Khảo sát, thiết kế & xây dựng mạng lan tại trung tâm đào tạo cntt inet

  • 57 trang
  • file .doc
LỜI CẢM ƠN
Để đợt thực tập đạt kết quả tốt đẹp, trước hết em xin gửi tới toàn thể
các thầy cô khoa Công nghệ Thông tin trường Học Viện Bưu Chính Viễn
Thông và Trung tâm CNTT CDiT lời chúc sức khoẻ, lời chào trân trọng và lời
cảm ơn sâu sắc nhất. Với sự quan tâm, dạy dỗ chỉ bảo tận tình chu đáo của
thầy cô, sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn, đến nay em đã có thể hoàn thành
báo cáo thực tập tốt nghiệp, đề tài: “Khảo sát, thiết kế & xây dựng mạng Lan
tại Trung Tâm Đào Tạo CNTT INeT”. Để có được kết quả này em xin đặc
biêt gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo Trịnh Thùy Linh – thuộc
Trung tâm CNTT CDiT đã quan tâm giúp đỡ, vạch kế hoạch hướng dẫn tận
tình cho em trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Trung tâm và hoàn thành
bài báo cáo thực tập này.
Sinh viên thực tập
Phạm Thị Thanh Nhàn
PHẦN A: GIỚI THIỆU ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Trung tâm Công nghệ Thông tin CDIT được Tổng giám đốc Tổng Công
ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam ký quyết định thành lập số
636/QĐ.TCCB-LĐ ngày 22 tháng 3 năm 1999.
Trung tâm Công nghệ Thông tin CDIT, với vai trò là đơn vị nghiên cứu
phát triển hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, xác định: việc lĩnh
hội, đúc kết và phát huy tiềm năng, nội lực, làm chủ công nghệ là mục tiêu
chiến lược nhằm thực hiện thành công định hướng gắn kết Nghiên cứu - Đào
tạo - Sản xuất Kinh doanh. CDIT đã duy trì, phát triển và chiếm lĩnh thị
trường trong nước với các sản phẩm đáp ứng tiêu chí: Tiên tiến - Tương thích
- Toàn cầu, thay thế sản phẩm nhập khẩu, nỗ lực đóng góp cho sự phát triển
của mạng lưới bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin Việt Nam, vươn
mình hòa nhập với cộng đồng CNTT trong khu vực và trên thế giới.
I. Chức năng – Nhiệm vụ: Trung tâm Công nghệ Thông tin CDIT có
nhiệm vụ: nghiên cứu, phát triển, triển khai sản phẩm, chuyển giao công nghệ
và đào tạo trong lĩnh vực Công nghệ Thông tin phục vụ Ngành Bưu chính
Viễn thông và xã hội.
II. Tổ chức:
Mô hình tổ chức CDiT
Nhân lực
90% đội ngũ là kỹ sư, chuyên gia phát triển phần mềm, 74% đội ngũ có
trình độ đại học, 19% có trình độ thạc sỹ, 4% có trình độ Tiến sỹ.
III. Các lĩnh vực hoạt động:
Trung tâm Công nghệ Thông tin hoạt động trên năm lĩnh vực chính:
1. Nghiên cứu khoa học công nghệ;
2. Phát triển, triển khai công nghệ và sản phẩm;
3. Sản xuất phần mềm và thiết bị;
4. Tiếp nhận và chuyển giao công nghệ;
5. Đào tạo và bồi dưỡng nhân lực.
