Hoạt động của mỏ sắt trại cau tỉnh thái nguyên (1986 2016)

  • 92 trang
  • file .pdf
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MA THỊ HỒNG HẠNH
HOẠT ĐỘNG CỦA MỎ SẮT TRẠI CAU
TỈNH THÁI NGUYÊN (1986 - 2016)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MA THỊ HỒNG HẠNH
HOẠT ĐỘNG CỦA MỎ SẮT TRẠI CAU
TỈNH THÁI NGUYÊN (1986 - 2016)
Ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã ngành: 8.22.90.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Xuân Minh
THÁI NGUYÊN - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thưc ̣.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Ma Thị Hồng Hạnh
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và
sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện thuận lợi để
tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới TS. Nguyễn Xuân Minh - người đã
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành công
trình nghiên cứu này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử, Phòng
Sau đại học của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình
giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học.
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Mỏ sắt Trại Cau, Trung tâm Lưu trữ
lịch sử tỉnh Thái Nguyên…đã ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận
văn.
Tôi xin cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, trường Trung
học phổ thông Trại Cau đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học
tập.
Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã khuyến khích động viên tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Thái Nguyên, ngày 16 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Ma Thị Hồng Hạnh
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ................................................................................. iv
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................... v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài .................................. 4
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu .................................................... 5
5. Đóng góp của Luận văn ................................................................................... 6
6. Bố cục của Luận văn ....................................................................................... 6
Chương 1: KHÁI QUÁT MỎ SẮT TRẠI CAU TRƯỚC NĂM 1986 .......... 7
1.1. Quá trình xây dựng Mỏ sắt Trại Cau (1959 - 1963) ..................................... 7
1.2. Tình hình hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau (1963 - 1985) ........................... 10
1.2.1. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ công nhân của Mỏ ........................................ 10
1.2.2. Vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không
quân của đế quốc Mĩ (1963 - 1975)................................................................... 12
1.2.3. Thi đua đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống (1975 - 1985) ................ 17
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 21
Chương 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA MỎ SẮT TRẠI CAU
(1986 - 2016) ..................................................................................................... 21
2.1. Đường lối đổi mới của Đảng và sự vận dụng của Mỏ ............................... 22
2.2. Hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau từ năm 1986 đến năm 1996 ..................... 26
2.2.1. Tổ chức quản lí và nguồn nhân lực ......................................................... 26
2.2.2. Hoạt động sản xuất, kinh doanh .............................................................. 34
2.3. Hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau từ năm 1997 đến năm 2016 ..................... 39
iii
2.3.1. Chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước của
Đảng .................................................................................................................. 39
2.3.2. Hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau (1997 - 2016)........................................ 40
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 50
Chương 3: VAI TRÒ CỦA MỎ SẮT TRẠI CAU ........................................ 52
3.1. Đối với sự phát triển kinh tế ....................................................................... 52
3.1.1. Mỏ sắt Trại Cau góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước nói
chung và địa phương nói riêng .......................................................................... 52
3.1.2. Mỏ sắt Trại Cau góp phần làm chuyển biến cơ cấu kinh tế trong khu
vực ..................................................................................................................... 56
3.2. Đối với sự phát triển xã hội ........................................................................ 57
3.2.1. Mỏ sắt Trại Cau góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội, tạo việc
làm cho người lao động ..................................................................................... 57
3.2.2. Mỏ sắt Trại Cau góp phần làm thay đổi bộ mặt xã hội trong khu vực .... 58
3.2.3. Mỏ sắt Trại Cau tích cực tham gia các hoạt động xã hội của địa phương .. 60
3.2.4. Mỏ sắt Trại Cau thường xuyên quan tâm bảo vệ môi trường ................. 61
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 63
KẾT LUẬN....................................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 71
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng sản lượng các sản phẩm của Mỏ trong giai đoạn 1986 - 1996....... 36
Bảng 2.2. Kết quả sản xuất kinh doanh của Mỏ từ năm 1997 đến năm 2016 ......... 42
Bảng 2.3. Kết quả đóng góp cho ngân sách Nhà nước và thu nhập bình quân của
công nhân từ năm 1997 đến năm 2016...................................................... 47
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Mỏ sắt Trại Cau ............................................. 30
v
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Phát triển công nghiệp luôn giữ vai trò trọng yếu trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với mục tiêu đến năm 2020 về cơ bản sẽ
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì vậy, một hệ thống các chính
sách công nghiệp đúng đắn sẽ là công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu phát
triển ngành Công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Công nghiệp luyện kim là một trong những ngành quan trọng bậc nhất của
công nghiệp nặng. Sản phẩm chính của nó là gang và thép - nguyên liệu cơ bản
cho các ngành công nghiệp cơ khí, xây dựng, gia công kim loại để tạo ra tư liệu
sản xuất, công cụ lao động. Hầu hết các ngành kinh tế đều sử dụng sản phẩm của
ngành Công nghiệp luyện kim.
