Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - lý luận và thực tiễn

  • 86 trang
  • file .pdf
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
-  -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2007 - 2011
Đề tài:
HOẠT ĐỘNG XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. MẠC GIÁNG CHÂU NGUYỄN ANH THỰC
MSSV: 5075306
Lớp: Luật Tư pháp 3 – K33
Cần Thơ, tháng 11/2010
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 1 SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.......................................................................................................1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT HỎI TẠI
PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ........................................................4
1.1. Một số khái niệm cơ bản...........................................................................4
1.1.1. Khái niệm xét xử vụ án hình sự..........................................................4
1.1.2. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự..............................................5
1.1.3. Khái niệm xét hỏi tại phiên tòa...........................................................7
1.2. Tầm quan trọng của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
...........................................................................................................................10
1.2.1. Vị trí pháp lý của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
.....................................................................................................................10
1.2.2. Hậu quả pháp lý của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
.....................................................................................................................12
1.3. Một số mô hình tố tụng hình sự tiêu biểu và hướng áp dụng ở Việt Nam
...........................................................................................................................16
1.3.1. Các mô hình tố tụng hình sự...............................................................16
1.3.1.1. Mô hình tố tụng tranh tụng..........................................................16
1.3.1.2. Mô hình tố tụng xét hỏi................................................................19
1.3.2. Mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam và hướng áp dụng các ưu việt của
các mô hình tố tụng khác để hoàn thiện........................................................21
1.3.2.1. Mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam............................................21
1.3.2.2. Hướng áp dụng những ưu việt của các mô hình tố tụng khác vào mô
hình tố tụng của nước ta...............................................................................23
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT
ĐỘNG XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ.................25
2.1. Đọc bản cáo trạng.....................................................................................25
2.1.1. Những nội dung của bản cáo trạng và thẩm quyền đọc bản cáo trạng 25
2.1.2. Những hậu quả pháp lý liên quan đến bản cáo trạng sau khi Kiểm sát viên
đọc xong bản cáo trạng và trình bày hết những ý kiến bổ sung....................27
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 2 SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
2.2. Trình tự xét hỏi tại phiên tòa...................................................................29
2.2.1. Những người tiến hành tố tụng xét hỏi...............................................29
2.2.1.1. Xét hỏi bị cáo...............................................................................29
2.2.1.2. Hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ.....35
2.2.1.3. Xét hỏi người làm chứng..............................................................39
2.2.1.4. Xét hỏi người giám định...............................................................43
2.2.2. Quyền yêu cầu xét hỏi của những người tham gia tố tụng..................46
2.2.2.1. Quyền yêu cầu xét hỏi của bị cáo.................................................46
2.2.2.2. Quyền yêu cầu xét hỏi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện
hợp pháp của họ...........................................................................................47
2.3. Những thủ tục tố tụng khác trong hoạt động xét hỏi.............................49
2.3.1. Công bố lời khai tại Cơ quan điều tra, việc trình bày, công bố các tài liệu
của vụ án và nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức....................................49
2.3.1.1. Công bố lời khai tại Cơ quan điều tra.........................................49
2.3.1.2. Việc trình bày, công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét, báo cáo
của cơ quan, tổ chức....................................................................................51
2.3.2. Xem xét vật chứng và xem xét tại chỗ................................................52
2.3.2.1. Xem xét vật chứng........................................................................52
2.3.2.2. Xem xét tại chỗ.............................................................................53
2.4. Kết thúc xét hỏi.........................................................................................54
2.4.1. Các thủ tục và quyền tuyên bố kết thúc xét hỏi..................................54
2.4.2. Trở lại việc xét hỏi..............................................................................55
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN......................56
3.1. Những vấn đề pháp lý...............................................................................56
3.1.1. Bản cáo trạng và việc trình bày ý kiến bổ sung bản cáo trạng của Kiểm sát
viên...............................................................................................................56
3.1.2. Trình tự xét hỏi...................................................................................60
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 3 SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
3.1.3. Vấn đề đặt câu hỏi của những người tiến hành tố tụng đối với những
người tham gia tố tụng..................................................................................63
3.1.4. Quyền được hỏi của bị cáo.................................................................65
3.2. Những vấn đề thực tiễn............................................................................66
3.2.1. Quyền được hỏi của bị cáo.................................................................67
3.2.2. Không cho người được hỏi trình bày ý kiến về vụ án trước khi hỏi....69
3.2.3. Vấn đề cách ly bị cáo, người làm chứng.............................................70
3.2.4. Việc tham gia xét hỏi của người bào chữa bị hạn chế.........................71
3.2.5. Việc xét hỏi chưa bao hàm hết nội dung cần hỏi trong vụ án và không làm
hết những thủ tục xét hỏi tại phiên tòa....................................................................73
KẾT LUẬN............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 4 SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, giai đoạn xét xử là giai đoạn quan
trọng nhất để tìm ra sự thật khách quan của vụ án một cách công khai tại Tòa án. Nhằm
góp phần tìm ra sự thật đó, hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là hoạt động trung tâm mang
tính chất quyết định cho toàn bộ vụ án được giải quyết chính xác nhất. Một phiên tòa
mà hoạt động xét hỏi được thực hiện hoàn hảo sẽ đảm bảo cho công tác xử lý vụ án
hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không xử oan
người vô tội, không ngừng phát huy quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố pháp
luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Song song đó, cùng với tình hình phát triển chung của đất nước, pháp luật nói
chung cần có sự đổi mới để điều chỉnh sao cho phù hợp với xu hướng của sự phát triển
xã hội. Pháp luật tố tụng hình sự nói riêng cũng cần có những chuyển biến thích hợp để
phục vụ cho công cuộc bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ, đảm bảo tối đa quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân. Hòa nhập vào xu thế đó, ngày 02 tháng 6 năm 2005 Bộ Chính
trị đã ra Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đề ra
những nhiệm vụ và phương hướng mới trong công tác cải cách tư pháp, trong đó có đề
cập đến thủ tục tại phiên tòa.
