (hiệu quả trị liệu của thuốc): tập trung ở cơ
quan bị bệnh, chuyển hoá chậm, thời gian bán huỷ dài, bài xuất chậm,…
 Độc tính thuốc (quan tâm đến những loại thuốc có ảnh hưởng đến sức
khoẻ người tiêu thụ sản phẩm).
 Liều thuốc dùng thường tính theo thể trọng (trọng lượng cơ thể kg/ngày).
 Thời gian bán huỷ của thuốc
 Thời gian dùng thuốc: nên ngưng dùng thuốc 3 ngày sau khi dấu hiệu
bệnh biến mất.
 Kết hợp thuốc: tránh kết hợp những loại thuốc sẽ chuyển hoá thành hợp
chất trơ, không còn hoạt tính thuốc. Ví dụ: nhóm Penicillin kết hợp với
Kanamycine, Gentamycin làm mất khả năng kháng khuẩn do tạo phức chất với
Penicillin.
 Hiệu quả và chi phí điều trị.
Một số lưu ý khi sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản
Khi sử dụng kháng sinh cho các đối tượng thuỷ sản nuôi dùng làm thực phẩm
phải thận trọng, chính xác và phải tuân theo những nguyên tắc dưới đây:
8
 Thật hạn chế khi sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng trị bệnh thuỷ sản
để tránh ảnh hưởng đến người tiêu dùng và thuốc sử dụng phải được luật pháp các
nước cho phép sử dụng (Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan, 2004).
 Chọn lựa và sử dụng đúng loại thuốc kháng sinh: kháng sinh sử dụng
phải nằm trong danh mục cho phép sử dụng. Tránh sử dụng kháng sinh được dùng
để điều trị bệnh cho người để hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc. Ví dụ:
Ciprofloxacin, Enrofloxacin, Norfloxacin thuộc nhóm Fluoroquinolone (Phạm Văn
Khánh và Lý Thị Thanh Loan, 2004).
2.7 Ảnh hưởng của việc nuôi và sử dụng hoá chất không hợp lý trong nuôi
thâm canh cá tra
2.7.1 Ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe con người và vật nuôi
Quá trình nuôi thâm canh cá tra đã gây nên những ảnh hưởng về mặt môi
trường. Chất thải trong nuôi trồng thuỷ sản là bùn chứa phân các loài tôm cá, các
nguồn thức ăn dư thừa thối rửa do bị phân huỷ, các chất tồn dư của cá loại vật tư
trong quá trình nuôi trồng như: hoá chất, các loại khoáng chất như Diatomit,
Dolomit, lưu huỳnh lắng đọng,…nguồn bùn phù sa lắng đọng trong các ao nuôi
trồng thuỷ sản thải ra hằng năm trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi. Đặc biệt
với các mô hình nuôi với kỹ thuật cao, mật độ lớn như nuôi thâm canh, nuôi công
nghiệp,…dẫn đến nguồn thải càng lớn và tác động đến môi trường càng cao (Tổng
cục Thuỷ sản, 2012).
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng để sản xuất 1 kg cá tra cần 0.5-0.62 gam
Nitơ và 0,03-0,04g photpho; đồng thời dinh dưỡng thải ra môi trường khi sản xuất 1
kg cá tra biến động từ 0,0001-0,0003g Nitơ và 0,00001-0,00003 gam photpho (Thái
Mỹ Anh, 2006). Hàm lượng đạm tổng số, lân tổng số và chất hữu cơ tích luỹ trong
lớp bùn đáy ao sau mỗi chu kỳ nuôi tương ứng là 1,5; 0,7 và 145,8 mg/g (Nguyễn
Lệ Phương, 2011). Theo Phạm Quốc Nguyên (2013) giá trị pH có xu hướng giảm
dần từ đầu vụ đến cuối vụ, dao động trong khoảng 6,05-7,78. Oxy hoà tan trong ao
rất thấp, dao động lớn (0,01-7,55 mg/L) và biến động theo chu kỳ ngày đêm, độ sâu
mực nước ao theo thời gian nuôi. TAN trong ao dao động từ 0,3-9,19 mg/L và tăng
dần theo thời gian nuôi. Hàm lượng nitrit trong ao khá cao có thể ảnh hưởng bất lợi
cho cá.
Các loại thuốc, hóa chất sử dụng trong xử lý xây dựng công trình, tiêu diệt
địch hại và một số chất xử lý môi trường đều có tính xâm hại môi trường như độc
chất tồn lưu lâu dài gây ra các bệnh cấp tính và mãn tính hiểm nghèo cho con người
và vật nuôi như bệnh về hô hấp, thần kinh, rối loạn nội tiết, ung thư, vô sinh hoặc
thai nhi dị dạng, yếu ớt..., vôi hóa nền đáy, tiêu diệt quần thể sinh vật tự nhiên,...
làm hủy hoại môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển bền vững của
ngành thủy sản, của các vấn đề kinh tế xã hội... (Nguyễn Chính, 2005).