Sản phẩm tiêu biểu
1. Nhóm các sản phẩm phục vụ khai thác mạng viễn thông và điều hành
SXKD
- Hệ thống tính cước và chăm sóc khách hàng BCSS
- Hệ thống quản lý mạng ngoại vi CABMAN/GIS
- Hệ thống khai thác và bảo dưỡng mạng OMC
- Hệ thống cắt mở dịch vụ tự động
- Hệ thống quản lý bảo dưỡng báo hỏng tự động 119
- Hệ thống phần mềm bảo mật ứng dụng công nghệ nhận dạng vân tay
- Hệ thống báo cáo số liệu VRS
2. Nhóm các sản phẩm cho mạng Viễn thông
- Hệ thống tổng đài VINEX 1000 (1024 số)
- Hệ thống máy chủ Thông tin đa phương tiện MUCOS
- Hệ thống Nhắn tin 1570 và nhắn tin ngắn qua mạng thông tin di
động SMSC
- Hệ thống nhắn tin đa phương tiện MMSC
- Hệ thống Thông tin giáo dục
- Hệ thống Tổng đài Thế hệ sau đa dịch vụ chuyển mạch mềm
3. Nhóm các sản phẩm phục vụ bưu chính
- Giải pháp tổng thể ứng dụng CNTT cho Bưu chính
- Hệ thống mạng và phần mềm phục vụ chuyển tiền CT2003
4. Nhóm sản phẩm trên nền Internet
- Giải pháp mạng Intranet COSA/ISP
- Hệ thống thanh toán qua ngân hàng INFOGATE
Thị trường chính
- Công ty mẹ - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
- Các công ty con, công ty liên kết của Tập đoàn Bưu chính Viễn
thông Việt Nam
- Tập đoàn Điện lực Việt Nam
- Các ngân hàng: VCB, TechComBank
- Các công ty viễn thông: VietTel, HanoiTelecom
PHẦN B: NỘI DUNG THỰC TẬP
-Tên chủ đề thực tập:” Khảo sát, thiết kế & xây dựng mạng Lan tại
Trung Tâm Đào Tạo Công nghệ thông tin INeT”
-Mục tiêu: Xây dựng và thiết kế mạng Lan cho 1 Trung tâm đào tạo
Công nghệ thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy, đào tạo và quản lý.
-Nội dung: Xây dựng và thiết kế mạng Lan cho Trung tâm đào tạo
CNTT INeT với 100 nốt mạng, tập trung trong một tòa nhà một tầng với các
trang thiết bị cần thiết phục vụ cho nhu cầu sử dụng của Trung tâm như công
tác quản lý hành chính, giảng dạy và đào tạo từ xa, nghiên cứu và phát triển
các chương trình ứng dụng và phần mềm...
-Kết quả cần đạt: Kết nối mạng ổn định, khả năng truy cập tốc độ cao,
khả năng dự phòng để hạn chế thấp nhất những sự cố xảy ra trong quá trình
vận hành ngoài ra đáp ứng được khả năng mở rộng mạng trong tương lai.
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi chiếc máy tính đầu tiên ra đời tới nay thì máy tính vẫn khẳng
định vai trò to lớn của nó trong sự phát triển kinh tế - xã hội.
Công nghệ thông tin ngày nay đã phát triển vượt bậc, tin học được ứng
dụng rộng rãi trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống đặc biệt trong
lĩnh vực quản lý.
Mạng Lan được sử dụng rộng rãi và phổ biến, các sở, ban ngành, cơ
quan, xí nghiệp đều lắp đặt hệ thống quản trị mạng này. Tạo điều kiện cho
công việc quản lý thuận tiện nhanh chóng, chính xác và đạt hiệu quả cao hơn.
Trong khuôn khổ một bài thực tập tốt nghiệp tôi trình bày về “Khảo sát
thiết kế xây dựng mạng Lan tại trung tâm đào tạo công nghệ thông tin INeT”.
Đồ án chia thành 3 phần:
Phần I: Tổng quan về mạng: Bao gồm các kiến thức tổng quan về
mạng máy tính, mô hình tham chiếu hệ thống mở OSI và bộ quản thúc mô
hình TCP/IP.
Phần II: Mạng Lan và thiết kế mạng Lan
Phần III: Thiết kế mạng Lan trong INeT
Qua đồ án tôi có thể thiết kế mạng Lan,Wan và các mạng khác phục vụ
theo yêu cầu thực tế. Do thời gian và kiến thức có hạn nên chắc chắn bài viết
còn nhiều hạn chế, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Các từ Tiếng Anh viết tắt trong đồ án:
O
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ MẠNG
--------o0o--------
Chương 1
Tổng quan về mạng máy tính
Khái niệm về mạng máy tính
Về cơ bản, một mạng máy tính là một số các máy tính được nối kết với
nhau theo một cách nào đó. Khác với các trạm truyền hình chỉ gửi thông tin
đi, các mạng máy tính luôn hai chiều, sao cho khi máy tính A gửi thông tin tới
máy tính B thì B có thể trả lời lại cho A.