Trước đó, Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02 tháng 01 năm 2002, của Bộ Chính
trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, có đoạn nói:
“Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người
bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích
hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong
thời hạn pháp luật quy định...”. Mục tiêu cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-
NQ/TW nêu trên đề ra là “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được
tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”. Bên cạnh đó cũng đề cập “đổi mới việc tổ chức
phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố
tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm
minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá
của hoạt động tư pháp”. Chính vì vậy, hoạt động xét hỏi tại phiên tòa cũng phải có
những thay đổi nhất định nhằm phù hợp với công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần
đã đề ra.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 5 SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa và nhiệm vụ mà
Đảng đề ra trong quá trình cải cách tư pháp như đã nêu trên, người viết đã chọn nghiên
cứu đề tài: “Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự – lý luận và thực
tiễn”, nhằm phục vụ cho công tác xét xử vụ án hình sự có hiệu quả và thực hiện nhiệm
vụ đã đề ra.
2. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, người viết đi sâu vào phân tích các hoạt động chủ yếu trong
quá trình xét hỏi của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng
tại phiên tòa. Làm rõ việc đọc bản cáo trạng, giải quyết các vấn đề về việc bổ sung ý
kiến sau khi đọc bản cáo trạng. Trình tự xét hỏi của những người tiến hành tố tụng,
việc tham gia vào xét hỏi của những người tham gia tố tụng. Hoạt động xét hỏi cụ thể
của những người tiến hành tố tụng đối với từng chủ thể tham gia tố tụng. Đồng thời
làm rõ những vấn đề nhằm phục vụ cho việc xét hỏi được thực hiện có hiệu quả. Việc
cách ly các bị cáo, người làm chứng với nhau trong vụ án. Hoạt động xem xét vật
chứng, xem xét tại chỗ, việc trình bày công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét, báo
cáo của cơ quan, tổ chức nhằm tạo căn cứ vững chắc cho chứng cứ đảm bảo cho chứng
cứ đó là cơ sở để ra quyết định, bản án đúng đắn.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự – lý
luận và thực tiễn” góp phần nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự của Tòa án. Đảm
bảo việc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm hay làm
oan người vô tội. Qua đó, góp phần tạo điều kiện cho cơ quan tư pháp, người tiến hành
tố tụng thực hiện đúng pháp luật, tránh xảy ra tình trạng oan sai, đồng thời giúp cho
hoạt động tư pháp hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Trên cơ sở đó, tìm ra
phương hướng hoàn thiện những bất cập về mặt pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng
pháp luật, đảm bảo cho hoạt động xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện thống nhất và
mang lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó, còn nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công
dân có liên quan vào vụ án hình sự.
Qua quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết đi sâu vào phân tích luật thực
định, những thiếu sót, hạn chế về mặt pháp lý cũng như những vướng mắc trong quá
trình áp dụng pháp luật tố tụng vào hoạt động xét hỏi tại phiên tòa hình sự trên thực tế.
Trên cơ sở đó, người viết nêu ra hướng áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật
hiện hành cũng như đề ra các phương hướng hoàn thiện những điểm mà luật hiện hành
còn bất nhất, việc áp dụng chưa đồng bộ pháp luật trên thực tế nhằm đảm bảo cho hoạt
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 6 SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
động xét hỏi tại phiên tòa đạt hiệu quả cao nhất góp phần vào việc tìm ra sự thật khách
quan của vụ án.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp:
phân tích luật viết, phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách, báo cùng với
phương pháp phân tích, tổng hợp. Đồng thời vận dụng những tư tưởng chỉ đạo của
Đảng trên tinh thần các Nghị quyết qua các kỳ đại hội, cụ thể là Nghị quyết số 08-
NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020 của Bộ Chính trị để làm phương hướng đề xuất những kiến nghị phù hợp với
tình hình xã hội và yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta.
5. Cấu trúc của đề tài
Để thuận tiện cho việc theo dõi, nghiên cứu cũng như tránh bỏ sót những vấn đề
quan trọng cần đề cập, người viết phân chia luận văn làm ba chương, bao gồm:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự
Chương 2. Những quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động xét hỏi tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 3. Một số bất cập và hướng hoàn thiện
Qua đây người viết xin gởi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý thầy cô
Khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ đặc biệt là cô Mạc Giáng Châu – người đã tận tình
hướng dẫn cho người viết hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Mặc dù đã có nhiều cố
gắng, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được của đề tài vẫn còn những thiếu sót nhất
định do người viết còn hạn chế về trình độ, khả năng và điều kiện nghiên cứu chưa
thuận lợi. Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng bạn đọc!
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 7 SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT HỎI
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Để nghiên cứu thành công một vấn đề cụ thể trong khoa học pháp lý, đặc biệt là
trong khoa học luật tố tụng hình sự thì việc nghiên cứu vấn đề lý luận là một nền tảng
vững chắc, làm cơ sở để nhận định luật thực định, có phương hướng đề ra cách thức
giải quyết những vấn đề cần hoàn thiện về mặt pháp lý cũng như về thực tiễn một cách
phù hợp nhất.
1.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy, phản ánh những thuộc tính chung,
bản chất của sự vật, hiện tượng, quá trình hiện thực. Là kết quả của sự tổng hợp, khái
quát biện chứng các tài liệu, kinh nghiệm thực tiễn. Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu kỹ
càng các khái niệm sẽ góp phần ngày càng hoàn thiện thực tế khách quan. Đây chính là
những tiền đề tạo ra các quy phạm pháp luật nói chung và quy phạm pháp luật tố tụng
hình sự nói riêng mang tính phù hợp, bao quát và mang tính định hướng cho tương lai.
1.1.1. Khái niệm xét xử vụ án hình sự
Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, từ khởi tố vụ án, điều tra và quyết định việc
truy tố, đến xét xử, thi hành án, có thể nói hoạt động xét xử là đặc biệt quan trọng, là
trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự. Đây là quá trình chứng minh tội phạm
một cách công khai trước Tòa án trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu được điều tra trước
đó cùng với những tài liệu chứng cứ được đưa ra trong quá trình xét xử. Các giai đoạn
trước từ khởi tố, điều tra và truy tố chỉ là các giai đoạn xác định và tìm kiếm thông tin,
chứng minh sự việc phạm tội hoặc không phạm tội đã xảy nhằm phục vụ cho quá trình
xét xử.