9
2.7.2 Hình thành hệ vi khuẩn kháng thuốc
Thuốc kháng sinh được sử dụng rộng rãi cho người và vật nuôi trên cạn, nên
việc sử dụng chúng trong nuôi trồng thủy sản là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt
vì chúng liên quan tới phương thức phân bố thuốc. Trong nuôi trồng thuỷ sản, môi
trường nước rất dễ phát tán, do đó khi sử dụng thuốc kháng sinh, thuốc sẽ nhanh
chóng lan truyền cả ao nuôi thậm chí phát tán ra cả thủy vực tự nhiên quanh trại.
Nuôi thủy sản thường được nuôi với mật độ cao, thuốc có thể trộn vào thức ăn hoặc
đưa trực tiếp vào nước (Herwig et al., 1997, trích dẫn bởi Claudia Harper, 2002
trích dẫn bởi Nguyễn Chính, 2005). Kết quả là thuốc phát tán rất nhanh và tồn lưu
(tuy mức độ có khác nhau) cả trong ao nuôi và nguồn nước tự nhiên chung quanh.
Điều này làm cho xuất hiện dòng vi khuẩn kháng thuốc, một khi đã có dòng vi
khuẩn kháng thuốc thì phải đưa kháng sinh mới để có thể tiêu diệt chúng và cứ kéo
dài chuỗi thay đổi thuốc qua nhiều chu kỳ nuôi sẽ dẫn đến một thời điểm việc
nghiên cứu ra thuốc mới sẽ không kịp đáp ứng nhu cầu, hơn nữa có rất nhiều chất
có độc tính hoặc mối nguy tiềm tàng cao đối với cơ thể con người
(Chloramphenicol, Nhóm nitrofurane...). Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
khoa học cho thấy rằng việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản có nguy
cơ rất cao tạo ra những dòng vi khuẩn kháng thuốc, vi khuẩn có thể tự đột biến gen
để kháng được nhiều thuốc, có thể thừa hưởng về đặc điểm di truyền, cấu trúc hoặc
trạng thái sinh lý cho chúng để đề kháng thuốc... (Claudia Harper, 2002 trích dẫn
bởi Nguyễn Chính, 2005).
Trong nghiên cứu về việc kháng thuốc của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
gây bệnh gan thận mủ trên cá tra kết quả cho thấy một số loại kháng sinh nhạy có
thể sử dụng để điều trị bệnh gan thận mủ trên cá tra như: Amoxicillin, Amoxicillin-
clavulanic acid, Florfenicol và Neomycyl. Tuy nhiên phần lớn các chủng vi khuẩn
đều kháng với các loại kháng sinh như Streptomycin, Trimethoprim và một số
chủng vi khuẩn đã kháng với nhóm Quinolones. Hiện tượng đa kháng cũng được
ghi nhận rất cao (hơn 71% số chủng vi khuẩn). Kết quả nghiên cứu đã cảnh báo sự
cần thiết kiểm soát nghiêm ngặt việc dùng thuốc kháng sinh để phòng trị bệnh trong
nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam (Từ Thanh Dung và ctv., 2010).
Một số nhóm nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy các điều kiện trung bình
cho việc phát triển vi khuẩn kháng thuốc ở nuôi trồng thủy sản là nước, bùn đáy và
cả cá nuôi (Schmidt 2000; Sorum 1998, trích dẫn bởi Claudia Harper, 2002 trích
dẫn bởi Nguyễn Chính, 2005). Bùn đáy ở gần một số trại nuôi có sử dụng nhiều
kháng sinh thường chứa nhiều vi khuẩn kháng thuốc hơn những trại chung quanh ít
hoặc không sử dụng kháng sinh mà những vi khuẩn này phần lớn kháng một hoặc
nhiều thuốc (Schmidt et al., 2000; Gonzalez et al., 1999; Herwig et al., 1997, trích
dẫn bởi Claudia Harper, 2002 trích dẫn bởi Nguyễn Chính, 2005). Tuy nhiên nếu
10
điều kiện nuôi trồng thủy sản tốt, sử dụng kháng sinh một cách hợp lý thì ít khi gặp
phải vi khuẩn kháng thuốc (Hereig et al., 1997, trích dẫn bởi Claudia Harper, 2002
trích dẫn bởi Nguyễn Chính, 2005).
2.8 Một số bệnh thường gặp trên cá tra và cách phòng trị
Nuôi thâm canh cá tra với mật độ cao nên gặp khá nhiều loại bệnh. Theo Bùi
Quang Tề (2001) khi nghiên cứu 41 loài cá nước ngọt nuôi ở ĐBSCL đã xác định
cá tra nuôi là loài nhiễm nhiều nhất với 23 loài ký sinh trùng ở các giai đoạn từ nhỏ
đến lớn. Một số loài ký sinh trùng gây bệnh nguy hiểm ở cá tra nuôi ở ĐBSCL là:
trùng bánh xe, trùng quả dưa, trùng loa kèn, sán lá đơn chủ, giun tròn. Một số bệnh
thường gặp trên cá tra, cá basa nuôi bè như bệnh lở loét, đốm đỏ, đốm trắng, hoại tử
và xuất huyết các vây, tuột nhớt, các bệnh gan thận mủ.