Ngành Luyện kim của Việt Nam luôn luôn đồng hành với ngành Khai thác
và chế biến các loại khoáng sản. Chính những sản phẩm của ngành Khai thác
khoáng sản là vật liệu chủ đạo phục vụ cho công tác luyện kim. Việt Nam có
nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng phong phú và đa dạng về chủng loại như
than, sắt, kẽm, thiếc... Công nghiệp khai khác khoáng sản ở Việt Nam bắt đầu
hình thành từ cuối thế kỉ XIX do tư bản Pháp thực hiện. Từ năm 1955, Việt Nam
đã tiếp quản, duy trì và phát triển các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản. Đến
năm 2015, Việt Nam tiến hành điều tra cơ bản, thăm dò và phát hiện mức trên
5.000 điểm khoáng và mỏ. Trong đó, một số loại khoáng sản được đánh giá là
có giá trị công nghiệp và trữ lượng lớn, như than (240 tỉ tấn), sắt (2 tỉ tấn), bôxít
(10 tỉ tấn), chì, kẽm, thiếc (2 tỉ tấn). Nhiều loại khoáng sản đã được khai thác
phục vụ cho nhu cầu trong nước và một phần xuất khẩu.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi - trung du, có thế mạnh về công nghiệp,
nhất là công nghiệp khai khoáng và công nghiệp luyện kim. Các loại tài nguyên
khoáng sản nằm ở địa bàn tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng tương đối lớn, như
1
than, quặng sắt, đá vôi, vàng, v.v... Những nguồn tài nguyên đó là cơ sở cho sự
ra đời ngành Luyện kim đầu tiên của nước ta. Vì vậy, từ năm 1959, Thái Nguyên
được Đảng, Chính phủ chọn làm nơi xây dựng Khu Công nghiệp Gang thép -
cánh chim đầu đàn của ngành Công nghiệp nặng miền Bắc Việt Nam lúc bấy
giờ.
Là một thành viên của Công ty Gang thép Thái Nguyên (nay là Công ty
Cổ phần Gang thép Thái Nguyên), Mỏ sắt Trại Cau có nhiều đóng góp to lớn đối
với ngành Công nghiệp luyện kim. Nhiệm vụ chính của Mỏlà khai thác, chế biến
quặng sắt cung cấp cho Nhà máy Luyện gang của Công ty. Ngoài ra, Mỏ còn
cung cấp chất trợ dung cho công nghệ sản xuất xi măng trong nước và một số
ngành công nghiệp khác; nghiên cứu công nghệ chế biến, sản xuất bột huyền phù
từ quặng 0-8 mm Manhêtít để cung cấp cho công nghệ tuyển than; sản xuất đá
xây dựng; gia công chế tạo sản phẩm cơ khí, sửa chữa thiết bị điện, đại tu thiết
bị máy xúc, máy gạt, ô tô, máy công cụ…
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo của cấp trên, sự giúp
đỡ tạo điều kiện của địa phương và các đơn vị bạn, từ ngày khánh thành Nhà máy
Tuyển khoáng (16/12/1963) đến nay, Mỏ sắt Trại Cau đã đóng góp quan trọng vào
sự phát triển ngành Công nghiệp luyện kim nước ta nói chung và Công ty Gang
thép Thái Nguyên nói riêng. Qua mỗi giai đoạn, từ xây dựng cơ bản, sản xuất,
chiến đấu bảo vệ sản xuất, thời kì đổi mới, Mỏ sắt Trại Cau đều để lại những dấu
ấn đậm nét trong lịch sử phát triển của địa phương và đất nước. Trong công cuộc
đổi mới, thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cán bộ, công
nhân Mỏ sắt Trại Cau luôn đoàn kết, thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật,
tăng năng suất lao động để khẳng định vị thế của mình.
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở Trường Trung học phổ thông
Trại Cau, tôi muốn được tìm hiểu về những hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau. Hơn
nữa, việc nghiên cứu hoạt động của Mỏ, rút ra những bài học kinh nghiệm thành
công và chưa thành công còn góp phần giúp Ban Lãnh đạo Mỏ có những định
hướng phát triển trong tương lai.