Hoạt động xét xử vụ án hình sự chỉ do Tòa án thực hiện. Điều 127 Hiến pháp năm
1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Tòa án Nhân dân Tối
cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự là những cơ quan xét xử của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Hoạt động xét xử được tiến hành trên
những nguyên tắc: công khai; bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; xét xử tập
thể; bảo đảm cho bị can, bị cáo quyền bào chữa và các nguyên tắc khác. Hoạt động xét
xử được tiến hành theo một trật tự do pháp luật quy định. Hoạt động xét xử ở cấp sơ
thẩm, phúc thẩm có những nhiệm vụ cụ thể của mình.
Xét xử là hoạt động của Tòa án nhân dân được tổ chức và tiến hành trên cơ sở
những nguyên tắc nhất định và theo một trật tự do luật định nhằm xem xét và giải quyết
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 8 SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
các vụ án hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình và những vụ việc khác do pháp
luật quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân. Hoạt động xét xử nhằm bảo vệ
pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân
dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự
và nhân phẩm của công dân; bảo vệ pháp luật và trật tự xã hội; giáo dục công dân trung
thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc
sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm và các vi phạm pháp luật
khác.
Theo Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (sau đây gọi là BLTTHS) thì:
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật”. Để xác định một người là có tội hay không có tội và chịu hình
phạt như thế nào thì bắt buộc họ phải được đưa ra xét xử trước Tòa án. Tại phiên xét xử,
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các bên tham gia tố tụng có điều
kiện công khai đưa ra quan điểm, lập luận để bảo vệ pháp luật hoặc bảo vệ chính mình.
Do đó, giai đoạn xét xử vụ án hình sự là giai đoạn tập trung cao nhất của quyền bào chữa
đảm bảo thực hiện bằng phương thức tranh tụng. Trong đó, vụ án hình sự là sự việc,
hành vi được xác định mang dấu hiệu tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự và
được cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của BLTTHS thụ lý để giải quyết.
Như vậy, xét xử vụ án hình sự là hoạt động của Tòa án nhân dân, được tổ chức
và tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc và trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và
làm oan người vô tội, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm. Hoạt động xét xử
vụ án hình sự cũng là hoạt động bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự xã hội, giáo dục công dân ý thức,
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
1.1.2. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo pháp luật tố tụng của nước ta nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng,
quá trình xét xử vụ án được chia làm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm. Trong giai đoạn
sơ thẩm, Tòa án xem xét giải quyết toàn diện vụ án nhằm xác định hành vi phạm tội,
chủ thể thực hiện tội phạm cũng như các tình tiết liên quan đến vụ án để đưa ra kết luận
bị cáo có tội hay không có tội. Nếu có tội thì tội gì, quy định tại Điều, khoản nào của
Bộ luật hình sự, vì vậy, có thể nói đây là giai đoạn tố tụng tập trung cao nhất các quyền
tư pháp. Song song đó, Tòa án xác định các biện pháp tư pháp đối với bị cáo cũng như
các trách nhiệm về dân sự do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Ngoài ra, Tòa án còn
có nhiệm vụ kiến nghị với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội sửa chữa những thiếu
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 9 SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
sót trong công tác quản lý các vấn đề của đời sống xã hội; nếu có căn cứ, Tòa án còn
phải có nhiệm vụ khởi tố vụ án đối với hành vi phạm tội mới mà Tòa án phát hiện.
Ở nước ta có các Tòa án: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Tòa án nhân dân tỉnh); Tòa án nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tòa án nhân dân huyện); Tòa
án quân sự; Tòa án khác do luật định 1. Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm
những vụ án mà các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực của Tòa án nhân dân
cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục tố tụng. Giám đốc thẩm những
vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tố
tụng2. Tòa án nhân dân tỉnh có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ án, phúc thẩm những
vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lực, giám đốc
thẩm, tái thẩm các vụ án mà các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
cấp dưới3. Tòa án nhân dân huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án theo thủ tục
tố tụng chung4.
Việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được thực hiện ở Tòa án cấp huyện và cả Tòa
án cấp tỉnh. Tùy vào từng vụ án cụ thể mà thuộc về thẩm quyền xét xử của từng cấp xét
xử cũng như của từng tòa theo quy định tại Điều 171, Điều 172 và Điều 173 BLTTHS
hiện hành.
So với xét xử sơ thẩm thì xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét
xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ
án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Sau khi xét xử sơ
thẩm, bản án, quyết định của phiên tòa sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay mà phải sau một
thời hạn luật định bản án, quyết định đó mới có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi
hành. Bản án, quyết định của cấp sơ thẩm sẽ bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy nếu như sai
thủ tụng tố tụng, không xét xử đúng người đúng tội… tuy nhiên sẽ có hiệu lực pháp
luật khi không có kháng cáo, kháng nghị hoặc căn cứ kháng cáo, kháng nghị bị tòa
phúc thẩm bác bỏ và ra quyết định giữ y án sơ thẩm. Bởi vì, sơ thẩm là cấp xét xử đầu
tiên, do đó ít nhiều sẽ có những sai sót, hạn chế trong quá trình điều tra, xét xử. Việc
pháp luật cho phép kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, tái thẩm và giám
đốc thẩm bảo đảm cho quyền lợi của người tham gia tố tụng được đảm bảo một cách
toàn diện, khách quan nhất.
1
Xem: Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
2
Xem: Điều 20 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
3
Xem: Điều 28 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
4
Xem: Khoản 2 Điều 32 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 10 SVTH: Nguyễn Anh
Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng. Dựa trên kết luận
điều tra từ phía Cơ quan điều tra đã chứng minh được rằng có tội phạm xảy ra, Viện
kiểm sát tiến hành ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng. Đây là văn bản tóm tắt
toàn bộ diễn biến của vụ án, xác định tội phạm, tội danh, khung hình phạt và các tình
tiết khác có liên quan đến vụ án. Việc ra quyết định truy tố bị can của Viện kiểm sát là
quá trình chuyển tiếp từ giai đoạn điều tra sang giai đoạn xét xử. Trên cơ sở đó, Tòa án
chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết
định đưa ra xét xử.
Vậy, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình
sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền sau khi xem xét hồ sơ vụ án lần đầu tiên đưa vụ án
ra xét xử nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội và người thực hiện phạm
tội, từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà Viện kiểm sát
đã truy tố5.
