Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong ao nuôi thâm canh cá lóc (channa sp.) ở huyện tam nông tỉnh đồng tháp

  • 62 trang
  • file .pdf
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
NGUYỄN THÀNH NHƠN
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC
VÀ HÓA CHẤT TRONG AO NUÔI
THÂM CANH CÁ LÓC (Channa sp.)
Ở HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP
Cán bộ hướng dẫn:
Ths. NGUYỄN THỊ NHƯ NGỌC
NCS. LÊ MINH LONG
Cần Thơ, 2014
i
PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn kèm theo đây với tựa đề là “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và
hóa chất trong ao nuôi thâm canh cá lóc (Channa sp.) ở huyện Tam Nông tỉnh Đồng
Tháp”, do sinh viên Nguyễn Thành Nhơn thực hiện và báo cáo đã được Hội đồng
chấm luận văn thông qua.
Thành viên Hội đồng
PGS.TS. Bùi Thị Nga TS. Nguyễn Xuân Lộc
Ths. Nguyễn Thị Như Ngọc
ii
LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Bộ môn Khoa học Môi trường, Khoa
Môi trường và TNTN đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn cho tôi
trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Cô Nguyễn Thị Như Ngọc đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ, truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Xin gởi lời cảm ơn đến anh Lê Minh Long, Nghiên cứu sinh chuyên ngành
Môi trường đất và nước khóa 2013-2017 đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn tốt nghiệp này.
Cảm ơn các bạn lớp Khoa học Môi trường K37, đặc biệt là nhóm thực hiện
đề tài khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hóa chất đã đồng hành, ủng hộ và giúp đỡ
tôi hoàn thành tốt luận văn.
Cuối cùng xin bày tỏ lòng kính trọng đến gia đình tôi, nơi đã nung nấu ý chí,
tinh thần và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập và rèn luyện tại trường Đại
học Cần Thơ.
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất!
Tác giả
Nguyễn Thành Nhơn
iii
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong ao nuôi thâm
canh cá lóc (Channa sp.) ở huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện từ
tháng 7 đến tháng 10 năm 2014 nhằm xác định hiện trạng sử dụng thuốc và hóa chất
trong ao nuôi thâm canh cá lóc từ đó làm cơ sở cho các nghiên cứu về dư lượng
thuốc và hóa chất trong ao nuôi thâm canh cá lóc. Kết quả khảo sát cho thấy tổng
diện tích nuôi thâm canh cá lóc ở huyện Tam Nông giảm từ năm 2012 đến nay. Có
23 loại hóa chất và thảo dược dùng cải tạo và xử lý nước; 31 sản phẩm chứa 22
kháng sinh trong đó có 2 kháng sinh cấm chiếm 9%; 20 sản phẩm thuốc-hóa chất
phòng trị bệnh cá; 30 chế phẩm sinh học và chất bổ sung được người dân sử dụng.
Thời gian cách ly thuốc-hóa chất trung bình 8,96±7,60 ngày, trình độ văn hóa có tác
động tích cực đến thời gian cách ly thuốc-hóa chất.
Từ khóa: Cá lóc (Channa sp.), hóa chất, kháng sinh, thâm canh, thuốc.
iv
MỤC LỤC
PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG ........................................................................................... ii
LỜI CẢM TẠ ....................................................................................................................... iii
TÓM LƯỢC ......................................................................................................................... iv
DANH SÁCH BẢNG.......................................................................................................... vii
DANH SÁCH HÌNH .......................................................................................................... viii
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ............................................................................... 2
2.1 Sơ lược về huyện Tam Nông - tỉnh Đồng Tháp .......................................................... 2
2.2 Vài nét chung về cá lóc................................................................................................ 4
2.2.1 Một số đặc điểm chung......................................................................................... 4
2.2.2 Kỹ thuật nuôi cá lóc thương phẩm ....................................................................... 4
2.3 Tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL .................................................................................. 6
2.4 Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong NTTS ...................................................... 8
2.4.1 Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong NTTS ở ĐBSCL .............................. 8
2.4.2 Một số nguyên tắc khi sử dụng thuốc và hóa chất trong NTTS ........................... 8
2.5 Một số loại thuốc và hóa chất thường sử dụng trong NTTS ..................................... 11
2.5.1 Nhóm thuốc kháng sinh ...................................................................................... 11
2.5.2 Nhóm cải tạo môi trường .................................................................................... 12
2.5.3 Nhóm trị bệnh ký sinh trùng ............................................................................... 13
2.5.4 Nhóm vaccin và kháng huyết thanh ................................................................... 14
2.5.5 Các chế phẩm sinh học và chất bổ sung ............................................................. 14
2.6 Ảnh hưởng của thuốc-hóa chất và kháng sinh trong NTTS ...................................... 15
2.7 Một số bệnh thường gặp trên cá lóc và cách phòng trị .............................................. 17
2.7.1 Bệnh xuất huyết .................................................................................................. 18
2.7.2 Bệnh gan thận ..................................................................................................... 19
2.7.3 Động vật đơn bào ............................................................................................... 19
2.7.4 Metazoa - Ký sinh trùng đơn bào ....................................................................... 19
2.7.5 Nhóm giun tròn – Nematoda .............................................................................. 19
