Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh doanh tại công ty du lịch và thương mại tổng hợp thăng long

  • 100 trang
  • file .pdf
LUẬN VĂN:
Kế toán doanh thu, chi phí và xác
định kết quả sản xuất kinh doanh tại
Công ty Du lịch và Thương mại
Tổng hợp Thăng Long
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, trước xu hướng hoà nhập và phát triển của kinh tế thế
giới, Việt Nam đã mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế với nhiều nước trong khu
vực và thế giới. Đi cùng với sự mở rộng của nền kinh tế là sự thay đổi của khung pháp chế.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam đang cố gắng tạo ra sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, Nhà nước không còn bảo hộ cho các doanh nghiệp
Nhà nước như trước đây nữa. Việc này tạo ra cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường nhưng cũng lại đặt ra những thách thức đối với doanh nghiệp. Để
tồn tại và ổn định được trên thị trường đòi hỏi doanh nghiệp Nhà nước phải có sự chuyển
mình, phải nâng cao tích tự chủ, năng động để tìm ra phương thức kinh doanh có hiệu quả
tiết kiệm chi phí để đem lại lợi nhuận cao để từ đó mới có đủ sức cạnh tranh với các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh là những chỉ tiêu chất lượng phản ánh
đích thực tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp đã cố gắng
tìm ra hướng kinh doanh để đem lại doanh thu cho doanh nghiệp thì việc sử dụng những
chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải hợp lý và tiết
kiệm để phản ánh đúng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, kết quả kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh, nó liên quan chặt chẽ đến chi phí bỏ ra và lợi nhuận đem lại. Như vậy việc xác
định doanh thu, chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh đúng đắn sẽ giúp cho nhà lãnh đạo
doanh nghiệp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh để từ đó đưa ra những biện pháp hữu
hiệu nhằm nâng cao lợi nhuận.
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, việc xác định doanh thu, chi phí và kết quả sản
xuất kinh doanh cũng còn nhiều bất hợp lý gây nên các hiện tượng "lãi giả, lỗ thật" hoặc
"lỗ giả, lãi thật", việc sử dụng các quỹ vốn còn tuỳ tiện chưa đúng mục đích của chúng. Để
khắc phục những tồn tại trên, yêu cầu kế toán với vai trò là công cụ quản lý kinh tế phải
không ngừng hoàn thiện, đặc biệt là kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh
doanh.
Xuất phát từ những nhận thức trên, trong quá trình thực tập tại Công ty Du lịch và
thương mại tổng hợp Thăng Long tôi đã đi sâu vào nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí
và xác định kết quả sản xuất kinh doanh trong Công ty. Tôi thấy đề tài là rất cần thiết, do
đó tôi đã chọn đề tài: "Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh
doanh tại Công ty Du lịch và Thương mại Tổng hợp Thăng Long".
Kết cấu của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh
doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ.
Chương II: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại
Công ty Du lịch và Thương mại Tổng hợp Thăng Long
Chương III: Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh
doanh tại Công ty Du lịch và Thương mại Tổng hợp Thăng Long
Chương I:
Lý luận chung về kế toán doanh thu, chi phí
và xác định kết quả kinh doanh trong các
doanh nghiệp kinh doanh thương mại - dịch vụ
I. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh
thương mại, dịch vụ
Nền kinh tế nước ta đang chuyển hoá từ nền kinh tế còn nhiều tính chất tự cấp, tự
túc trước đây thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Cơ chế quản lý kinh tế cũng
đang chuyển hoá từ cơ chế quản lý hành chính, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước. Trong thời kỳ chuyển hoá này hoạt động kinh doanh thương mại - dịch
vụ được mở rộng và phát triển mạnh mẽ góp phần tích cực vào việc sản xuất, thúc đẩy sản
xuất trong nước cả về số lượng và chất lượng hàng hoá, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng ngày càng cao của mọi tầng lớp dân cư, góp phần mở rộng giao lưu hàng hoá,
mở rộng các quan hệ buôn bán trong và ngoài nước.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các doanh nghiệp thương mại - dịch
vụ Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong kinh doanh thương mại, dịch vụ, phát huy ưu
thế về kỹ thuật, không ngừng nâng cao chất lượng, năng suất và hiệu quả kinh doanh, làm
chủ được thị trường và giá cả, phát huy tác dụng hướng dẫn, giúp đỡ các thành phần kinh
tế khác. Để thực hiện tốt vai trò và nhiệm vụ của mình, các doanh nghiệp thương mại -
dịch vụ cần chuyển mạnh sang thực hiện phương thức hạch toán kinh doanh XHCN.
- Các doanh nghiệp thương mại - dịch vụ tiến hành kinh doanh phải đảm bảo tự
trang trải, tự phát triển và làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, đảm bảo kết hợp
đúng đắn lợi ích cán bộ, công nhân viên, lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của Nhà nước.