1.1.3. Khái niệm xét hỏi tại phiên tòa
Hệ thống tư pháp nước ta được tổ chức và hoạt động theo truyền thống luật lục
địa. Mô hình tố tụng của nước ta được thực hiện theo hệ thống pha trộn thiên về xét
hỏi, tức yếu tố xét hỏi trong tố tụng thể hiện rõ nét hơn. Vì vậy, quá trình tố tụng được
thực hiện bằng văn bản và bằng lời nói, bao gồm cả giai đoạn điều tra và xét xử tại
phiên tòa. Tòa án thực hiện việc chứng minh vụ án trên cơ sở sử dụng kết quả điều tra,
xét hỏi đóng vai trò quyết định trong xác định sự thật khách quan tại phiên tòa. Vì vậy,
thủ tục tố tụng tại phiên tòa đơn giản hơn, ít khắt khe hơn về mặt hình thức: việc xét xử
không nhất thiết phải có mặt tất cả những người tham gia tố tụng, chứng cứ thu thập
chỉ cần thẩm tra lại tại phiên tòa, gánh nặng xét hỏi do Tòa án đảm nhận. Phán quyết
của Tòa án được đưa ra trên cơ sở là những chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án,
phản ánh đúng sự thật khách quan, chứ không phải là kết quả của việc ai thuyết phục
Hội đồng xét xử tốt hơn tại phiên tòa.
Xét hỏi tại phiên tòa là hoạt động mà một số người còn gọi là thẩm vấn tại phiên
tòa. Tuy nhiên xét về mặt ngữ nghĩa thì thẩm vấn mới chỉ thể hiện được nội dung mà
người thẩm vấn cần biết, xuất phát từ một phía cần biết những thông tin của phía bên
kia chứ không thể hiện được sự trao đổi qua lại giữa các chủ thể. Vì vậy, thẩm vấn
chưa thể hiện sự kỹ càng, sâu sát trong hoạt động tố tụng, mà đặc biệt là trong hoạt
động tố tụng hình sự.
5
Xem: Mạc Giáng Châu, Giáo trình Luật tố tụng hình sự, khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, trang 111.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 11 SVTH: Nguyễn Anh
Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Xét hỏi trong tố tụng hình sự là hành vi tố tụng quan trọng, được thực hiện tại
phiên tòa nhằm phát hiện, củng cố và kiểm tra các chứng cứ có ý nghĩa đối với việc giải
quyết đúng đắn vụ án. Xuất phát từ yêu cầu xác định sự thật của vụ án một cách công
khai, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định
vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị cáo, vì
vậy, các tài liệu, chứng cứ, lời khai liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra phải
được đưa ra xem xét trước tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử không phụ thuộc vào kết
luận có sẵn của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát mà tự mình phải chứng minh có tội
phạm hoặc không có tội phạm6. Mặc khác, trong khi xét hỏi mà bị cáo nhận tội thì lời
nhận tội đó có thể coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án 7. Trong
một số trường hợp, vì một lý do nào đó mà bị can, người bị hại, người làm chứng không
khai tại Cơ quan điều tra nhưng lại khai trong lúc xét hỏi tại phiên tòa. Do đó, việc xét
hỏi bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người này, người làm
chứng, người giám định ngay tại phiên tòa là thủ tục cần thiết và luôn luôn có vị trí quan
trọng trong quá trình xét xử vụ án. Chương XX, BLTTHS hiện hành quy định thủ tục xét
hỏi tại phiên tòa. Thủ tục này cho phép việc xét hỏi được thuận tiện, khách quan và khoa
học. Đối với người được hỏi thì ngoài cơ hội cung cấp trực tiếp cho hội đồng xét xử
những chứng cứ có ý nghĩa để giải quyết đúng đắn vụ án, đây còn là dịp để họ trình bày
ý kiến, tham gia xét hỏi những người tham gia xét hỏi khác nhằm bảo vệ những lợi ích
thiết thực của mình hoặc của những người mà mình quan tâm.
Xét hỏi trong tố tụng hình sự là hoạt động điều tra và xét xử do những người tiến
hành tố tụng thực hiện nhằm thu thập, ghi nhận và kiểm tra những tình tiết, chứng cứ có
ý nghĩa đối với vụ án. Thủ tục xét hỏi do pháp luật tố tụng quy định. Việc xét hỏi do
những người có thẩm quyền tiến hành, ở giai đoạn xét xử do các thành viên của hội đồng
xét xử tiến hành. Nội dung xét hỏi phải được ghi thành biên bản theo Điều 95 BLTTHS.
Trình tự xét hỏi được quy định tại Điều 207 BLTTHS.
Từ những phân tích trên, suy cho cùng xét hỏi và thẩm vấn là hai từ đồng nghĩa.
Nhưng xét hỏi đảm bảo sự sâu sát, mạnh mẽ trong ngôn từ tố tụng, đặc biệt thể hiện
được bản chất của phiên tòa hình sự, bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án. Chính vì
vậy mà hai BLTTHS của nước ta đã sử dụng từ “xét hỏi” tại phiên tòa mà không phải
là “thẩm vấn” tại phiên tòa.
6
Xem: Điều 10 BLTTHS 2003.
7
Khoản 2 Điều 72 BLTTHS 2003 quy định: “Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu
phù hợp với chứng cứ khác của vụ án.
Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội.”
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 12 SVTH: Nguyễn Anh
Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Theo pháp luật hiện hành thì xét hỏi tại phiên tòa là một phần của quá trình xét
xử vụ án tại phiên tòa, theo đó những người tiến hành tố tụng tiến hành việc nghiên cứu
và kiểm tra các chứng cứ, kết luận điều tra và những tình tiết của vụ án. Việc xét hỏi
được tiến hành sau khi Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu
có. Hội đồng xét xử xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án
theo thứ tự xét hỏi hợp lý. Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các
Hội thẩm nhân dân, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa. Những người tham gia
phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần
làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám
định. Trong khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét những vật chứng có liên quan đến vụ
án. Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được quy định cụ thể trong Chương XX của BLTTHS
hiện hành, từ Điều 206 đến Điều 216. Sau khi xét hỏi xong, chủ tọa phiên tòa tuyên bố
kết thúc xét hỏi và chuyển sang phần tiếp theo là tranh luận tại phiên tòa.