2.7.6 Bệnh sán lá đơn chủ............................................................................................ 20
2.8 Một số qui định về việc cấm và hạn chế sử dụng một số loại thuốc, hóa chất .......... 21
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................. 22
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 22
3.2 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu........................................................................... 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 22
3.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp ..................................................................................... 22
3.3.2 Phỏng vấn tình hình sử dụng thuốc, hóa chất trong ao nuôi thâm canh cá lóc .. 22
3.3.3 Phân loại danh mục thuốc-hóa chất trong ao nuôi thâm canh cá lóc của các
nông hộ ở tỉnh Đồng Tháp ........................................................................................... 23
3.4 Phương pháp xử lý số liệu ......................................................................................... 23
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ...................................................................... 24
4.1 Tình hình và kỹ thuật nuôi thâm canh cá lóc ở huyện Tam Nông-tỉnh Đồng Tháp .. 24
4.2 Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất ở huyện Tam Nông–tỉnh Đồng Tháp ............. 27
4.2.1 Kiến thức sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất ............................................... 27
4.2.2 Hóa chất và thảo dược dùng để cải tạo ao và xử lý nước ................................... 28
4.2.3 Thuốc–hóa chất dùng để phòng trị bệnh cho cá ................................................. 29
Các bệnh thường gặp và thời gian xuất hiện ............................................................... 29
4.2.4 Chế phẩm sinh học và chất bổ sung cho cá lóc .................................................. 34
v
4.2.5 Thời gian ngưng sử dụng thuốc trước khi thu hoạch.......................................... 35
4.3 Chi phí sử dụng thuốc và hóa chất ............................................................................ 36
4.4 Tình hình bảo quản thuốc-hóa chất, xử lý bao bì/chai lọ chứa thuốc và hóa chất .... 37
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................... 39
5.1 Kết luận ..................................................................................................................... 39
5.2 Kiến nghị ................................................................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 40
PHỤ LỤC
vi
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích nuôi thâm canh cá lóc ở huyện Tam Nông ............................................ 3
Bảng 2.2: Mật độ nuôi cá lóc trong ao đất ............................................................................ 5
Bảng 2.3: Khẩu phần thức ăn cho cá lóc ............................................................................... 5
Bảng 4.1: Một số thông tin nuôi thâm canh cá lóc trong ao tại vùng nghiên cứu ............... 27
Bảng 4.2: Cách sử dụng thuốc và hóa chất ở các hộ nuôi cá lóc trong khu vực ................. 28
Bảng 4.3: Một số loại hóa chất và thảo dược dùng để cải tạo ao và xử lý nước ................. 29
Bảng 4.4: Nhóm bệnh thường xuất hiện trên cá lóc ............................................................ 30
Bảng 4.5: Một số loại kháng sinh sử dụng phòng trị bệnh cá lóc ....................................... 32
Bảng 4.6: Một số loại thuốc và hoá chất sử dụng phòng trị bệnh trong ao nuôi cá lóc ...... 33
Bảng 4.7: Một số chế phẩm sinh học-chất bổ sung dùng trong nuôi cá lóc ........................ 34
Bảng 4.8: Một số hình thức xử lý bao bì/chai lọ chứa thuốc và hóa chất ........................... 38
vii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp ....................................................................... 2
Hình 2.2: Diện tích nuôi cá lóc địa bàn các huyện thuộc tỉnh Đồng Tháp ............................ 3
Hình 2.3: Một số bệnh thường xuất hiện trong nuôi cá lóc ở ĐBSCL ................................ 18
Hình 4.1: Diện tích ao nuôi thâm canh cá lóc ở huyện Tam Nông–tỉnh Đồng Tháp .......... 25
Hình 4.2: Mối quan hệ giữa kinh nghiệm và mật độ nuôi ................................................... 25
Hình 4.3: Bùn đáy ao thải ra kênh Đồng Tiến - huyện Tam Nông ..................................... 27
Hình 4.4: Tương quan giữa số loại kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng ............................ 31
với trình độ văn hóa ............................................................................................................. 31
Hình 4.5: Mối quan hệ giữa thời gian cách ly thuốc-hóa chất với trình độ học vấn của nông
hộ ......................................................................................................................................... 36
Hình 4.6: Cơ cấu giá thành trong ao nuôi thâm canh cá lóc ................................................ 37
Hình 4.7: Thuốc-hóa chất được chứa trong bao bì nylon trắng ........................................... 37
viii
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam tính đến tháng 5 năm 2014 tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản
(NTTS) ước tính đạt 309,4 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ 2013, trong đó sản
lượng cá nuôi ước tính đạt 237,5 nghìn tấn. Riêng ở đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) đã đạt sản lượng 2,2 triệu tấn thủy sản trên diện tích nuôi là 795.000 ha
năm 2013 (Tổng cục Thủy sản, 2013).
Tình hình nguồn cá tự nhiên ngày càng ít dần nên phong trào nuôi cá đồng
đang phát triển mạnh và mang lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Nhiều tỉnh ở
ĐBSCL như An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long... đã và đang chú trọng
phát triển nghề nuôi thủy sản, đặc biệt là nuôi cá lóc. Cũng như các địa phương
khác tỉnh Đồng Tháp đã và đang phát triển nghề nuôi cá lóc với nhiều hình thức
thâm canh khác nhau.