Hình 1: Mô hình mạng
Nói một cách khác, một số máy tính được kết nối với nhau và có thể
trao đổi thông tin cho nhau gọi là mạng máy tính.
Từ nhiều máy tính riêng rẽ, độc lập với nhau, nếu ta kết nối chúng lại
thành mạng máy tính thì chúng có thêm những ưu điểm sau:
- Nhiều người có thể dùng chung một phần mềm tiện ích.
- Một nhóm người cùng thực hiện một đề án nếu nối mạng họ sẽ dùng
chung dữ liệu của đề án, dùng chung tệp tin chính (master file) của đề án, họ
trao đổi thông tin với nhau dễ dàng.
- Dữ liệu được quản lý tập trung nên an toàn hơn, trao đổi giữa những
người sử dụng thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn.
- Có thể dùng chung thiết bị ngoại vi hiếm, đắt tiền (máy in, máy vẽ,...).
- Người sử dụng trao đổi với nhau thư tín dễ dàng (E-Mail) và có thể sử
dụng hệ mạng như là một công cụ để phổ biến tin tức, thông báo về một chính
sách mới, về nội dung buổi họp, về các thông tin kinh tế khác như giá cả thị
trường, tin rao vặt (muốn bán hoặc muốn mua một cái gì đó), hoặc sắp xếp
thời khoá biểu của mình chen lẫn với thời khoá biểu của những người khác,...
- Một số người sử dụng không cần phải trang bị máy tính đắt tiền (chi
phí thấp mà chức nǎng lại mạnh).
- Mạng máy tính cho phép người lập trình ở một trung tâm máy tính
này có thể sử dụng các chương trình tiện ích của một trung tâm máy tính khác
đang rỗi, sẽ làm tǎng hiệu quả kinh tế của hệ thống.
- Rất an toàn cho dữ liệu và phần mềm vì phần mềm mạng sẽ khoá các
tệp tin (files) khi có những người không đủ quyền hạn truy xuất các tệp tin và
thư mục đó.
Mạng máy tính có thể phân bổ trên một vùng lãnh thổ nhất định và có
thể phân bổ trong phạm vi một quốc gia hay quốc tế.
Dựa vào phạm vi phân bổ của mạng người ta có thể phân ra các loại
mạng như sau:
- GAN (Global Area Network) kết nối máy tính từ các châu lục khác
nhau. Thông thường kết nối này được thực hiện thông qua mạng viễn thông
và vệ tinh.
- WAN (Wide Area Network) - Mạng diện rộng, kết nối máy tính trong
nội bộ các quốc gia hay giữa các quốc gia trong cùng một châu lục. Thông
thường kết nối này được thực hiện thông qua mạng viễn thông. Các WAN có
thể được kết nối với nhau thành GAN hay tự nó đã là GAN.
- MAN (Metropolitan Area Network) kết nối các máy tính trong phạm
vi một thành phố. Kết nối này được thực hiện thông qua các môi trường
truyền thông tốc độ cao (50-100 Mbit/s).
- LAN (Local Area Network) - Mạng cục bộ, kết nối các máy tính trong
một khu vực bán kính hẹp thông thường khoảng vài trǎm mét. Kết nối được
thực hiện thông qua các môi trường truyền thông tốc độ cao ví dụ cáp đồng
trục thay cáp quang. LAN thường được sử dụng trong nội bộ một cơ quan/tổ
chức...Các LAN có thể được kết nối với nhau thành WAN.
Trong các khái niệm nói trên, WAN và LAN là hai khái niệm hay được
sử dụng nhất.
1.1Phân loại mạng máy tính :
1.1.1 Phân loại theo phạm vi địa lý:
Mạng máy tính có thể phân bổ trên một vùng lãnh thổ nhất định và có
thể phân bổ trong phạm vi một quốc gia hay quốc tế.
Dựa vào phạm vi phân bổ của mạng người ta có thể phân ra các loại
mạng như sau:
- GAN (Global Area Network) kết nối máy tính từ các châu lục khác
nhau. Thông thường kết nối này được thực hiện thông qua mạng viễn thông
và vệ tinh.