Như vậy, xét hỏi tại phiên tòa là một giai đoạn của quá trình xét xử tại Tòa án, do
những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng thực hiện nhằm thu
thập, ghi nhận và kiểm tra những tình tiết, chứng cứ có ý nghĩa đối với vụ án.
Theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002, của Bộ Chính trị
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới, có đoạn nói: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn
cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện
các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng,
nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án,
quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định...”.
Vì vậy, việc xét hỏi tại phiên tòa phải theo hướng tranh tụng, khi đó Hội đồng xét xử
chỉ là người “cầm trịch”, việc xét hỏi chủ yếu do Kiểm sát viên (hỏi về những vấn đề
liên quan đến việc buộc tội và cả những tình tiết gỡ tội cho bị cáo) và người bào chữa
(hỏi về những vấn đề nhằm gỡ tội cho bị cáo) thực hiện. Hội đồng xét xử chỉ hỏi những
vấn đề chung nhằm mục đích xét xử. Khi đó, xét hỏi là cuộc điều tra chính thức tại
phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án. Đại diện cho bên công tố hỏi về
những vấn đề liên quan đến việc buộc tội cũng như gỡ tội, bên bào chữa hỏi về những
vấn đề liên quan đến việc gỡ tội cho bị cáo. Trên cơ sở đó Tòa án đưa ra phán quyết
chung cho vụ án. Các bên tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đều có quyền điều tra
dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa từ hỏi người khác đến xem xét các vật chứng,
tài liệu. Việc xét hỏi chỉ kết thúc khi Hội đồng xét xử nhận thấy rằng thông qua xét hỏi
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 13 SVTH: Nguyễn Anh
Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
thì sự thật khách quan, đối tượng cần được chứng minh trong vụ án đã được xác định
đầy đủ, các tình tiết liên quan đến vụ án đã được làm rõ.
Việc xét hỏi tại phiên tòa hình sự như lâu nay diễn ra theo trình tự và trách
nhiệm là chủ tọa phiên tòa xét hỏi toàn bộ các chứng cứ, tình tiết của vụ án. Tiếp đến là
các Hội thẩm nhân dân. Kiểm sát viên hỏi về những vấn đề mà bị cáo phủ nhận tội của
họ cũng như hỏi về những tình tiết gỡ tội cho họ. Người bào chữa hỏi về những vấn đề
có lợi cho người được họ bảo vệ. Với tinh thần cải cách như trên thì trách nhiệm xét hỏi
tại phiên tòa cần được hiểu theo một chiều hướng khác. Không loại bỏ vai trò xét hỏi
về toàn bộ vụ án của Hội đồng xét xử nhưng cần phải nâng cao vai trò của Kiểm sát
viên và người bào chữa trong quá trình xét hỏi. Có như vậy thì phiên tòa hình sự mới
thật sự đi sâu vào tranh tụng.
1.2. Tầm quan trọng của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Nhận định đúng giá trị của một vấn đề sẽ nhanh chóng tìm ra được những ưu thế
và những hạn chế mà nó mang lại. Vì vậy, biết được vị trí và ảnh hưởng của hoạt động
xét hỏi tại phiên tòa có tác động như thế nào đối với toàn bộ quá trình xét xử vụ án sẽ
giúp cho việc nghiên cứu vấn đề mang tính toàn diện và chính xác. Bên cạnh đó còn
xác định được sự ảnh hưởng của hoạt động này đến các hoạt động khác trong tố tụng
hình sự.
1.2.1. Vị trí pháp lý của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình
sự
Xét hỏi tại phiên tòa là giai đoạn trung tâm trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án,
đây là giai đoạn quan trọng nhất để xác định sự thật vụ án, có tính chất quyết định
chứng minh bị cáo phạm tội hay không phạm tội, nếu có thì phạm tội gì, hình phạt như
thế nào. Hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra cũng nhằm mục đích chứng minh tội
phạm, nhưng nó được tiến hành bán công khai và mục đích chủ yếu là cung cấp chứng
cứ cho quá trình xét xử. Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa cũng là một giai đoạn chứng
minh tội phạm, có thể những câu hỏi và câu trả lời không khác gì ở giai đoạn điều tra
nhưng được thực hiện hoàn toàn công khai và tập trung kiểm tra lại những chứng cứ do
Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra, nhằm bảo vệ hoặc phản bác lại
những tình tiết, chứng cứ mà Cơ quan điều tra cung cấp. Quá trình tranh luận tại phiên
tòa là việc bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra các quan điểm của mình nhằm buộc tội
hay gỡ tội, tuy nhiên việc đưa ra các lập luận để bảo vệ cho quan điểm của mình thì cả
hai bên buộc tội và gỡ tội đều phải dựa vào các chứng cứ, tình tiết đã xem xét trong
quá trình xét hỏi. Nếu có thêm chứng cứ mới, tình tiết mới được đưa ra xem xét thì Hội
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 14 SVTH: Nguyễn Anh
Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
đồng xét xử vẫn phải quyết định trở lại việc xét hỏi để làm rõ chứng cứ, tình tiết mới
đó. Điều này cho thấy hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động xuyên suốt
trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án.
Bên cạnh việc xét hỏi, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và những người tham gia
phiên tòa còn tiến hành các hoạt động khác như xem xét vật chứng, công bố những lời
khai tại Cơ quan điều tra, xem xét tại chỗ, trình bày, công bố các tài liệu của vụ án…
cùng với việc nhận xét, báo cáo của các cơ quan, tổ chức hữu quan. Vì vậy, hoạt động
xét hỏi tại phiên tòa không chỉ đơn thuần là xét hỏi mà còn bao gồm các hoạt động điều
tra, chính vì lẽ đó có ý kiến cho rằng Chương XX của BLTTHS hiện hành nên có tên
là: “Thủ tục điều tra, xét hỏi tại phiên tòa”. Quan điểm này là phù hợp với quy định tại
khoản 1 Điều 273 BLTTHS về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là:
“Việc điều tra xét hỏi phiến diện hoặc không đầy đủ”. Có thể nói hoạt động xét hỏi tại
phiên tòa là một hoạt động độc lập nhưng có mối quan hệ mật thiết đến các giai đoạn
khác trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án.