Theo Lư Trí Tài (2010), cá lóc là một trong những đối tượng nuôi mới, đầy
tiềm năng có giá trị kinh tế cao, khi nghề nuôi được thâm canh hóa với việc tăng
mật độ nuôi thì vấn đề dịch bệnh xảy ra thường xuyên hơn. Kết quả khảo sát của Lê
Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2009) cho thấy việc tiếp thu khoa học kỹ thuật cho
nuôi cá lóc của đa số hộ nuôi rất hạn chế, chủ yếu là do kinh nghiệm. Người dân chỉ
biết trộn thuốc kháng sinh hoặc hóa chất vào thức ăn khi cá bệnh mà không biết
được hiệu quả của thuốc như thế nào. Đồng thời, người nuôi chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm và tự pha trộn thuốc, không biết được tính kết hợp hay đối kháng của thuốc
cũng như hậu quả và những vấn đề liên quan đến sức khỏe con người, vật nuôi và
an toàn vệ sinh thực phẩm của việc sử dụng thuốc (Nguyễn Chính, 2005).
Xuất phát từ thực tế trên nên đề tài “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hóa
chất trong ao nuôi thâm canh cá lóc (Channa sp.) ở huyện Tam Nông tỉnh Đồng
Tháp” được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định hiện trạng sử dụng thuốc và hóa chất trong ao nuôi thâm canh cá
lóc nhằm làm cơ sở cho các nghiên cứu về dư lượng thuốc-hóa chất trong các ao
nuôi.
Nội dung thực hiện
 Thu thập số liệu về nghề nuôi thâm canh cá lóc ở huyện Tam Nông tỉnh
Đồng Tháp.
 Phỏng vấn hiện trạng sử dụng thuốc và hóa chất trong ao nuôi thâm canh cá
lóc.
1
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về huyện Tam Nông - tỉnh Đồng Tháp
Đồng Tháp là một trong 13 tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, bao
gồm 2 thành phố: TP Cao Lãnh, TP Sa Đéc; thị xã Hồng Ngự và 9 huyện: Cao
Lãnh, Châu Thành, Hồng Ngự, Lai Vung, Lấp Vò, Tân Hồng, Thanh Bình, Tháp
Mười và huyện Tam Nông (http://vi.wikipedia.org/).
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp diện tích
NTTS tính đến tháng 4/2014 là 5.341,78 ha tăng so với tháng 4/2013 là 3.838,01 ha.
Đến cuối năm 2013 sản lượng cá lóc nuôi toàn tỉnh Đồng Tháp đạt 11.094,15 tấn
trên tổng diện tích nuôi 158,9 ha (Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Đồng
Tháp, 2013).
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp
Tam Nông là huyện thuộc tỉnh Đồng Tháp, có 12 đơn vị hành chính gồm 1
thị trấn huyện lỵ và 11 xã (http://vi.wikipedia.org/wiki/). Dân số trên 108 nghìn
2
người với mật độ 215 người/km2 thấp hơn so với mật độ dân số toàn tỉnh Đồng
Tháp là 496 người/km2 (http://tamnong.dongthap.gov.vn/), huyện Tam Nông thấp
trũng nhất của tỉnh Đồng Tháp nên vào mùa lũ nên không thể canh tác lúa, thay vào
đó người dân tận dụng nước lũ để đánh bắt và NTTS. Qua hình 2.2 cho thấy huyện
Tam Nông có diện tích nuôi thâm canh cá lóc lớn nhất tỉnh Đồng Tháp, với sản
lượng đạt 4.820 tấn (Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Đồng Tháp, 2013).
Hình 2.2: Diện tích nuôi cá lóc địa bàn các huyện thuộc tỉnh Đồng Tháp
(Nguồn: Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Đồng Tháp, 2013)
Theo báo cáo của Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Đồng Tháp (2014)
cho thấy diện tích nuôi thâm canh cá lóc ở Tam Nông giảm từ 147,3 ha (12/2012)
xuống còn 65,4 ha (12/2013). Báo cáo này còn cho thấy 5 tháng đầu năm 2014 diện
tích sản xuất cá lóc giảm từ 73,0 ha (1/2014) xuống còn 35,7 ha (5/2014) thấp hơn
so với diện tích năm 2013 (Bảng 2.1).
Bảng 2.1: Diện tích nuôi thâm canh cá lóc ở huyện Tam Nông
Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng
Thời gian
12/2012 12/2013 1/2014 2/2014 3/2014 4/2014 5/2014
Diện tích (ha) 147 65,4 73,0 69,3 37,0 36,2 35,7
3
2.2 Vài nét chung về cá lóc
2.2.1 Một số đặc điểm chung
Cá lóc có vị trí phân loại như sau:
Lớp Actinoperygii
Bộ Percifomes
Họ Channidae
Giống Channa (Nguyễn Thanh Tùng và ctv, 2006 trích dẫn bởi Phan
Hồng Cương, 2009).