- WAN (Wide Area Network) – Mạng diện rộng, kết nối máy tính trong
nội bộ các quốc gia hay giữa các quốc gia trong cùng một châu lục. Thông
thường kết nối này được thực hiện thông qua mạng viễn thông. Các WAN có
thể được kết nối với nhau thành GAN hay tự nó đã là GAN.
- MAN (Metropolitan Area Network) kết nối các máy tính trong phạm
vi một thành phố. Kết nối này được thực hiện thông qua các môi trường
truyền thông tốc độ cao (50-100 Mbit/s).
- LAN (Local Area Network) – Mạng cục bộ, kết nối các máy tính trong
một khu vực bán kính hẹp thông thường khoảng vài trǎm mét. Kết nối được
thực hiện thông qua các môi trường truyền thông tốc độ cao ví dụ cáp đồng
trục thay cáp quang. LAN thường được sử dụng trong nội bộ một cơ quan/tổ
chức…Các LAN có thể được kết nối với nhau thành WAN.
1.1.2 Phân biệt theo phương pháp chuyển mạch dữ liệu)
1.1.2.1 Mạng chuyển mạch kênh ( circuit - switched network )
Trong trường hợp này khi có hai trạm cần trao đổi thông tin với nhau
thì giữa chúng sẽ thiết lập một kênh cố định và duy trì cho đến khi một trong
hai bên ngắt liên lạc. Các dữ liệu được truyền theo những kênh cố định.
1.1.2.2 Mạng chuyển mạch bản tin ( Message switched network)
Thông tin cần truyền được cấu trúc theo một phân dạng đặc biệt gọi là
bản tin. Trên bản tin có ghi địa chỉ nơi nhận, các nút mạng căn cứ bào địa chỉ
nơi nhận để chuyển bản tin tới đích. Tùy vào điều kiện về mạng, các thông tin
khác nhau có thể được gửi theo những con đường khác nhau.
1.1.2.3 Mạng chuyển mạch gói
Phương pháp này mỗi thông báo được chia thành nhiều phần nhỏ hơn
gọi là các gói tin (pachet) có khuôn dạng quy định trước. Mỗi gói tin cũng
chia các thông tin điều khiển, trong đó có địa chỉ nguồn (người gửi) và đích
(người nhận) của gói tin. Các gói tin về một thông báo nào đó có thể được gửi
đi qua mạng đến đích bằng nhiều con đường khác nhau. Căn cứ vào số thứ tự
các gói tin được tái tạo thành thông tin ban đầu.
1.1.3 Phân loại máy tính theo TOPO:
Topology của mạng là cấu trúc hình học không gian mà thực chất là
cách bố trí phần tử của mạng cũng như cách nối giữa chúng với nhau. Thông
thường mạng có 3 dạng cấu trúc là: mạng hình sao (star topology), mạng dạng
vòng (ring topology), mạng dạng tuyến (linear bus topology). Ngoài 3 dạng
cấu trúc hình kể trên còn một số dạng khác là biến tướng của các dạng này
như mạng dạng cây, mạng dạng hình sao – vòng, mạng dạng hình hỗn hợp...
1.1.3.1 Mạng hình sao (Star):
Mạng hình sao có tất cả các trạm được kết nối với một thiết bị trung
tâm có nhiệm vụ nhận tín hiệu từ các trạm và chuyển đến trạm đích. Tuỳ theo
yêu cầu truyền thông trên mạng mà thiết bị trung tâm có thể là Switch, router,
hub hay máy chủ trung tâm. Vai trò của thiết bị trung tâm là thiết lập các liên
kết Point to Point.
Ưu điểm: Thiết lập mạng đơn giản, dễ dàng cấu hình lại mạng (thêm,
bớt các trạm), dễ dàng kiểm soát và khắc phục sự cố, tận dụng được tối đa tốc
độ truyền của đường truyền vật lý.
Khuyết điểm: Độ dài đường truyền nối một trạm với thiết bị trung tâm
bị hạn chế (trong vòng 100m, với công nghệ hiện nay).