Việc ra các quyết định, bản án của Tòa án phải dựa trên các tài liệu, hồ sơ và
chứng cứ đã được đưa ra xem xét trước tòa8. Các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án hoặc
mới đưa ra khi xét hỏi đều phải được công bố tại phiên tòa. Hội đồng xét xử không
được dựa vào các kết luận của Cơ quan điều tra, kết quả giám định, các chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án hoặc các chứng cứ mới để ra các quyết định, bản án cho vụ án khi
các chứng cứ, tài liệu đó chưa được xem xét tại phiên tòa. Việc xem xét này chỉ được
thực hiện trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nếu trong quá trình tranh luận mà các
bên đưa ra vật chứng, tài liệu mới thì như đã nói trên, chủ tọa phiên tòa phải quyết định
trở lại xét hỏi để làm rõ các vật chứng, tài liệu mới được đưa ra.
Xét hỏi thực chất là cuộc điều tra chính thức tại phiên tòa để xác định sự thật
khách quan của vụ án. Các bên tham gia tố tụng đều có quyền xét hỏi dưới sự điều
khiển của chủ tọa phiên tòa từ hỏi bị cáo cho đến những người tham gia xét xử khác,
xem xét vật chứng, tài liệu. Việc xét hỏi này chỉ kết thúc khi Tòa án thấy rằng thông
qua xét hỏi sự thật khách quan, đối tượng cần chứng minh trong vụ án đã được xác
định đầy đủ, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết vụ án đã được làm rõ. Vì thế cho
nên, thủ tục tố tụng hình sự quy định gánh nặng xét hỏi cho Tòa án, việc thu thập
chứng cứ do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thực hiện. Vụ án có được giải quyết đúng
đắn hay không phụ thuộc phần lớn vào vai trò của Tòa án trong quá trình xét xử, trong
đó xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động góp phần quan trọng nhất.
8
Khoản 1 Điều 184 BLTTHS quy định: “… Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại
phiên tòa”.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 15 SVTH: Nguyễn Anh
Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Như vậy, hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động chính yếu trong quá
trình xét xử tại phiên tòa, góp phần quan trọng vào việc tìm ra sự thật khách quan của
vụ án. Là một hoạt động độc lập của quá trình xét xử tại phiên tòa, có ảnh hưởng đến
tất cả các giai đoạn khác trong toàn bộ quá trình tố tụng, là nền tảng cho quá trình tranh
luận, nghị án và đặc biệt là căn cứ để chứng minh tội phạm, đưa ra các quyết định đúng
đắn. Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa được pháp luật hình sự điều chỉnh ở Chương XX
của BLTTHS hiện hành.
Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xét hỏi tại phiên tòa đòi hỏi Hội đồng xét
xử, Kiểm sát viên và những người tham gia phiên tòa, một mặt phải tuân theo những
quy định của pháp luật, mặt khác phải định hướng trước một phương pháp xét xử phù
hợp để xác định sự thật của vụ án. Điều này tạo cho những người tham gia xét xử mà
đặc biệt là Thẩm phán có một tư duy thật tốt để đưa ra một phương hướng phù hợp cho
cả quá trình xét xử vụ án. Vì vậy, có thể nói hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một nghệ
thuật mà không phải Thẩm phán nào cũng làm được. Việc tìm ra sự thật của vụ án phụ
thuộc rất lớn vào vai trò, bản lĩnh của Thẩm phán.
Trong tiến trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng
01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp và theo Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
của Bộ Chính trị đề cập: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa,
bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố
tụng khác… khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến
của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo… để đưa ra những bản án, quyết định
đúng pháp luật…”. Từ đây, lại cho thấy rằng vai trò của hoạt động xét hỏi là không thể
nào thiếu trong quá trình giải quyết vụ án. Như đã biết, việc chứng minh tội phạm, xem
xét các tài liệu chứng cứ của vụ án phải được diễn ra tại phiên tòa, đặc biệt là trong quá
trình xét hỏi thì mới được xem là căn cứ cho việc định tội. Vai trò của bên công tố và
bên bào chữa được nâng lên nhưng việc thực hiện các quyền của họ có đi đúng hướng
hay không lại phụ thuộc vào sự điều khiển của Hội đồng xét hỏi. Việc tranh luận dựa
trên kết quả của quá trình xét hỏi, vì vậy, nếu như hoạt động xét hỏi tại phiên tòa mờ
nhạt thì tất nhiên vai trò của bên công tố và bên bào chữa sẽ không thể nào phát huy
được.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 16 SVTH: Nguyễn Anh
Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
1.2.2. Hậu quả pháp lý của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án
hình sự
Bất kỳ một hoạt động nào trong quá trình xét xử đều có một chức năng nhất
định, mặc dù mục đích cuối cùng của tất cả các hoạt động đều phục vụ cho việc tìm ra
sự thật khách quan của vụ án. Một hoạt động được diễn ra có ảnh hưởng rất lớn đến
các hoạt động trước và sau nó trong một quá trình xét xử, quyết định có hay không có
các giai đoạn tiếp sau đó hoặc buộc phải quay về các hoạt động trước đó để xem xét,
thực hiện lại. Nói tóm lại, mỗi hoạt động diễn ra trong quá trình xét xử vụ án đều có
những hậu quả pháp lý nhất định ảnh hưởng đến các hoạt động khác.
Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động trung tâm của toàn bộ quá trình
xét xử, vì vậy những hậu quả pháp lý của nó tác động rất lớn đến các giai đoạn khác
trong quá trình giải quyết vụ án. Một trong những hậu quả pháp lý quan trọng nhất của
hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là đưa ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; quyết
định hoãn hay không hoãn phiên tòa; quyết định chuyển sang giai đoạn kế tiếp của quá
trình xét xử tại phiên tòa hay không... Nếu trong quá trình xét hỏi Hội đồng xét xử
nhận thấy còn có những vấn đề cần được chứng minh nhưng không thể làm rõ ngay tại
phiên tòa hoặc phát hiện thêm những tình tiết mới liên quan đến vụ án thì Hội đồng xét
xử quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu điều tra bổ sung hoặc điều tra lại,
song song với quyết định này là quyết định hoãn phiên tòa.