Cá lóc là loài phân bố rộng trong tự nhiên và thường thấy ở thủy vực nước
ngọt Châu Á. Cá lóc đen sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao hồ, đầm, sông
thích nghi được cả với môi trường nước đục, tù, nước lợ, có thể chịu đựng được ở
nhiệt độ trên 30ºC. Cá lóc phân bố rộng từ Việt Nam, Lào, Philipin đến Ấn Độ. Cá
sống ở nước ngọt là chủ yếu, nhưng cũng có thể sống ở nhiều loại thủy vực khác
nhau kể cả những vùng trũng ngập nước lâu ngày. Chúng thích sống nơi nước tĩnh
có mực nước trung bình khoảng 0,5–1 m.
Cá lóc là đối tượng nuôi quan trọng, là nguồn thực phẩm tốt cho người dân
(Dương Nhựt Long, 2004). Ngoài ra, cho thấy cá lóc có cơ quan hô hấp khí trời nên
chúng có thể sống rất lâu trên cạn, với điều kiện chỉ cần ẩm ướt toàn thân
(Arunachlam và Palanichamy, 1982 trích dẫn bởi Nguyễn Văn Công và ctv, 2006).
Vì giá trị thực phẩm và khả năng thích nghi cao nên nhiều mô hình nuôi cá lóc đã
được hình thành từ thâm canh đến bán thâm canh, nuôi kết hợp.
Theo Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2009) mật độ nuôi thâm canh cá lóc
trong ao đất trung bình 45,9 con/m2. Theo Đỗ Minh Chung (2010), thời gian nuôi cá
lóc thương phẩm bình quân từ 4-6 tháng/vụ tùy theo loài nuôi và giá bán thời điểm
thu hoạch mà thời gian nuôi có thể kéo dài hơn.
2.2.2 Kỹ thuật nuôi cá lóc thương phẩm
Nuôi cá lóc trong ao đất
Trong quá trình nuôi, để góp phần nâng cao năng suất, các giải pháp kỹ thuật
thông thường cần được tuân thủ để chuẩn bị cho một ao nuôi như sau:
Diện tích ao từ 100-1.000 m2, độ sâu 1,5-2 m. Nhiệt độ từ 23-32°C, pH từ
6-8. Lớp bùn đáy ao phải dưới 20 cm. Ao được cải tạo, dọn dẹp môi trường xung
quanh, xãm lổ mọi, cống bọng chắc chắn. Bờ ao phải cao hơn đỉnh lủ cao nhất
0,5m. Dùng lưới chắn hoặc đăng tre cao 0,8-1 m để tránh cá nhảy ra ngoài (Dương
Nhựt Long, 2004). Trước khi thả phải tát cạn ao, vét bùn đáy, rải vôi bột 8-
10kg/100 m2. Sau 1-2 ngày cấp nước từ từ vào ao (Phạm Văn Khánh, 2004).
4
Mật độ thả nuôi
Theo Dương Nhựt Long (2004), tùy vào kích thước cá giống sẽ có mật độ như sau:
Bảng 2.2: Mật độ nuôi cá lóc trong ao đất
Kích thước cá giống (cm) Mật độ thả nuôi (con/m2)
3 100
5 50
7 20
10 10
15 5
25 3
>25 2
Giống cá lóc chọn thả nuôi phải có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, nhiều
nhớt, không bị thương tích hay bệnh tật. Cỡ cá phải đạt từ 20–30 g/con.
Cho ăn và quản lý chăm sóc
Chế độ cho ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều (Dương Nhựt Long, 2004). Khẩu
phần ăn hàng ngày sẽ được định lượng cho phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng và tình
hình sức khỏe ở các giai đoạn phát triển của cá có thể tóm tắt ở bảng sau:
Bảng 2.3: Khẩu phần thức ăn cho cá lóc
Kích cỡ cá giống (g/con) Khẩu phần thức ăn (%)
<10 10 – 12
10 - 20 8 – 10
20 – 30 5–8
30 – 50 5–8
50 – 100 5–8
>100 5
Theo Dương Nhựt Long (2004), thường xuyên kiểm tra hệ thống công trình nuôi và
hoạt động của cá. Nhằm hạn chế hao hụt do cống, mọi và kiểm soát chặt chẽ sức
khỏe cá nuôi, kịp thời xử lý khi cá bệnh. Theo dõi sự biến động chất lượng nước
trong ao nuôi, cần giữ nước sạch, định kỳ thay nước 2-3 lần/tuần, mỗi lần thay từ
30-50% thể tích nước ao. Nếu có điều kiện nên cho nước lưu thông nhẹ thường
xuyên. Định kỳ 10 ngày/lần dùng vôi bột Ca(OH)2 liều lượng 6-8 kg/m2, hòa vào
nước tạt đều khắp ao để giữ môi trường và phòng bệnh cho cá (Phạm Văn Khánh,
2004).
5
Thu hoạch
Theo Dương Nhựt Long (2004) nên hạ mực nước ao còn 40–50 cm lấy lưới
kéo đánh bắt dần, khi thu hoạch toàn bộ thì phải tát cạn. Chu kỳ nuôi kéo dài ít nhất
sáu tháng, trọng lượng trung bình 0,8–1 kg/con.
2.3 Tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL
Đây là vùng nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ trung bình năm dao động
từ 26,5°C–27°C, có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Yếu tố này thích hợp cho các sinh
vật sinh trưởng và phát triển làm tiền đề cho thâm canh, tăng vụ (Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 2012).
Theo Tổng cục Thủy sản (2012), định hướng đến năm 2020 sản lượng NTTS
ở ĐBSCL sẽ đạt 3 triệu tấn trên diện tích nuôi 543.000 ha.