- Các doanh nghiệp thương mại - dịch vụ phải phát huy quyền tự chủ và tự chịu
trách nhiệm quyết định các vấn đề về phương hướng kinh doanh, phương án tổ chức kinh
doanh về lao động, tiền lương sao cho phù hợp với sự định hướng và chỉ đạo của nhà nước
về chiến lược, kế hoạch và chương trình dài hạn, với qui hoạch và cân đối lớn cùng các
chính sách luật pháp.
- Các doanh nghiệp thương mại - dịch vụ phải bám sát thị trường, hoạt động kinh
doanh với các chủ thể kinh doanh khác, với người tiêu dùng thông qua quan hệ mua bán,
thoả thuận với nhau về giá cả trong qũy đạo mà luật pháp cho phép, không hạn chế độ
cung cấp và phân phối hàng hoá nữa.
- Kế hoạch kinh tế tài chính ở doanh nghiệp thương mại - dịch vụ do doanh nghiệp
tự xây dựng, tự cân đối trên cơ sở các hợp đồng kinh tế, pháp lý. Hoạt động kinh tế tài
chính ở các doanh nghiệp thương mại - dịch vụ phát sinh ở các bộ phận trong doanh
nghiệp như: ở các kho hàng, quầy hàng, các bộ phận dịch vụ, các bộ phận quản lý, phục
vụ. Vì vậy để thu nhận được các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh
thì cần phải tổ chức tốt hạch toán ban đầu ở tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp. .
- Các doanh nghiệp thương mại - dịch vụ là những đơn vị kinh tế, cơ sở có tư cách
pháp nhân đầy đủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của
nhà nước về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
II. Vai trò, ý nghĩa và nhiệm vụ kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt
động kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại - dịch vụ
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán,
phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần
làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp
đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu các nhân tố khác không thay đổi thì doanh
thu bán hàng và cung cấp dịch vụ càng lớn cho ta kết quả kinh doanh càng cao. Chúng ta
phải luôn không ngừng nâng cao doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, và đó là biện
pháp quan trọng nhất để nâng cao kết quả kinh doanh.
Trong quá trình kinh doanh thương mại - dịch vụ, các doanh nghiệp phải hao phí
một lượng lao động và xã hội nhất định dùng để mua bán và dự trữ hàng hoá. Kế toán phải
thông tin mọi mặt hoạt động của quá trình kinh doanh cần phải ghi chép đầy đủ, chính xác
kịp thời các khoản chi phí bỏ ra. Theo qui định của hệ thống hiện hành, toàn bộ chi phí ở
khâu mua vào được tính vào trị giá vốn của hàng nhập kho, còn chi phí của quá trình
chuẩn bị bán hàng và chi phí của quá trình bán hàng được ghi chép ở tài khoản riêng.
Ngoài ra, các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp cũng được tập hợp ở tài khoản '' chi phí
quản lý doanh nghiệp''. Vì vậy, kế toán phải có nhiệm vụ giám sát kiểm tra chặt chẽ quá
trình chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp để làm cơ sở cho việc tính toán chính
xác kết quả kinh doanh. Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được tính vào cuối kỳ hạch
toán (cuối quí hoặc cuối tháng). Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được phân
phối công bằng, hợp lý, đúng chế độ hiện hành của Nhà nước và phối hợp với đặc điểm
của ngành kinh doanh.
Nhiệm vụ của kế toán chi phí, xác định kết quả kinh doanh bao gồm:
- Ghi chép chính xác chi phí phát sinh trong kỳ cho từng đối tượng chịu chi phí,
phản ánh đúng đắn thu nhập và chi phí của hoạt động kinh doanh thương mại - dịch vụ
nhằm xác định đúng đắn kết quả bán hàng và cung cấp dịch vụ.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các dự toán chi phí, tình hình thực hiện kế hoạch lợi
nhuận bán hàng, cung cấp dịch vụ và tình hình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế doanh thu vào
ngân sách.
- Tổ chức, hợp lý và khoa học kế toán, kế toán chi phí và xác định kết quả kinh
doanh nhằm cung cấp thông tin kịp thời phục vụ cho lãnh đạo và quản lý hoạt động kinh
doanh thương mại - dịch vụ ở doanh nghiệp.
III. Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong các doanh nghiệp kinh
doanh thương mại - dịch vụ
1. Khái niệm, nội dung kế toán doanh thu
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các
giao dịch và các nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm hàng hoá, cung cấp dịch
vụ cho khách hàng. ở các doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ không bao gồm thuế GTGT, còn ở các
doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ là trị giá thanh toán của số hàng đã bán và dịch vụ đã được thực hiện. Ngoài ra,
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ còn bao gồm các loại phụ thu.
- Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản thu và lãi liên quan đến hoạt động
về vốn của doanh nghiệp như: khoản thu từ hoạt động góp vốn liên doanh (ngoài vốn góp),
khoản thu về hoạt động đầu tư, bán chứng khoán, khoản thu về cho thuê TSCĐ, thu lãi tiền
gửi, lãi cho vay vốn, lãi bán ngoại tệ. Doanh thu hoạt động tài chính đã bao gồm thuế
GTGT (nếu đơn vị nộp thuế theo phương pháp trực tiếp) hoặc không có thuế GTGT (nếu
đơn vị nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế)
- Doanh thu bất thường là các khoản thu từ những sự kiện hay các nghiệp vụ khác
biệt với hoạt động thông thường đem lại như: thu được nợ khó đòi trước đây đã xử lý xoá
sổ, thu tiền được phạt do bên kia vi phạm hợp đồng với doanh nghiệp, các khoản thu năm
trước bị bỏ sót hay quên ghi sổ kế toán nay mới phát hiện ra, …Doanh thu bất thường đã
bao gồm thuế GTGT (nếu đơn vị nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp) hoặc không
có thuế GTGT (nếu đơn vị nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế).
2. Các phương thức bán hàng, thu tiền
Phương thức bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đối với việc sử dụng các tài khoản kế
toán phản ánh tình hình xuất kho thành phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ. Đồng thời có
tính quyết định đối với việc xác định thời điểm bán hàng và cung cấp dịch vụ, hình thành
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, tiết kiệm chi phí bán hàng và cung cấp dịch vụ để
tăng lợi nhuận.
Hiện nay các doanh nghiệp kinh doanh thương mại - dịch vụ thường vận dụng các
phương thức bán hàng sau:
- Bán hàng theo phương thức gửi hàng: theo phương thức này, định kỳ doanh
nghiệp gửi hàng cho khách hàng trên cơ sở của thoả thuận trong hợp đồng mua bán hàng
giữa hai bên và giao hàng tại địa điểm đã qui ước trong hợp đồng. Khi xuất kho gửi đi
hàng vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp, chỉ khi nào khách hàng đã trả tiền hoặc chấp
nhận thanh toán thì khi ấy hàng mới chuyển quyền sở hữu và được ghi nhận doanh thu bán
hàng.
- Bán hàng theo phương thức giao hàng trực tiếp: theo phương thức này bên khách
hàng uỷ quyền cho cán bộ nghiệp vụ đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp bán hoặc
giao nhận hàng tay ba (các doanh nghiệp thương mại mua bán hàng). Người nhận hàng sau
khi ký vào chứng từ bán hàng, của doanh nghiệp thì hàng hoá được xác định là bán (hàng
đã chuyển quyền sở hữu).
3. Phương pháp hạch toán doanh thu
a. Khái niệm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là doanh thu của khối lượng
sản phẩm, hàng hoá đã bán, dịch vụ đã cung cấp được xác định là tiêu thụ trong kỳ không
phân biệt doanh thu đã thu tiền được hay sẽ thu được tiền. ở các doanh nghiệp áp dụng tính
thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ không
bao gồm thuế GTGT, còn ở các doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp thì
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là trị giá thanh toán số hàng đã bán. Ngoài ra,
doanh thu còn bao gồm các khoản phụ thu.
b. Tài khoản sử dụng.
- TK511: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. TK này gồm 4 TK cấp 2:
+ TK 5111: doanh thu bán hàng hoá
+ TK 5112: doanh thu bán các sản phẩm
+ TK 5113: doanh thu cung cấp dịch vụ
+ TK 5114: doanh thu trợ cấp, trợ giá
Kết cấu chủ yếu của TK511- doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ như sau:
Bên nợ: + Các khoản giảm doanh thu bán hàng, giảm giá, hàng bị trả lại kết chuyển
cuối kỳ.
+ Số thuế xuất khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp của số thành phẩm
được xác định là tiêu thụ trong kỳ.
+ Cuối kỳ kết chuyển doanh thu thuần sang TK 91l - xác định kết
quả kinh doanh
Bên có: + Doanh thu bán hàng hoá, sản phẩm, và cung cấp dịch vụ trong kỳ
TK này không có số dư
- TK 512: doanh thu bán hàng nội bộ: TK này được sử dụng để phản ánh tình hình
bán hàng trong nội bộ một doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập (giữa các đơn vị chính
với các đơn vị phụ thuộc và giữa các đơn vị phụ thuộc với nhau).