1.1.3.2 Mạng dạng tuyến (Bus):
Tất cả các trạm phân chia một đường truyền chung (bus). Đường truyền
chính được giới hạn hai đầu bằng hai đầu nối đặc biệt gọi là terminator. Mỗi
trạm được nối với trục chính qua một đầu nối chữ T (T-connector) hoặc một
thiết bị thu phát (transceiver). Mô hình mạng Bus hoạt động theo các liên kết
Point to Multipoint hay Broadcast.
Ưu điểm: Dễ thiết kế, chi phí thấp.
Khuyết điểm: Tính ổn định kém, chỉ một nút mạng hỏng là toàn bộ
mạng bị ngừng hoạt động.
1.1.3.3 Mạng hình vòng (Ring):
Trên mạng hình vòng tín hiệu được truyền đi trên vòng theo một chiều
duy nhất. Mỗi trạm của mạng được nối với nhau qua một bộ chuyển tiếp
(repeater) có nhiệm vụ nhận tín hiệu rồi chuyển tiếp đến trạm kế tiếp trên
vòng. Như vậy tín hiệu được lưu chuyển trên vòng theo một chuỗi liên tiếp
các liên kết Point to Point giữa các repeater. Mạng hình vòng có ưu, nhược
điểm tương tự như mạng hình sao, tuy nhiên mạng hình vòng đòi hỏi giao
thức truy nhập mạng phức tạp hơn mạng hình sao.
1.1.4 Phân loại theo chức năng:
1.1.4.1 Mạng theo mô hình Client- Server:
Một hay một số máy tính được thiết lập để cung cấp các dịch vụ như
file server, mail server, web server, printer server... Các máy tính được thiết
lập để cung cấp các dịch vụ được gọi là server, còn các máy tính truy cập để
sử dụng dịch vụ được gọi là client.
Ưu điểm: Do các dữ liệu được lưu trữ tập trung nên dễ dàng bảo mật,
backup và đồng bộ với nhau. Tài nguyên và dịch vụ được tập trung nên dễ
chia sẻ quản lý, có thể phục vụ nhiều người dùng.
Nhược điểm: Các server chuyên dụng rất đắt tiền và phải có người
quản trị hệ thống.
1.1.4.2 Mạng ngang hàng (Peer- to- Peer):
Các máy tính trong mạng có thể hoạt động vừa như thể 1 client, vừa
như 1 server.
Chương 2
Mô hình tham chiếu hệ thống mở OSI và bộ giao thức TCP/IP
2.1. Mô hình OSI (Open Systems Interconnect):
Ở thời kỳ đầu của công nghệ nối mạng, việc gửi và nhận dữ liệu ngang
qua mạng thường nhầm lẫn do các công ty lớn như IBM, HoneyWell và
Digital Equipment Corporation tự đề ra tiêu chuẩn riêng cho hoạt động kết
nối máy tính.
Năm 1984 tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO(International Standard
Oranization) chính thức đưa ra mô hình OSI(Open Systems Interconnect) là
tập hợp các đặc điểm kỹ thuật mô tả kiến trúc mạng dành cho việc kết nối các
thiết bị không cùng chủng loại.
Mô hình OSI chia thành 7 tầng, mỗi tầng bao gồm các hoạt động thiết
bị và giao thức mạng khác nhau:
Hình 2 :Mô hình OSI bẩy tầng
2.1.1. Mục đích và ý nghĩa của mô hình OSI:
Mô hình OSI (Open System Interconnection ): là mô hình tương kết các
hệ thống mở , là mô hình được tổ chức OSI đề xuất năm 1977 và công bố
năm 1984. Để các máy tính và các thiết bị mạng có thể truyền thông với nhau
phải có các quy tắc giao tiếp được các bên chấp nhận. Mô hình OSI là một
khuôn mẫu giúp chúng ta hiểu được chức năng mạng diễn ra tại mỗi lớp.
Trong mô hình OSI có bảy lớp, mỗi lớp mô tả 1 phần chức năng độc
lập. Sự tách rời của mô hình mang lại lợi ích sau:
Chia hoạt động thông tin mạng thành những phần nhỏ hơn, đơn giản
hơn giúp chúng ta dễ khảo sát và tìm hiểu hơn.