Nghề nuôi cá lóc ở ĐBSCL năm 2011 đạt sản lượng tới 40.000 tấn/năm, chỉ
xếp sau cá tra, tôm sú (http://www.nongnghiep.vn/).
Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá nước ngọt nói chung và nuôi cá lóc
nói riêng đang phát triển rất nhanh. Do tận dụng những lợi thế của vùng về điều
kiện tự nhiên, lực lượng lao động nông thôn, cùng với hệ thống kênh, rạch, sông
ngòi chằng chịt, hệ thống thủy lợi nội đồng và nguồn nước ngọt dồi dào, nhất là
mùa lũ hàng năm về cung cấp nguồn cá lóc giống, lượng cá tạp làm thức ăn chủ yếu
nuôi cá lóc. Chính vì những ưu điểm này nên một số tỉnh có truyền thống nuôi cá
lóc như TP Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Hậu Giang, tỉnh Đồng Tháp.... góp phần
nâng cao mức sống của người dân: giải quyết vấn đề dinh dưỡng, thu nhập và giải
quyết vấn đề việc làm cho người dân nông thôn. Tỉnh An Giang, TP. Cần Thơ và
tỉnh Đồng Tháp là những địa phương có tiềm năng sản xuất cá lóc thương phẩm
cao, cần phải có biện pháp thích hợp ổn định tính sản xuất góp phần phát triển bền
vững nghề nuôi thâm canh cá lóc ở những địa phương này.
Diện tích nuôi cá lóc ở TP. Cần Thơ tính đến năm 2008, đạt 195,4 ha nuôi ao
và thể tích nuôi 128,3 nghìn m3 nước nuôi, trong đó có vèo ao là 1,4 nghìn cái, lồng
bè 160 cái với sản lượng nuôi khoảng 5 nghìn tấn. Đến năm 2009, số hộ tương
đương năm 2008, diện tích ao nuôi cá lóc giảm xuống còn 30,4 ha và thể tích nuôi
cũng giảm xuống còn 66,2 nghìn m3, nhưng sản lượng tăng hơn so với năm 2008 là
6,6 nghìn tấn (Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, 2009).
Tỉnh An Giang là vùng hạ lưu sông Mê Kông có 2 nhánh sông chính là sông
Tiền và sông Hậu chảy qua, cùng với 2 nhánh sông Châu Đốc và sông Vàm Nao,
tạo điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi cá lóc phát triển. Theo báo cáo của Sở Thủy
sản An Giang (2009), tổng sản lượng cá lóc nuôi toàn tỉnh đạt 15,241 tấn với 75,4ha
6
nuôi cá lóc ao hầm, 6,9 ha nuôi vèo và các mô hình khác, với 476 cái lồng bè có thể
tích nuôi 38,98 m3 nước nuôi.
Tỉnh Đồng Tháp là nơi có điều kiện tự nhiên ưu đãi, hệ thống sông ngòi
chằng chịt, nguồn nước dồi dào cùng hệ thống thủy lợi nội đồng tương đối hoàn
chỉnh, có diện tích sông và kênh rạch lớn và 20.000 ha là nơi thích hợp cho nghề
nuôi thủy sản phát triển (Lê Văn Liêm, 2007). Ngoài ra, theo Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp (2014), sản lượng thủy sản nuôi trồng tỉnh
Đồng Tháp tính đến tháng 4 năm 2014 đạt 128.552,14 trên diện tích nuôi toàn tỉnh
là 5.341,78 ha có giảm so với cùng kỳ năm 2013 là 145.577,81 tấn nhưng sản lượng
vẫn đạt mức cao. Góp phần đáng kể vào xây dựng nền kinh tế, tạo công ăn việc
làm, xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương. Các hộ nuôi cá lóc tập trung
chủ yếu ở 3 huyện: Tam Nông, Tân Hồng và Hồng Ngự.
 Một số mô hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL
Hiện nay, ĐBSCL có 5 mô hình nuôi cá lóc chủ yếu bao gồm nuôi trong ao
đất, nuôi trong bể lót bạt, vèo ao, vèo sông và lồng bè. Trong đó mô hình nuôi bể lót
bạt có mật độ thả nuôi cao nhất trung bình khoảng 236,5 con/m3, nuôi lồng/bè
147,6com/m3, mô hình nuôi trong vèo ao 109,5 con/m3 và thấp nhất là nuôi trong ao
đất 45,9 con/m2, còn diện tích mô hình nuôi trong ao đất có diện tích lớn nhất với
1.500m2 (Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2009). Khi nuôi ở mật độ quá mức dẫn
đến việc cá nuôi chậm lớn, không đạt kích cỡ thương phẩm và mầm bệnh gia tăng
(Phan Hồng Cương, 2009 trích dẫn bởi Lư Trí Tài, 2010).
Chi phí trung bình của các mô hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL dao động từ
516,2–2.780,4 ngàn đồng/m3/vụ. Trong đó, các hộ nuôi bể bạt phải đầu tư chi phí
lớn nhất khoảng 2.780,4 ngàn đồng/m3/vụ, thấp nhất là hộ nuôi ở mô hình ao đất
516,2 ngàn đồng/m3/vụ (Huỳnh Thị Thùy Trang, 2010), cho thấy ao đất là mô hình
nuôi ít chi phí đầu tư ban đầu, thích hợp với việc xóa đói giảm nghèo, khi nuôi ở
qui mô lớn tăng thu nhập, làm giàu cho hộ nuôi.