TK 5 12- doanh thu bán hàng nội bộ gồm 3 TK cấp 2:
+ TK 512 l: doanh thu bán hàng hoá
+ TK 5122: doanh thu bán các sản phẩm
+ TK 5 123: doanh thu cung cấp dịch vụ
Kết cấu của TK này tương tự như TK 5 l l.
- TK 515: doanh thu hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp thương mại, dịch
vụ thường bao gồm các hoạt động đầu tư chứng khoán, góp vốn liên doanh, vay, cho thuê
tài chính, lãi vay khi gửi tiền ngân hàng,. . .
Bên Nợ: - số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp (nếu có)
- Kết chuyển doanh thu hoạt động tài chính thuần sang TK 91l
Bên Có: doanh thu hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ.
TK 5115 không có số dư cuối kỳ.
c Phương pháp hạch toán:
- Căn cứ vào giấy báo Có, phiếu thu hoặc thông báo chấp nhận thanh toán của
khách hàng, kế toán ghi:
Nợ TK 112 - TGNH
Nợ TK 111 - Tiền mặt
Nợ TK 131 - Phải thu của khách hàng.
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng
Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước (3331: thuế GTGT phải
nộp)
- Trường hợp bán hàng đại lý, doanh nghiệp được hưởng hoa hồng và không phải kê
khai tính thuế GTGT. Doanh thu bán hàng là số tiền hoa hồng được hưởng. Khi nhận hàng của
đơn vị giao đại lý, kế toán ghi vào bên Nợ TK 003
- Hàng hoá vật tư nhận bán hộ, ký gửi khi bán hàng thu được tiền hoặc khách hàng
đã chấp nhận thanh toán:
Nợ TK 111, 112, 131
Có TK 5 l l - doanh thu bán hàng tiền hoa hồng
Có TK 331 - Phải trả cho người bán (số tiền bán hàng trừ hoa hồng)
Đồng thời ghi có TK 003- hàng hoá, vật tư nhận bán hộ, ký gửi.
- Bán hàng trả góp, kế toán ghi số bán thông thường ở TK 511. Số tiền khách hàng
phải trả cao hơn doanh số bán thông thường, khoản chênh lệch đó được ghi vào thu nhập
hoạt động tài chính.
Nợ TK111, 112 (số tiền thu ngay)
Nợ TK 131 (số tiền phải thu)
Có TK 511 (ghi giá bán thông thường theo giá chưa có thuế GTGT)
Có TK 333 (thuế GTGT tính trên giá bán thông thường)
Có TK 71l (ghi phần chênh lệch cao hơn giá thông thường).
- Bán hàng theo phương thức đổi hàng, khi doanh nghiệp xuất hàng trao đổi với
khách hàng, kế toán ghi doanh thu bán hàng và thuế GTGT đầu ra. Khi nhận hàng của
khách hàng, kế toán ghi hàng nhập kho và tính thuế GTGT đầu vào:
+ Khi xuất hàng trao đổi, ghi nhận doanh thu:
Nợ TK 13 l - phải thu của khách hàng
Có TK 111 - doanh thu bán hàng
Có TK 333 - thuế và các khoản phải nộp.
+ Khi nhập hàng của khách ghi:
Nợ TK 152,156, 155
Nợ TK 133 - thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 131 - phải thu của khách hàng.
- Trường hợp doanh nghiệp dùng hàng hoá, vật tư sử dụng nội bộ cho sản xuất kinh
doanh thuộc diện chịu thuế GTGT, kế toán xác định doanh thu của số hàng này tương ứng
với chi phí sản xuất hoặc giá vốn hàng hoá để ghi vào chi phí SXKD.
Nợ TK 627, 641, 642
Có TK 512- doanh thu bán hàng nội bộ
Đồng thời ghi thuế GTGT: Nợ TK 133- thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 333: thuế và các khoản phải nộp nhà nước.
- Hàng hoá, thành phẩm, vật tư dùng để biếu tặng được trang trải bằng qũy khen
thưởng, phúc lợi:
Nợ TK 431: quĩ khen thưởng phúc lợi
Có TK 511: doanh thu bán hàng
Có TK 333: thuế và các khoản phải nộp nhà nước.
- Hàng hoá, thành phẩm bán ra thuộc diện tính thuế xuất nhập khẩu và thuế tiêu thụ
đặc biệt phải nộp:
Nợ TK 511 - doanh thu bán hàng
Có TK 333 - thuế và các khoản phải nộp nhà nước.
- Cuối kỳ xác định doanh thu bán hàng thuần bằng cách /ấy doanh thu theo hoá đơn
trừ đi thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và các khoản giảm giá, hàng bị trả lại:
Nợ TK 511 - doanh thu bán hàng
Có TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh .
- Phản ánh tiền lãi được khi mua chứng khoán, gửi tiền ngân hàng, . . . :
Nợ TK 112 - TGNH .