Chuẩn hóa các thành phần mạng để cho phép phát triển mạng từ nhiều
nhà cung cấp sản phẩm.
Ngăn chặn được tình trạng sự thay đổi của 1 lớp làm ảnh hưởng đến
các lớp khác, như vậy mỗi lớp có thể phát triển độc lập và nhanh chóng hơn.
Mô hình tham chiếu OSI định nghĩa các quy tắc cho các nội dung sau:
Cách thức các thiết bị giao tiếp và truyền thông được với nhau.
Các phương pháp để các thiết bị trên mạng khi nào thì được truyền dữ
liệu , khi nào thì không được.
Các phương pháp để đảm bảo truyền đúng bên nhận.
Cách thức vận tải, truyền, sắp xếp và kết nối với nhau.
Cách thức đảm bảo các thiết bị mạng duy trì tốc độ truyền dữ liệu thích
hợp.
Cách biểu diễn 1 bit thiết bị truyền dẫn.
Bảy lớp chức năng của mô hình tham chiếu OSI:
Application Layer (lớp ứng dụng): giao diện giữa ứng dụng và mạng.
Presentation Layer (lớp trình bày): thỏa thuận khuôn dạng trình bày dữ
liệu.
Session Layer (lớp phiên): cho phép người dùng thiết lập các kết nối.
Transport Layer (lớp vận chuyển): đảm bảo truyền thông giữa hai hệ
thống.
Network Layer (lớp mạng): định hướng dữ liệu truyền trong môi
trường liên mạng.
Data link Layer (lớp liên kết dữ liệu): xác định truy suất đến các thiết
bị.
Physical Layer (lớp vật lý): chuyển đổi dữ liệu thành các bit và truyền
đi.
2.1.2. Các giao thức trong mô hình OSI:
Trong mô hình OSI có hai loại giao thức chính được áp dụng: giao thức
liên kết và giao thức không liên kết.
Giao thức liên kết (Connection- Oriented): Trước khi truyền dữ liệu hai
tầng đồng mức cần thiết lập 1 liên kết logic và các gói tin được trao đổi thông
qua liên kết này, việc có liên kết logic sẽ nâng cao an toàn trong việc truyền
dữ liệu.
Giao thức không liên kết (Connection - Less): Trước khi truyền dữ liệu
không thiết lập liên kết logic mà mỗi gói tin được truyền độc lập với các gói
tin trước hoặc sau nó.
2.1.3. Các chức năng chủ yếu của các tầng trong mô hình OSI:
- Tầng ứng dụng (Application Layer): là tầng cao nhất của mô hình
OSI, nó xác định giao diện giữa các chương trình ứng dụng của người sử
dụng mà mạng. Giải quyết các kỹ thuật mà các chương trình ứng dụng dùng
để giao tiếp với mạng. Tầng ứng dụng xử lý truy cập mạng chung, kiểm soát
luồng và phục hồi lỗi. Tầng này không cung cấp dịch vụ cho tầng nào mà nó
cung cấp dịch vụ cho các ứng dụng như: truyền file, gửi nhận mail, Telnet,
HTTP, FTP,SMTP…
- Tầng trình bày (Presentation Layer): biến đổi dữ liệu để cung cấp một
giao diện tiêu chuẩn cho tầng ứng dụng. Nó thực hiện các tác vụ như mã hóa
dữ liệu sang dạng MIME, nén dữ liệu, và các thao tác tương tự đối với biểu
diễn dữ liệu để trình diễn dữ liệu theo như cách mà chuyên viên phát triển
giao thức hoặc dịch vụ cho là thích hợp. Chẳng hạn: chuyển đổi tệp văn bản
từ mã EBCDIC sang mã ASCII, hoặc tuần tự hóa các đối tượng (object
serialization) hoặc các cấu trúc dữ liệu (data structure).
Trong giao tiếp giữa các ứng dụng thông qua mạng với cùng 1 dữ liệu
có thể có nhiều cách biểu diễn khác nhau. Thông thường dạng biểu diễn dùng
bởi ứng dụng nguồn và dạng biểu diễn dùng bởi ứng dụng đích có thể khác
nhau do ứng dụng được chạy trên các hệ thống hoàn toàn khác nhau.