Do đặc tính là loài ăn động vật nên thức ăn chủ yếu của cá lóc là cá tạp (Lê
Văn Liêm, 2007). Việc sử dụng cá tạp để nuôi cá lóc không những làm cạn kiệt
nguồn tài nguyên thủy sản do khai thác quá mức mà còn gây ô nhiễm môi trường
nuôi do không kiểm soát được hết thức ăn thừa và mầm bệnh trong cá tạp. Nên thức
ăn công nghiệp (TACN) là hướng đi rất cần thiết cho nghề nuôi cá lóc ngày càng
phát triển, nhất là ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ. Tuy nhiên, theo
Huỳnh Thị Thùy Trang (2010), việc sử dụng TACN cần thực sự chú ý vì dễ gây ô
nhiễm nguồn nước trong ao vừa ô nhiễm môi trường xung quanh.
Môi trường là một trong ba yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe cá
nuôi, khi các yếu tố môi trường biến đổi thì mầm bệnh tăng và sự mẫn cảm của cá
7
đối với mầm bệnh cao hơn. Điều này ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nuôi, thậm chí
có thể làm chết hàng loạt, gây thiệt hại lớn cho hộ nuôi (Lư Trí Tài, 2010).
Các mô hình nuôi trong thời gian tới sẽ theo hướng nuôi thâm canh với hệ
thống nuôi hoàn chỉnh (ví dụ: nuôi nước tuần hoàn, nuôi kết hợp, ...). Bên cạnh,
nhằm phát triển bền vững nghề nuôi thủy sản, hiện nhiều quốc gia đã nổ lực rất lớn
trong phát triển các phương thức/qui tắc quản lý tổng hợp đối với nghề nuôi thủy
sản và đã được áp dụng có kết quả như GAP, BMP, nuôi có trách nhiệm (William,
2002; Boyd, 2003; Word Bank/MOF, 2006; FAO-NACA-UNEP-WP-WWF, 2006)
(Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2012).
2.4 Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong NTTS
2.4.1 Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong NTTS ở ĐBSCL
Qua kết quả điều tra tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi cá riêng
ở quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ hiện có khoảng 47 loại thuốc và hóa chất được sử
dụng. Trong đó nhóm thuốc dùng để trị bệnh được sử dụng nhiều nhất trên 20 loại
đa số các loại thuốc này có thành phần là kháng sinh. Loại kháng sinh được sử dụng
phổ biến trong nuôi cá hiện nay (ở dạng nguyên liệu và thuốc thành phẩm) là
Enroflonxacin (chiếm trên 80% trong tổng số các loại thuốc dùng để trị bệnh vi
khuẩn trên cá). Nhóm thuốc xử lý môi trường, diệt tạp và nhóm thuốc bổ sung thức
ăn có tỷ lệ thấp hơn khoảng 25% (Lê Thị Kim Liên và ctv, 2007).
Theo kết quả của Phan Trọng Duy (2007), về tình hình sử dụng thuốc kháng
sinh ở khu vực Châu Đốc, Châu Phú Tỉnh An Giang thì có 21 loài kháng sinh được
sử dụng, trong đó có các loại được sử dụng nhiều nhất là: Florfenicol, Doxycycline,
Enrofloxacine, Amoxcilline. Ngoài ra, các chất như Kanamycine, Cetalexcin,
Colistin... cũng được người dân sử dụng (Trích dẫn bởi Lê Thị Kim Liên và ctv,
2007).
2.4.2 Một số nguyên tắc khi sử dụng thuốc và hóa chất trong NTTS
 Phương pháp thường được sử dụng trong phòng trị bệnh
Theo Phạm Văn Khánh và Lý Thị Thanh Loan (2004)
 Phương pháp tắm: Dùng thuốc với nồng độ tương đối cao tắm cho cá theo
thời gian quy định. Phương pháp này áp dụng cho môi trường nuôi có diện tích nhỏ.
Lưu ý khi tắm qua nhiều đọt nồng độ thuốc loãng dần, dẽ không còn tác dụng cho
những con sau, vậy phải thay đợt thuốc mới.
 Phương pháp ngâm: Thuốc được dùng với nồng độ thấp và thời gian kéo
dài, thường áp dụng cho ao, đầm nuôi với diện tích lớn. Để giảm lượng hóa chất,
cần hạ thấp mực nước trong ao nuôi, đồng thời cũng cần phải chuẩn bị một lượng
nước sạch để chủ động cấp vào ao nuôi phòng khi có sự cố xảy ra.
8
 Phương pháp uống: Dùng thuốc hoặc chế phẩm trộn vào thức ăn, phương
pháp này kém hiệu quả đối với một số bệnh vì khi đối tượng nuôi bị bệnh khả năng
hoạt động sẽ kém, do đó hoạt động bắt mồi thường kém đôi khi bỏ ăn, nên kết quả
điều trị thường không cao. Khi sử dụng phương pháp này cần bổ sung thêm dầu gan
mực hoặc dầu gan thực vật bao bên ngoài viên thức ăn để hạn chế thuốc, hóa chất bị
mất do hòa tan trong môi trường nước.