Có TK 515 - tổng số tiền lãi được nhận
4. Phương pháp hạch toán các khoản giảm trừ:
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuần mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ
kế toán có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ghi nhận ban đầu do các
nguyên nhân: doanh nghiệp chiết khấu thương mại, giảm giá hàng đã bán cho khách hàng
hoặc hàng đã bán bị trả lại và doanh nghiệp phải nộp thuế tiêu thụ dặc biệt, thuế xuất khẩu,
thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp được tính trên doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ thực tế mà doanh nghiệp đã thực hiện trong một kỳ kế toán.
Một số khái niệm:
Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, để đẩy mạnh bán ra, thu hồi nhanh chóng tiền
bán hàng, doanh nghiệp cần có chế độ khuyến khích đối với khách hàng. Nếu khách hàng
mua với khối lượng hàng hoá lớn sẽ được doanh nghiệp giảm giá, nếu khách hàng thanh
toán sớm tiền hàng sẽ được doanh nghiệp chiết khấu, còn nếu hàng hoá doanh nghiệp kém
phẩm chất thì khách hàng có thể không chấp nhận thanh toán hoặc yêu cầu doanh nghiệp
giảm giá: Các khoản trên sẽ phải ghi vào chi phí hoạt động tài chính hoặc giảm trừ trong
doanh thu hoá đơn chưa có thuế GTGT.
- Chiết khấu thương mại là số tiền doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho
người mua hàng do mua hàng hoá, dịch vụ với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết
khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc cam kết mua bán hàng.
- Giảm giá hàng bán là số tiền doanh nghiệp phải trả lại cho khách hàng trong
trường hợp hoá đơn bán hàng đã viết theo giá bình thường, hàng đã được xác định là bán
nhưng do chất lượng kém, khách hàng yêu cầu giảm giá và doanh nghiệp đã chấp nhận
hoặc do khách hàng mua với khối lượng hàng hoá lớn, doanh nghiệp giảm giá.
- Trị giá hàng bị trả lại là số tiền doanh nghiệp phải trả lại cho khách hàng trong
trường hợp hàng đã được xác định là bán nhưng do chất lượng quá kém, khách hàng phải
trả lại số hàng đó.
- Thuế khâu tiêu thụ 1à khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà
nước sau khi tiêu thụ hàng hoá dịch vụ, bao gồm: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu
(nếu có) .
Tài khoản sử dụng
- TK 521 - chiết khấu thương mại. TK này phản ánh số tiền chiết khấu cho khách
hàng và kết chuyển số tiền chiết khấu đó tính vào chi phí hoạt động tài chính. TK 521 -
chiết khấu bán hàng gồm 3 TK cấp 2:
+ TK 5211 - chiết khấu hàng hoá
+ TK 5212 - chiết khấu thành phẩm
+ TK 5213 - chiết khấu dịch vụ
Kết cấu chủ yếu của tài khoản như sau:
Bên Nợ: Ghi số tiền chiết khấu bán hàng đã chấp nhận cho khách hàng.
Bên có: Kết chuyển toàn bộ số chiết khấu bán hàng trong kỳ tính vào chi phí hoạt
động tài chính.
Sau khi kết chuyển, TK này không có số dư.
- TK 531 - hàng bán bị trả lại: TK này phản ánh trị giá hàng bán bị trả lại và kết
chuyển trị giá hàng bán bị trả lại sang tài khoản 511, 512 để giảm doanh thu bán hàng.
Kết cấu chủ yếu của TK này như sau:
Bên Nợ: Ghi trị giá hàng bán bị trả lại theo giá bán chưa có thuế GTGT
Bên Có: kết chuyển trị giá hàng bán bị trả lại sang TK 5 l l hoặc 5 12
Sau khi kết chuyển, TK này không có số dư.
- TK 532 - giảm giá hàng bán. TK này phản ánh số tiền giảm giá cho khách hàng
bán kết chuyển số tiền giảm giá sang TK 511 hoặc 512 để giảm doanh thu bán hàng.
Kết cấu chủ yếu của TK này như sau:
Bên Nợ: Ghi số tiền giảm giá cho khách hàng theo giá bán.
Bên Có: Kết chuyển số tiền giảm giá sang TK 511 hoặc TK 512.
Sau khi kết chuyển, TK này không có số dư.
- TK 333 - thuế và các khoản phải nộp nhà nước.
Phương pháp hạch toán:
Khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bị trả lại phát
sinh trong kỳ.
Nợ TK 521: Chiết khấu bán hàng
Nợ TK 532: Giảm giá hàng bán
Nợ TK 531: Hàng bán bị trả lại.