- Tầng phiên (Session Layer): Tầng phiên kiểm soát các (phiên) hội
thoại giữa các máy tính. Tầng này thiết lập, quản lý và kết thúc các kết nối
giữa trình ứng dụng địa phương và trình ứng dụng ở xa. Tầng này còn hỗ trợ
hoạt động song công (duplex) hoặc bán song công (half-duplex) hoặc đơn
công (Single) và thiết lập các qui trình đánh dấu điểm hoàn thành
(checkpointing) – giúp việc phục hồi truyền thông nhanh hơn khi có lỗi xảy
ra, vì điểm đã hoàn thành đã được đánh dấu – trì hoãn (adjournment), kết thúc
(termination) và khởi động lại (restart). Mô hình OSI uỷ nhiệm cho tầng này
trách nhiệm “ngắt mạch nhẹ nhàng” (graceful close) các phiên giao dịch (một
tính chất của giao thức kiểm soát giao vận TCP) và trách nhiệm kiểm tra và
phục hồi phiên, đây là phần thường không được dùng đến trong bộ giao thức
TCP/IP.
- Tầng vận chuyển (Transport Layer):
Tầng vận chuyển cung cấp các chức năng cần thiết giữa tầng mạng và
các tầng trên, nó phân đoạn dữ liệu từ hệ thống máy truyền và tái thiết dữ liệu
vào một luồng dữ liệu tại hệ thống máy nhận đảm bảo rằng việc bàn giao các
thông điệp giữa các thiết bị đáng tin cậy. Tầng này thiết lập duy trì và kết thúc
các mạch ảo đảm bảo cung cấp các dịch vụ sau:
 Xếp thứ tự các phân đoạn: khi một thông điệp lớn được
tách thành nhiều phân đoạn nhỏ để bàn giao, tầng vận chuyển sẽ sắp
xếp thứ tự trước khi giáp nối các phân đoạn thành thông điệp ban đầu.
 Kiểm soát lỗi: Khi có phân đoạn bị thất bại, sai hoặc trùng
lặp, tầng vận chuyển sẽ yêu cầu truyền lại.
 Kiểm soát luồng: Tầng vận chuyển dùng các tín hiệu báo
nhận để xác nhận. Bên gửi sẽ không truyền đi phân đoạn dữ liệu kế tiếp
nếu bên nhận chưa gửi tín hiệu xác nhận rằng đã nhận được phân đoạn
dữ liệu trước đó đầy đủ.
Tầng vận chuyển là tầng cuối cùng chịu trách nhiệm về mức độ an
toàn trong dữ liệu nên giao thức tầng vận chuyển phụ thuộc rất nhiều vào
bản chất của tầng mạng.
- Tầng mạng (Network Layer):
Chịu trách nhiệm lập địa chỉ các thông điệp, diễn dich địa chỉ và tên
logic thành địa chỉ vật lý đồng thời nó cũng chịu trách nhiệm gửi packet từ
mạng nguồn đến mạng đích.
Đối với một mạng chuyển mạch gói (packet- switched network) gồm
tập hợp các nút chuyển mạch gói nối với nhau bởi các liên kết dữ liệu. Các
gói dữ liệu được truyền từ một hệ thống mở tới một hệ thống mở khác trên
mạng phải được chuyển qua một chuỗi các nút. Mỗi nút nhận gói dữ liệ từ
một đường vào (incoming link) rồi chuyển tiếp nó tới một đường ra
(outgoing link) hướng đến đích của dữ liệu. Như vậy ở mỗi nút trung gian
nó phải thực hiện các chức năng chọn đường và chuyển tiếp.
- Tầng liên kết dữ liệu (Data Link):
Là tầng mà ở đó ý nghĩa được gán cho các bit được truyền trên mạng.
Tầng liên kết dữ liệu phải quy định được các dạng thức, kích thước, địa chỉ
máy gửi và nhận của mỗi gói tin được gửi đi. Nó phải xác định được cơ chế
truy cập thông tin trên mạng và phương tiện gửi mỗi gói tin sao cho nó được
đưa đến cho người nhận đã định.