 Phương pháp tiêm: Dùng thuốc tiêm trực tiếp vào cơ thể cá.
 Nguyên tắc sử dụng thuốc và hóa chất trong NTTS
Theo Lê Thị Kim Liên và ctv (2007), điều kiện của những người nuôi cá rất
khác nhau tùy thuộc loài cá nuôi, hệ thống hay loại hình nuôi, các thiết bị dùng để
nuôi, chất lượng nước và địa điểm nuôi vì thế các phương pháp áp dụng trong sử
dụng thuốc và hóa chất cần phải được điều chỉnh phù hợp, nhưng nhìn chung việc
xử lý hóa chất phải theo các nguyên tắc sau:
 Chẩn đoán chính xác tác nhân gây bệnh.
 Biết rõ tình trạng sức khỏe của cá (tập tính, các yếu tố gây stress) và khả
năng tác dụng của thuốc.
 Xác định đúng điều kiện môi trường nước. Các yêu tố môi trường như nhiệt
độ, pH nước, hàm lượng vật chất hữu cơ đều có ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc
và hóa chất.
 Sử dụng đúng loại hoá chất và có phương pháp điều trị thích hợp.
 Để việc điều trị có hiệu quả cao, phải có phương pháp điều trị thích hợp.
Những vấn đề cần tiến hành trong phương pháp điều trị thích hợp gồm:
 Xác định đúng hình thức điều trị: loại trừ tác nhân gây bệnh hoặc điều trị
triệu chứng và tác nhân gây bệnh.
 Nếu mới sử dụng thuốc lần đầu nên thử điều trị với số lượng ít trong diện
tích nhỏ trước khi tiến hành điều trị toàn bộ.
 Không nên cho cá ăn 24 giờ trước khi điều trị, điều này cần thiết để nâng
cao hiệu quả của thuốc và giảm sốc cho cá nuôi.
 Hạ thấp mực nước khi sử dụng thuốc (trường hợp dễ dàng cung cấp thêm
nước) để làm giảm khối lượng thuốc sử dụng và dễ dàng pha loãng nồng độ thuốc
sau khi điều trị.
 Sử dụng thuốc và hóa chất vào những thời điểm cá ít bị sốc nhất thông
thường vào buổi sáng, khi nhiệt đột thấp, tuy nhiên nên lưu ý là lượng oxy hòa tan
vào thời điềm này.
 Lưu ý khả năng xảy ra những phản ứng có hại, chuẩn bị phương tiện để loại
bỏ hết các hóa chất sử dụng điều trị và phải có sẵn phương tiện sục khí.
9
 Cần lưu ý đến dòng chảy trong hệ thống đặc biệt là những bể chứa ở cuối
nguồn nước hoặc bể trữ nước thải ra từ các bể trong trại.
 Chú ý đến các quy định về sử dụng thuốc của nhà nước.
 Chú ý tác động của thuốc và hóa chất tới môi trường.
 Nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn hợp lý
Nguyên tắc sử dụng hợp lý kháng sinh
 Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn.
 Phải chọn đúng kháng sinh và dạng thuốc thích hợp.
 Phải sử dụng kháng sinh đúng liều và đúng thời gian qui định.
 Biết cách dùng phối hợp kháng sinh trị bệnh và kháng sinh dự trữ.
Nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn
 Nắm vững các chống chỉ định của kháng sinh.
 Điều chỉnh liều dùng theo đối tượng sử dụng.
 Theo dõi không chỉ hiệu quả điều trị mà còn phải theo dõi các tác dụng phụ
của kháng sinh.
 Biết cách xử trí khi có tai biến do kháng sinh gây ra.
 Một số lưu ý khi dùng hóa chất xử lý môi trường
Hóa chất dùng xử lý môi trường có rất nhiều loại, vì thế cần phải hiểu hoạt
tính của từng loại và dùng đúng theo hướng dẫn để có hiệu quả cao.
Khi dùng hóa chất để xử lý nước cần phải biết thời gian chúng hết tác dụng
để đảm bảo vật nuôi không bị ảnh hưởng khi đưa vào ao nuôi.
Dùng hóa chất xử lý nước cho ao đang nuôi cá phải lưu ý là hóa chất sẽ làm
chế tảo và các vi sinh vật có lợi trong ao. Thông thường sau khi dùng hóa chất thì
môi trường nước có thể thay đổi như tảo chết làm giảm quang hợp để cấp oxy cho
ao, nền đáy ao sẽ dơ hơn do tảo chết lắng xuống đáy ao.
Sau khi dùng hóa chất nên cải thiện muôi trường ao nuôi, nếu hạ nước ao
trước khi dùng hóa chất thì cấp thêm nước mới còn nếu không hạ nước thì phải thay
nước cho ao.
Dùng thuốc xử lý môi trường ao nuôi phải dùng đúng liều và dùng một lần,
tránh dùng liều thấp và dùng nhiều lần liên tiếp nhau, vì như thế màu nước ao sẽ
mất và khó gây màu trở lại.
10
2.5 Một số loại thuốc và hóa chất thường sử dụng trong NTTS
Theo Lê Thị Kim Liên và ctv (2007) có một số loại thuốc và hóa chất như sau:
2.5.1 Nhóm thuốc kháng sinh
Các kháng sinh thường sử dụng trong NTTS.