Có TK 131: phải thu của khách hàng
Có TK 111, 112
- Đối với trường hợp hàng bị trả lại trong kỳ, doanh nghiệp phải nhập kho lại số
hàng đó theo trị giá vốn, đồng thời phải ghi giảm số thuế GTGT đầu ra
+ Ghi nghiệp vụ hàng nhập kho
Nợ TK 155 - Thành phẩm
Nợ TK 156 - Hàng hoá
Có TK 632 - Giá vốn hàng bán
+ Ghi số tiền thuế GTGT đầu ra giảm tương ứng với số hàng bị trả lại.
Nợ TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước.
Có TK 131 - phải thu của khách hàng
Có TK 111 - tiền mặt
Có TK 112 - tiền gửi ngân hàng.
- Trường hợp hàng bán bị trả lại phát sinh vào kỳ hạch toán sau trong năm, kỳ trước
ghi doanh thu bán hàng và xác định kết quả kinh doanh:
+ Phản ánh trị giá hàng bán bị trả lại:
Nợ TK 531 - hàng bán bị trả lại .
Nợ TK 333 - thuế và các khoản phải nộp nhà nước
Có TK 131, 111, 112
+ Phản ánh số hàng bị trả lại nhập kho theo trị giá vốn
Nợ TK 155 - thành phẩm
Nợ TK 156 - hàng hoá
Có TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh
- Cuối kỳ kinh doanh, toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán và hàng bị trả lại được kết
chuyển sang bên Nợ TK 511 hoặc TK 512 để giảm doanh thu bán hàng đã ghi theo hoá
đơn ở bên Có của TK này.
Nợ TK 511 – Doanh thu bán hàng.
Có TK 531 – Hàng bán bị trả lại
Có TK 532 – Giảm giá hàng bán.
IV. Kế toán chi phí kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại – dịch vụ.
1. Kế toán giá vốn hàng bán
a. Khái niệm giá vốn hàng bán: là một trong những bộ phận cấu thành nên kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Giá vốn hàng bán có ảnh hưởng ngược chiều với kết quả
kinh doanh. Giá vốn hàng bán cao trong điều kiện giá bán hàng hoá bị khống chế bởi sự
cạnh tranh trên thị trường sẽ làm lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm xuống và ngược lại.
Do đó để tăng kết quả kinh doanh các doanh nghiệp luôn cố gắng giảm giá vốn hàng bán.
b. Tài khoản sử dụng: TK 632 – Giá vốn hàng bán.
Bên Nợ: trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp theo từng hoá
đơn.
- Trị giá vốn của thành phẩm sản xuất xong nhập kho và dịch vụ đã hoàn thành.
Bên Có: kết chuyển giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ hoàn thành đã được
xác định là tiêu thụ vào bên Nợ TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh.
c. Phương pháp hạch toán:
* Theo phương pháp kê khai thường xuyên:
- Khi xuất các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đi tiêu thụ, ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 154, 152, 156, …
- Kết chuyển giá vốn hàng bán của các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ vào
bên Nợ 911 – Xác định kết quả kinh doanh, ghi:
Nợ TK 911 – xác định kết quả kinh doanh.
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán.
* Theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
- Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại:
+ Cuối kỳ xác định và kết chuyển trị giá vốn của hàng hoá đã xuất bán được xác
định là tiêu thụ, ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 611 – Mua hàng
+ Cuối kỳ kết chuyển giá vốn của hàng hoá đã xuất bán được xác định là tiêu thụ
vào bên Nợ TK 911 – xác định kết quả kinh doanh
Nợ TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán
- Đối với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh dịch vụ:
+ Đầu kỳ, kết chuyển trị giá vốn của thành phẩm tồn kho đầu kỳ vào TK 632 – giá
vốn hàng bán, ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán.
Có TK 155 – Thành phẩm
+ Đầu kỳ, kết chuyển trị giá vốn của thành phẩm, dịch vụ, lao vụ đã gửi bán chưa
xác định là tiêu thụ vào đầu kỳ TK 632 – giá vốn hàng bán, ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán.
Có TK 157 – Hàng gửi đi bán.
+ Giá thành của thành phẩm hoàn thành nhập kho, giá thành dịch vụ đã hoàn thành,
ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có TK 631 – Giá thành sản xuất
+ Cuối kỳ kết chuyển giá vốn của thành phẩm hàng tồn kho cuối kỳ vào bên Nợ TK
155 – Thành phẩm.
Nợ TK 155 – Thành phẩm
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán
+ Cuối kỳ, xác dịnh trị giá của thành phẩm, dịch vụ đã gửi bán nhưng chưa được
xác định là tiêu thụ, ghi:
Nợ TK 157 – Hàng gửi đi bán.
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán.
+ Cuối kỳ, kết chuyển giá vốn của thành phẩm, dịch vụ đã được xác định là tiêu thụ
vào bên Nợ TK 911 – xác định kết quả kinh doanh.