Theo khoản 1 Điều 179 BLTTHS năm 2003 về quyết định trả hồ sơ để điều tra
bổ sung, quy định này nằm ở giai đoạn chuẩn bị xét xử. Sẽ là hợp lý nếu trong quá
trình nghiên cứu hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử phát hiện cần phải xem xét thêm chứng
cứ quan trọng mà không thể bổ sung tại phiên tòa được (điểm a); có căn cứ cho rằng bị
cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm (điểm b); phát hiện có vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng (điểm c) thì Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ
sung. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử có trường hợp đến khi xét hỏi tại phiên tòa Hội đồng
xét xử mới phát hiện ra những vấn đề nêu trên nhờ bị cáo, người làm chứng hoặc
những người tham gia tố tụng khác khai báo thêm mà trước đó họ không khai. Khi đó,
Hội đồng xét xử cũng phải ra quyết định tạm hoãn phiên tòa để yêu cầu điều tra bổ
sung.
Một hậu quả pháp lý quan trọng hơn cả là sẽ xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm nếu
như hoạt động xét hỏi tại phiên tòa không thực hiện đúng chức năng của nó. Như đã
biết, xét hỏi tại phiên tòa không chỉ xét hỏi mà còn là việc kiểm tra làm rõ những
chứng cứ ở giai đoạn điều tra và cả những chứng cứ mới được đưa ra. Tất cả các tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và cả những chứng cứ mới phải được đưa ra xem
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 17 SVTH: Nguyễn Anh
Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
xét tại tòa, việc xem xét này chỉ được thực hiện trong quá trình xét hỏi. Mặt khác, các
quyết định, bản án của Tòa án phải dựa trên hồ sơ, chứng cứ của vụ án được đưa ra
xem xét trước tòa. Vì vậy, các lời khai, tài liệu, chứng cứ phải được xem xét một cách
kỹ càng, khoa học thì mới có thể đưa ra những quyết định đúng đắn. Các quyết định,
bản án được đưa ra phải dựa trên các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án không
đồng nghĩa với quan niệm “án tại hồ sơ” và Thẩm phán ra tòa trong tư thế xử tội nhiều
hơn là tìm ra sự thật. Bởi lẽ, các tài liệu, chứng cứ nói trên không phải chỉ đem ra công
bố mà còn xem xét lại, việc xem xét này diễn ra một cách công khai cho nên sẽ toàn
diện và chính xác hơn so với giai đoạn điều tra. Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ
án chưa được đưa ra xem xét thì không thể xem đó là căn cứ để đưa ra các quyết định,
bản án. Trong quá trình xét hỏi có thể các chứng cứ, tài liệu này được chấp nhận, cũng
có thể bị bác bỏ. Trong một số trường hợp, một tình tiết, chứng cứ ở giai đoạn điều tra
là căn cứ để tăng nặng (hoặc giảm nhẹ) trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo nhưng
khi đến giai đoạn xét xử trong quá trình xét hỏi làm phát sinh những tình tiết mới mà
tình tiết đó có thể trở thành tình tiết giảm nhẹ (hoặc tăng nặng) trách nhiệm hình sự cho
bị cáo. Vì vậy nếu việc xét hỏi không kỹ càng, qua loa thì rất dễ dẫn đến oan sai do áp
dụng các Điều, khoản của Bộ luật hình sự không phù hợp và bỏ lọt tội phạm.
Thí dụ cho trường hợp trên là vụ án gây oan sai cho ba thanh niên ở Hà Tây (cũ)
mà sau gần mười năm mới được giải oan. Đó là vụ án cướp tài sản và hiếp dâm xảy ra
tối ngày 24 tháng 10 năm 2000 tại khu vực trạm bơm Yên Nghĩa, xã Dương Nội,
huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (cũ). Trải qua hai phiên tòa, các cấp xét xử cùng xác
định: tối 24 tháng 10 năm 2000, Tình, Kiên, Lợi bàn nhau đi trấn lột. Khi đến gần trạm
bơm Yên Nghĩa, phát hiện một đôi trai gái đang ngồi tâm sự, họ lội qua mương đến
gần. Lợi dùng dao gí vào cổ, khống chế người đàn ông kéo xuống mương, cướp tài sản.
Sau đó, cả nhóm thay nhau hãm hiếp cô gái. Hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã
tuyên phạt Lợi 16 năm tù, Tình 14 năm tù và Kiên 11 năm tù. Ông Nguyễn Hữu Thể -
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã nêu lên nhiều nguyên nhân dẫn đến
hậu quả oan sai cho vụ án, trong đó có nhiều nguyên nhân do lỗi của Hội đồng xét xử,
Kiểm sát viên trong quá trình xét hỏi không làm rõ chứng cứ, lời khai của bị cáo. Cụ
thể, tại các phiên tòa xét xử, những bằng chứng ngoại phạm của các bị cáo chưa được
Hội đồng xét xử quan tâm xem xét đúng mức, Tòa án đã không xem xét, đánh giá đầy
đủ, kỹ lưỡng, toàn diện, khách quan các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, các bị cáo có khai
việc bị cán bộ điều tra ép cung trong quá trình điều tra, nhưng không được xem xét,
xác minh, kết luận9.
9
Xem: Tuổi trẻ online, Lại hoãn xử ba thanh niên bị kết tội hiếp dâm, Minh Quang, http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-
hoi/Phap-luat/388563/Lai-hoan-xu-vu-3-thanh-nien-bi-ket-toi-hiep-dam.html, [truy cập ngày 11/8/2010].
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 18 SVTH: Nguyễn Anh
Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Từ vụ án trên, cho thấy việc xét hỏi tại phiên tòa có vai trò quan trọng trong quá
trình tìm ra sự thật của vụ án. Từ việc xét hỏi qua loa, chỉ dựa vào kết luận điều tra dẫn
đến việc ra bản án, quyết định không đúng người, đúng tội đã làm oan người vô tội, khi
đó đã bỏ lọt tội phạm thật sự của vụ án. Trong một số trường hợp việc xét hỏi phiến
diện, không đầy đủ sẽ làm sai lệch các nguyên tắc trong tố tụng hình sự cũng như
những quy định cơ bản của BLTTHS.
Về nguyên tắc, việc giải quyết các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến
hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự10. Tuy nhiên, trong quá trình xét hỏi những
người tham gia tố tụng về phần dân sự trong vụ án, nếu xét thấy còn nhiều vấn đề về
bồi thường, bồi hoàn chưa có điều kiện chứng minh hoặc phát hiện thêm các vấn đề về
dân sự nhưng không thể làm rõ tại phiên tòa mà không làm ảnh hưởng đến việc giải
quyết vụ án hình sự thì Hội đồng xét xử quyết định tách riêng thành một vụ án dân sự
khác để xét xử sau đó. Vì vậy, việc quyết định tách hay không tách vụ việc dân sự ra
thành một vụ án riêng hay không còn phụ thuộc vào quá trình xét hỏi.