Nhóm Beta-lactam
Có nhiều kháng sinh thuộc nhóm này. Trong đó có Cephalosporin không
được phép sử dụng trong thủy sản.
Benzylpenicillin nguồn gốc tự nhiên, có phổ kháng khuẩn khá hẹp chủ yếu
trị bệnh do vi khuẩn gram dương nên ít được sử dụng trong thủy sản.
Các kháng sinh thuộc nhóm này thường không bền, dễ bị phân hủy bởi nhiệt
độ, ánh sáng tác nhân oxy hóa khử.
Nhóm Tetracylin
Tetracylin
Có dạng bột, ít tan trong nước, dễ bị hỏng bởi ánh sáng, hấp thụ qua ống tiêu
hóa nên sử dụng thích hợp qua đường miệng.
Không chuyển hóa trong cơ thể, bài xuất qua thận dưới dạng còn hoạt tính, ít
gây xáo trộn tiêu hóa.
Doxycylin (Tetracylin thế hệ II)
Hấp thụ ở đoạn ruột trên nên ít gây xáo trộn tiêu hóa, không bị ảnh hưởng
bởi thức ăn tiêu hóa, chuyển hóa ở gan.
Dùng trị các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân.
Nhóm aminosid
Streptomycin: Các kháng sinh nhóm này không hấp thu qua ruột nên không
dùng bằng đường miệng để trị nhiễm khuẩn toàn thân. Kháng sinh này gây hại tạp
khuẩn ruột vì thế cũng không nên dùng để trị các bệnh ruột.
Nhóm Macrolid
Erythromycin: Erythromycin dùng dưới dạng tan trong ruột, các muối và
este của kháng sinh này không bị mất hoạt tính ở dạ dày. Sử dụng hiệu quả hơn trên
vi khuẩn gram dương. Ưu điểm của thuốc này là ít độc, không gây hại tạp khuẩn
ruột.
Nhóm Sulfonamide
Đây là nhóm kháng sinh tổng hợp các kháng sinh, trong nhóm đều là dẫn
xuất của Sulfonamide. Các kháng sinh này có tính chất lưỡng tính nhưng dễ tan
trong môi trường kiềm hơn môi trường acid và thường được sử dụng bằng cách
tiêm. Ưu điểm của nhóm này là có thể hấp thụ qua mang, do đó thuận lợi khi sử
11
dụng tắm cho cá. Phải thật lưu ý khi sử dụng, vì nồng độ tác dụng và nồng độ gây
độc của nhóm kháng sinh này gần nhau.
Nhóm Polypeptid: chế xuất từ trực khuẩn Bacillus.
2.5.2 Nhóm cải tạo môi trường
Vôi: Có nhiều dạng vôi được sử dụng trong NTTS: vôi nông nghiệp
(CaCO3), vôi tôi (Ca(OH)2), vôi sống (CaO), vôi dolomite (MgCa(CO3)3) vai trò
chủ yếu là tiệt trùng và ổn định pH.
Chlorine: Là chất được sử dụng rộng rãi nhất trong các hóa chất sát trùng
trong nghề NTTS. Được sử dụng để tẩy trùng, tiêu diệt các loại vi sinh, tảo.
Chlorine cũng có tác dụng giảm lượng hữu cơ trong nước.
Liều lượng: Sát trùng đáy ao, bề mặt bể nuôi, dụng cụ chứa, trứng Artemia
(200ppm); khử trùng trên bể (5–50ppm) tùy theo độ sạch của nước...
Lưu ý khi sử dụng chlorine:
 Bón vôi trước khi sử dụng chlorine sẽ làm giảm tác dụng của chlorine.
 Ở đáy ao, chlorine sẽ phản ứng với chất hữu cơ gốc đạm tạo thành
Chloramine-bền trong nước, tính độc cao. Do đó cần dọn thật sạch bùn đáy ao trước
khi dùng chlorine.
 pH tăng từ 6–10 tác dụng chlorine giảm 10 lần. pH tăng thì tác dụng khử
trùng của chlorine giảm.
 Không sử dụng chlorine với các dụng cụ kim loại để tránh hiện tượng dụng
cụ bị oxy hóa.
Thiosulfate natri (Na2S2O3): Dùng để chung hòa Chlorine dư trong quá trình xử lý
nước theo tỷ lệ 1:1 chlorine sẽ bị mất đi sau 24 giờ sục khí mạnh.
Zeolite
Hiện được sử dụng là một loại khoáng tự nhiên–Aluminosilliate là một dạng
khoáng của silicate chứa nhôm.
Có tác dụng cải thiện môi trường nước ao nuôi, do khả năng trao đổi ion và
hấp thu ammonia và chất hữu cơ khác.
Có thể sử dụng zeolite để giảm hàm lượng ammonia được sinh ra trong quá
trình vận chuyển tôm cá.
Nhóm EDTA (Ethylen ditetra acctate): Dùng để kết tủa các loại kim loại nặng
như đồng, sắt, cadimium....
Bi-cabonate natri (NaHCO3) và carbonate natri (NaCO3): Thường được sử
dụng để tăng pH nước, dùng làm mềm nước cứng.
12