Nợ TK 911 – xác định kết quả kinh doanh
Có TK 632 – Giá vốn hàng bán.
2. Kế toán chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh
a. Khái niệm chi phí sản xuất chung: là những chi phí cần thiết còn lại để hoạt động
kinh doanh sau những chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp. Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK
627 – chi phí sản xuất chung.
b. Kết cấu chủ yếu của TK này như sau:
Bên Nợ: chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ.
Bên Có: + Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
+ Kết chuyển (hay phân bổ) chi phí sản xuất chung vào chi phí sản
xuất hay lao vụ, dịch vụ.
TK 627 cuối kỳ không có số dư do đã kết chuyển hay phân bổ hết cho các loại sản
phẩm, dịch vụ, lao vụ và được chi tiết ở các TK cấp 2.
+ TK 6271: Chi phí nhân viên sản xuất
+ TK 6272: Chi phí vật liệu
+ TK 6273: Chi phí khấu hao TSCĐ
+ TK 6274: Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ TK 6278: Chi phí bằng tiền khác.
c. Phương pháp hạch toán:
- Tính tiền lương phải trả cho nhân viên từng bộ phận, phân xưởng:
Nợ TK 627 (6271) – Chi phí sản xuất chung
Có TK 334 – Phải trả CNV
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định (phần tính vào chi phí)
Nợ TK 627 (6271) – Chi phí sản xuất chung
Có TK 338 (338.2, 338.3, 338.4).
- Chi phí vật liệu dùng chung cho từng bộ phận, phân xưởng:
Nợ TK 627 (6272)
Có TK 152 – Nguyên liệu, vật liệu
- Các chi phí công cụ, dụng cụ sản xuất dùng cho các bộ phận, phân xưởng:
Nợ TK 627 (6273)
Có TK 153 (loại phân bổ một lần)
- Trích khấu hao TSCĐ của bộ phận, phân xưởng:
Nợ TK 627 (6274)
Có TK 214 – Hao mòn TSCĐ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
Nợ TK 627 (6277)
Nợ TK 133 (1331) – Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111, 112, 331, … - Giá trị mua ngoài
- Các chi phí phải trả (trích trước) khác tính vào chi phí sản xuất chung trong kỳ
(chi phí sửa chữa TSCĐ, …)
Nợ TK 627
Có TK 335 – Chi phí phải trả
- Phân bổ các chi phí trả trước:
Nợ TK 627
Có TK 142 – Chi phí trả trước
- Các chi phí bằng tiền khác
Nợ TK 627 (6278)
Có các TK liên quan (111, 112)
- Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
Nợ TK liên quan (111, 112, 152, 138,…)
Có TK 627.
- Cuối kỳ, tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung theo tiêu thức phù hợp cho các
đối tượng chịu chi phí (sản phẩm, nhóm sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, …)
Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung
TK 334, TK 627 TK 111, 112,
338 152, ..
Chi phí nhân viên Các khoản ghi giảm
chi phí sản xuất
TK 152, TK 154
153
Chi phí vật liệu, Phân bổ (hoặc kết
dụng cụ
chuyển)
CP SXC cho các đối tượng
TK 142,
335
Chi phí theo dự
toán
TK 111,
112
Chi phí sản xuất
chung
Khác TK 133
3. Kế toán chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí hoạt động
tài chính
3.1. Kế toán chi phí bán hàng
a. Khái niệm chi phí bán hàng: là những khoản chi phí mà doanh nghiệp chi ra
phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá. Trong doanh nghiệp, các chi phí bán hàng
phát sinh thường bao gồm:
- Chi phí đóng gói, bảo quản, bốc dỡ, vận chuyển sản phẩm, hàng hoá đi tiêu thụ.
- Chi phí quảng cáo, giới thiệu bảo hành sản phẩm.
- Chi phí tiền lương, các khoản tính theo tiền lương của CNV bộ phận bán hàng.
- Chi phí hoa hồng trả cho các đại lý.
- Các chi phí khác bằng tiền như chi phí hội nghị khách hàng, chi phí giao dịch, tiếp
khách hàng, …
b. Tài khoản sử dụng: TK 641 có kết cấu TK như sau
Bên Nợ: Chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ.
Bên Có: + Các khoản làm giảm chi phí bán hàng
+ Kết chuyển chi phí bán hàng trừ vào kết quả trong kỳ.