Dịch bệnh trên cá tra xuất hiện khắp các giai đoạn nhưng bệnh xuất hiện
nhiều và ảnh hưởng nặng nhất ở giai đoạn con giống. Theo Từ Thanh Dung và ctv.,
(2005) một số bệnh xuất hiện cả trên giai đoạn cá giống và thịt như bệnh đốm đỏ,
bệnh trắng da, đốm trắng, bệnh do ký sinh trùng,…trong đó bệnh do trùng bánh xe
có thể gây chết hàng loạt ở giai đoạn con giống. Một số bệnh do ký sinh trùng xuất
hiện khi môi trường nước bị nhiễm bẩn và mật độ nuôi dày nên cá bị xay xát. Bệnh
nhiễm trùng máu hay còn gọi là bệnh đốm đỏ là một loại bệnh khá phổ biến trong
các ao nuôi thâm canh cá tra. Trong trường hợp bị dịch nặng, cá có thể chết đến 80-
90%. Giai đoạn cá con dễ bị nhiễm hơn cá trưởng thành và tỷ lệ chết cũng cao hơn
(http://thuvienkhcn.vinhlong.gov.vn).
Theo Cao Thị Thanh Tâm (2003), mùa vụ xuất hiện bệnh trên cá tra, cá ba sa
như bệnh đốm trắng trên gan thận xuất hiện từ tháng 7-12, bệnh phù đầu xuất hiện
từ tháng 1-5, bệnh xuất huyết, ký sinh mang, cơ, ruột, xuất hiện quanh năm và bệnh
vàng da xuất hiện tháng 6-7 và tháng 11-12. Nếu không có biện pháp phòng ngừa
và chữa trị kịp thời, đúng cách dịch bệnh có thể gây những tổn thất nặng nề cho
người nuôi.
Phòng và trị bệnh cho cá
Theo Bộ Thuỷ sản (2004):
 Trong khi nuôi, tiến hành khử trùng nước ao bằng cách dùng vôi bột hoà
nước rồi tạt đều khắp mặt ao với liều lượng 1,5-2,0 kg/100m3 nước ao. Có thể dùng
chế phẩm vi sinh hoặc Formalin xử lý và khử trùng nước ao nuôi để phòng bệnh
cho cá.
 Thường xuyên theo dõi, kiểm tra môi trường nước ao để đảm bảo giữ
nguồn nước ao trong sạch. Nếu thấy môi trường xấu, cá kém ăn hoặc xuất hiện bệnh
phải có biện pháp xử lý kịp thời.
 Việc sử dụng thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật và hoá chất để
phòng trị bệnh cho cá phải theo đúng những quy định của Bộ Thuỷ sản. Không sử
11
dụng các loại thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật và hoá chất thuốc và hóa
chất đã bị cấm sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản.
 Khi sử dụng thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật và hoá chất để
phòng trị bệnh cho cá phải lưu trữ hồ sơ về tình hình sử dụng. Hồ sơ phải ghi rõ
ngày sử dụng, loại sử dụng; cách điều trị và kết quả điều trị.
Các phương pháp phòng trị bệnh
Theo Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan (2004) phòng và trị bệnh cho
động vật thuỷ sản thường sử dụng các phương pháp sau đây:
 Phương pháp tắm: dùng thuốc với nồng độ tương đối cao tắm cho động
vật thuỷ sản theo thời gian quy định (tương ứng với nồng độ cho phép). Phương
pháp này chỉ áp dụng với các trại giống hoặc môi trường nuôi có diện tích nhỏ.
 Phương pháp ngâm: thuốc được dùng với nồng độ thấp nhưng thời gian
kéo dài, thường sử dụng cho các ao đầm nuôi với diện tích lớn. Để giảm lượng hoá
chất cần giảm bớt mực nước trong ao nuôi, đồng thời cũng chuẩn bị một lượng
nước sạch để chủ động cấp vào ao nuôi để phòng khi có sự cố xảy ra.
 Phương pháp uống: dùng thuốc hoặc các chế phẩm trộn vào thức ăn,
phương pháp này thường kém hiệu quả với một số bệnh vì khi đối tượng bị bệnh
khả năng hoạt động sẽ kém, do đó hoạt động bắt mồi kém đôi khi bỏ ăn nên kết quả
điều trị thường không cao. Khi sử dụng phương pháp này cần bổ sung dầu gan mực
hoặc dầu thực vật bao bên ngoài viên thức ăn để hạn chế thuốc và hoá chất bị mất đi
do hoà tan trong môi trường nước nuôi.
 Phương pháp tiêm: dùng thuốc tiêm trực tiếp vào cơ thể cá (chỉ áp dụng
cho cá quý hiếm, cá bố mẹ, có giá trị kinh tế cao).
12