Trong quá trình xét hỏi, nếu phát hiện có tội phạm mới thì Hội đồng xét xử
quyết định khởi tố bị can hoặc đề nghị Viện kiểm sát khởi tố. Nếu phát hiện bị cáo
phạm tội mới thì ra quyết định yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung, đồng thời ra
quyết định hoãn phiên tòa. Trường hợp phát hiện bị cáo phạm tội mới mà không thuộc
thẩm quyền xét xử của mình thì Hội đồng xét xử phải chuyển vụ án cho Tòa án có
thẩm quyền giải quyết.
Việc xét hỏi tại phiên tòa không đầy đủ, phiến diện còn là nguyên nhân dẫn đến
bản án, quyết định của Tòa án bị hủy, vụ án phải đưa ra xét xử phúc thẩm, xem xét lại
theo thủ tục tái thẩm hoặc giám đốc thẩm. Vì là giai đoạn quan trọng nhất trong quá
trình giải quyết vụ án: chứng minh tội phạm, xem xét tất cả các tài liệu, chứng cứ của
vụ án nên việc đưa ra các quyết định, bản án của Tòa án phụ thuộc hầu hết vào kết quả
của hoạt động xét hỏi tại phiên tòa. Các quyết định, kết luận của Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát có được phát hiện là đúng hay không đúng phụ thuộc vào quá trình xét hỏi,
bởi vì, chỉ ở đây các quyết định, chứng cứ ấy mới được đưa ra xem xét một cách toàn
diện và công khai. Trên cơ sở đó, như đã nói trên, các quyết định, bản án của Tòa án lại
dựa trên hồ sơ, tài liệu được đưa ra xem xét trước tòa trong quá trình xét hỏi. Do đó,
nếu quá trình xét hỏi không đi sâu vào xem xét, tranh tụng sẽ dẫn đến việc đưa ra bản
Xem: Báo đời sống pháp luật online, Phiên tòa giám đốc thẩm 3 thanh niên phạm tội hiếp dâm, cướp tài sản ở
Yên Nghĩa, Hà Đông, Hà Nội: Dừng đến bao giờ?, http://www.doisongphapluat.com.vn/Story.aspx?lang=vn&zo
neparent=0&zone=4&ID=5175, [truy cập ngày 11/8/2010].
Xem: Trang tin Tin nhanh Việt Nam online (VnExpress), Vi phạm nghiêm trọng trong vụ xử ba thanh niên án
hiếp dâm, Anh Thư, http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/2010/06/3BA1C714/?p=3, [truy cập ngày 11/8/2010].
10
Xem: Điều 28 BLTTHS 2003.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 19 SVTH: Nguyễn Anh
Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
án, quyết định không đúng đắn, không thuyết phục gây nên tình trạng oan sai, kéo dài
trong công tác xét xử, có vụ án phải xét xử lại nhiều lần.
Xét hỏi tại phiên tòa trong một số trường hợp sẽ làm thay đổi tội danh hoặc thay
đổi tư cách tham gia tố tụng đối với những người tham gia tố tụng. Thí dụ, Viện kiểm
sát truy tố bị cáo về một tội nhưng trong quá trình xét hỏi, xem xét lời khai, chứng cứ
Hội đồng xét xử nhận thấy người này không phải phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố
mà là một tội khác. Hoặc trong bản cáo trạng của Viện kiểm sát chỉ nêu một người là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng khi xét hỏi tại phiên tòa đã làm
rõ những căn cứ cho rằng người đó không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án mà là đồng phạm với bị cáo, hoặc là người chủ mưu, cầm đầu. Trong
những trường hợp này, Hội đồng xét xử sẽ quyết định hoãn phiên tòa để yêu cầu Viện
kiểm sát điều tra bổ sung.
1.3. Một số mô hình tố tụng hình sự tiêu biểu và hướng áp dụng ở Việt Nam
Mô hình tố tụng hình sự thể hiện cách ứng xử của Nhà nước đối với người bị
tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo và quyết định toàn bộ quy trình tố tụng. Hướng tới sự
tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tố tụng hay sự bảo vệ quyền lợi của công dân và
nhiều nội dung quan trọng khác. Nghiên cứu các mô hình tố tụng tiêu biểu nhằm mục
đích tìm ra những tiến bộ hơn trong quá trình lập pháp cũng như áp dụng pháp luật vào
thực tiễn. Bên cạnh đó, đưa những ưu việt học hỏi được vào mô hình hiện tại nhằm
hoàn thiện pháp luật phù hợp với tình hình xã hội.
1.3.1. Các mô hình tố tụng hình sự
1.3.1.1. Mô hình tố tụng tranh tụng
Mô hình tố tụng tranh tụng có nguồn gốc từ mô hình tố tụng tố cáo và phát triển
mạnh mẽ ở các nước theo hệ thống luật án lệ như Anh và Mỹ. Với mô hình này, việc
xét hỏi tại phiên tòa hầu như không được coi trọng. Sự thật khách quan của vụ án được
xác định thông qua sự tranh luận dựa trên những nguồn chứng cứ cho là chính xác nhất
được thu thập trước đó. Trong quá trình xét xử, Tòa án (mà đại diện là Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa) chỉ là người quan sát bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra những lập luận,
chứng cứ mà họ thu thập được. Tòa án không xét hỏi mà quan sát các bên tranh tụng và
cùng với kết luận của bồi thẩm đoàn sẽ đưa ra phán quyết cuối cùng là bên nào chiến
thắng. Với mô hình này, bên buộc tội và bên gỡ tội đều được sử dụng các quyền và
nghĩa vụ pháp lý như nhau trong việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ, phân
tích và đưa ra các kết luận đối với những việc cụ thể. Vì vậy, ngôn ngữ được sử dụng
trong quá trình tố tụng đòi hỏi phải rất chính xác và tố tụng có vai trò đặc biệt quan
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu 20 SVTH: Nguyễn Anh
Thực