TK này không có số dư cuối kỳ và được chi tiết thành các TK cấp 2 như sau:
+ TK 6411: Chi phí nhân viên
+ TK 6412: Chi phí vật liệu, bao bì
+ TK 6413: Chi phí dụng cụ, đồ dùng
+ TK 6414: Chi phí khấu hao TSCĐ
+ TK 6415: Chi phí bảo hành sản phẩm
+ TK 6416: Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ TK 6417: Các chi phí bằng tiền khác.
c. Phương pháp hạch toán:
- Căn cứ vào bảng tính lương, phụ cấp lương, tiền công phải trả cho CNV bộ phận
bán hàng:
Nợ TK 641 (6411)
Có TK 334 – Lương phải trả cho nhân viên bán hàng
- Phản ánh các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ tính theo lương
Nợ TK 641 (6411)
Có TK 3382, 3383, 3384)
- Phân bổ các khoản chi phí trả trước
Nợ TK 641 – Các khoản chi phí trả trước được phân bổ
Có TK 142, 242
Căn cứ vào từng tài khoản chi phí trả trước được phân bổ, kế toán ghi tiếp vào các
tài khoản chi tiết tương ứng (tương tự như ở TK 627)
3.2. Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
a. Khái niệm chi phí quản lý doanh nghiệp: là những khoản chi phí phục vụ cho
quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh và các khoản chi phí chung cho toàn doanh
nghiệp. Các khoản chi phí này không thể tách riêng cho từng bộ phận hoặc từng hoạt động
của doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm:
- Tiền lương, phụ cấp lương và các khoản tính theo lương của CNV quản lý doanh
nghiệp.
- Chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng.
- Chi phí khấu hao và sửa chữa TSCĐ dùng cho quản lý và các TSCĐ dùng chung
toàn doanh nghiệp.
- Thuế môn bài, nhà đất, thuế GTGT của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ chịu thuế
theo phương pháp trực tiếp, các loại phí, lệ phí.
- Dự phòng nợ khó đòi tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Các chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác phục vụ chung của toàn
doanh nghiệp.
b. Tài khoản sử dụng: Tài khoản 642 có kết cấu như sau:
Bên Nợ: Các chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh trong kỳ.
Bên Có: + Các khoản làm giảm chi phí quản lý doanh nghiệp
+ Kết chuyển chi phí QLDN vào TK 911 – xác định kết quả hoặc TK
242 – chi phí trả trước dài hạn.
TK 642 không có số dư cuối kỳ và được chi tiết thành các TK cấp 2 sau:
+ TK 6421: Chi phí nhân viên quản lý
+ TK 6422: Chi phí vật liệu quản lý
+ TK 6423: Chi phí đồ dùng văn phòng.
+ TK 6424: chi phí khấu hao TSCĐ
+ TK 6425: Thuế, phí và lệ phí
+ TK 6426: Chi phí dự phòng
+ TK 6427: Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ TK 6428: Chi phí bằng tiền khác.
c. Phương pháp hạch toán:
- Căn cứ vào bảng tính lương, phụ cấp lương, tiền công phải trả cho CNV bộ phận
quản lý doanh nghiệp.
Nợ TK 642 (6421)
Có TK 334 – Phải trả CNV bộ phận quản lý doanh nghiệp.
- Phản ánh các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ tính theo lương
Nợ TK 642 (6421)
Có TK 333 (3382, 3383, 3384)
- Các chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ dùng cho quản lý và phục vụ sản xuất kinh
doanh chung toàn doanh nghiệp.
Nợ TK 642 (6422) Giá thực tế vật liệu, CCDC xuất dùng
Có TK 152, 153
- Phân bổ các khoản chi phí trả trước:
Nợ TK 642 Số chi phí trả trước được phân bổ trong kỳ
Có TK 142
Căn cứ vào từng tài khoản chi phí trả trước được phân bổ, kế toán ghi vào các tài
khoản chi tiết tương ứng.
3.3. Kế toán chi phí hoạt động tài chính.
Chi phí hoạt động tài chính bao gồm các khoản chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan
đến hoạt động đầu tư tài chính, chi phí cho vay vốn, chi phí góp vốn liên doanh, lỗ chuyển
nhượng chứng khoán ngắn hạn, chi phí giao dịch bán hàng, …
- TK sử dụng TK 635 – Chi phí hoạt động tài chính.
Bên Nợ: + Các khoản chi phí của hoạt động tài chính.
+ Các khoản lỗ do thanh lý các khoản đầu tư ngắn hạn.
+ Các khoản lỗ về chênh lệch tỷ giá ngoại tệ phát sinh thực tế trong kỳ
+ Khoản lỗ phát sinh khi bán ngoại tệ.
+ Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.
Bên Có: hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.
- Khi nhận được chứng từ chi phí hoạt động tài chính, kế toán hạch toán như sau:
Nợ TK 635 – Chi phí hoạt động tài chính
Có TK 111, 112
Sơ đồ hạch toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
TK 334, TK 641 TK 911
338
(1) Kết chuyển chi phí
bán hàng
TK 152,