Tầng liên kết dữ liệu có hai phương thức liên kết dựa trên cách kết nối
các máy tính đó là phương thức “ điểm – điểm” và “ điểm – nhiều điểm”. Với
phương thức “ điểm - điểm” các đường truyền riêng biệt được thiết lập để nối
các cặp máy tính lại với nhau. Phương thức “ điểm – nhiều điểm” tất cả các
máy phân chia chung một đường truyền vật lý.
Tầng liên kết dữ liệu cũng cung cấp cách phát hiện và sửa lỗi cơ bản để
đảm bảo cho dữ liệu nhận được giống hoàn toàn với dữ liệu gửi đi. Nếu một
gói tin có lỗi không sửa được, tầng liên kết dữ liệu phải chỉ ra được cách
thông báo cho nơi gửi biết được gói tin đó có lỗi để gửi lại.
- Tầng vật lý (Physical): Là tầng cuối cùng của mô hình OSI, nó mô tả
các đặc trưng vật lý của mạng: Các loại cáp để nối các thiết bị, các loại đầu
nối được dùng, các dây cáp có thể dài bao nhiêu.... Mặt khác các tầng vật lý
cung cấp các đặc trưng điện của các tín hiệu được dùng để khi chuyển dữ liệu
trên cáp từ một máy này đến một máy khác của mạng, kỹ thuật nối mạch điện
tốc độ cáp truyền dẫn. Tầng vật lý không quy định một ý nghĩa nào cho các
tín hiệu đó ngoài các giá trị nhị phân là 0 và 1. Ở các tầng cao hơn của mô
hình OSI ý nghĩa của các bit ở tầng vật lý sẽ được xác định.
Một số đặc điểm của tầng vật lý:
 Mức điện thế
 Khoảng thời gian thay đổi điện thế
 Tốc độ dữ liệu vật lý
 Khoảng đường truyền tối đa.
2.1.4. Bộ giao thức TCP/IP:
TCP/IP – Transmission Control Protocol/ Internet Protocol.
Là một bộ các giao thức truyền thông cài đặt chồng giao thức mà
Internet và hầu hết các mạng máy tính thương mại đang chạy trên đó. Bộ giao
thức này được đặt tên theo hai giao thức chính của nó là TCP (Giao thức Điều
khiển Giao vận) và IP (Giao thức Liên mạng). Chúng cũng là hai giao thức
đầu tiên được định nghĩa.
Như nhiều bộ giao thức khác, bộ giao thức TCP/IP có thể được coi là
một tập hợp các tầng, mỗi tầng giải quyết một tập các vấn đề có liên quan đến
việc truyền dữ liệu, và cung cấp cho các giao thức tầng cấp trên một dịch vụ
được định nghĩa rõ ràng dựa trên việc sử dụng các dịch vụ của các tầng thấp
hơn. Về mặt lôgic, các tầng trên gần với người dùng hơn và làm việc với dữ
liệu trừu tượng hơn, chúng dựa vào các giao thức tầng cấp dưới để biến đổi
dữ liệu thành các dạng mà cuối cùng có thể được truyền đi một cách vật lý.
2.1.5. Tổng quan về bộ giao thức TCP/IP:
TCP/IP là bộ giao thức cho phép kết nối các hệ thống mạng không
đồng nhất với nhau. Ngày nay, TCP/IP được sử dụng rộng rãi trong các mạng
cục bộ cũng như trên mạng Internet toàn cầu.
TCP/IP được xem như là mô hình giản lược của mô hình tham chiếu
OSI với 4 tầng như sau:
- Tầng liên kết mạng (Network Access Layer).
- Tầng Internet (Internet Layer).
- Tầng giao vận (Host- to Host Transport Layer).
- Tầng ứng dụng (Application Layer).
Hình 3: Kiến trúc
Tầng liên kết mạng (Network Access Layer): Là tầng thấp nhất trong mô
hình TCP/IP bao gồm các thiết bị mạng và chương trình cung cấp các thông
tin cần thiết có thể hoạt động, truy nhập đường truyền vật lý qua thiết bị giao
tiếp mạng đó.