2
Với những lí do trên, tôi chọn vấn đề:“Hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau
tỉnh Thái Nguyên (1986 - 2016)” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Sử học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khu Công trường Gang thép Thái Nguyên (trong đó có Mỏ sắt Trại Cau)
được Chính phủ kí quyết định thành lập vào ngày 4/6/1959.Từ đó, công tác khảo
sát, chọn địa điểm Nhà máy Tuyển khoáng được tiến hành. Đến ngày
16/12/1963, Lễ cắt băng khánh thành Nhà máy Tuyển khoáng được tổ chức tại
Máng quặng nguyên. Trong hơn 50 năm tồn tại và phát triển, Mỏ sắt Trại Cau
đã được một số cá nhân, tập thể, tổ chức đề cập đến.
Năm 1978, Phòng Thông tin - Văn hoá Công ty Gang thép Thái Nguyên
xuất bản cuốn Khu Gang thép Thái Nguyên - vài nét về lịch sử truyền thống.
Cuốn sách đã giới thiệu một cách toàn diện quá trình xây dựng và những hoạt
động của Khu Gang thép Thái Nguyên từ năm 1959 đến 1978. Trong đó, cuốn
sách đề cập đến quá trình xây dựng và những hoạt động những năm đầu sản xuất
của Mỏ sắt Trại Cau.
Năm 2003, Đảng uỷ Công ty Gang thép xuất bản cuốn Công tyGang thép
Thái Nguyên 1959 - 2003: Biên niên sử tóm tắt. Cuốn sách khái quát quá trình
hơn 40 năm xây dựng, trưởng thành của Công ty; nêu rõ những đóng góp của
Mỏ sắt Trại Cau trực thuộc Công ty Gang thép Thái Nguyên.
Năm 2006, TS. Hà Thị Thu Thủy, Trường Đại học Sư phạm - Đại học
Thái Nguyên đã công bố Luận án Tiến sĩ mang tên Công nghiệp khai thác mỏ
kim loại của thực dân Pháp ở Thái Nguyên (1906 - 1945). Công trình đã tìm hiểu
cơ sở hạ tầng hình thành công nghiệp khai thác mỏ của tư bản Pháp ở Thái
Nguyên; hoạt động khai thác mỏ của tư bản Pháp ở các khâu từ xây dựng cơ sở
hạ tầng, chuẩn bị nhân công và hệ thống các mỏ than, kẽm, sắt. Luận án cũng
nêu lên những tác động của hoạt động khai thác mỏ của tư bản Pháp đến kinh tế
- xã hội tỉnh Thái Nguyên.
Năm 2009, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn Địa chí Thái
Nguyên của Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
3
Trong cuốn sách này, vấn đề tiềm năng khoáng sản ở Thái Nguyên được đề cập
trong phần Địa chất và Khoáng sản. Tình hình khai thác khoáng sản ở Thái
Nguyên cũng được khái quát sơ bộ trong phần Kinh tế công nghiệp.
Năm 2013, Chu Thị Tân bảo vệ thành công đề tài Luận văn Thạc sĩ: Ngành
công nghiệp khai thác khoáng sản ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1997 - 2010.
Trong Luận văn này, tác giả trình bày khái quát một số hoạt động của Mỏ sắt
Trại Cau (1997 - 2010).
Hoạt động của Mỏ còn được nêu khái quát trong cuốn kỉ yếu 50 năm
truyền thống Mỏ sắt Trại Cau (phát hành tháng 12/2013).
Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào trình bày một
cách hệ thống về hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau trong thời kì đổi mới 1986 đến
2016. Mặc dù vậy, tất cả những công trình nêu trên đều là nguồn tài liệu tham
khảo quý giá giúp cho tác giả hoàn thành Luận văn này.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau trong giai đoạn
1986 - 2016.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau; những chuyển biến
trong sản xuất kinh doanh và đời sống công nhân Mỏ trong quá trình thực hiện
đường lối đổi mới.
- Phạm vi không gian: Mỏ sắt Trại Cau nằm trên địa bàn thị trấn Trại Cau,
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 đến năm 2016. Tuy nhiên, để làm rõ
yêu cầu của đề tài, Luận văn đề cập đến tình hình của Mỏ trước năm 1986.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát quá trình xây dựng, phát triển của Mỏ sắt Trại Cau trước
năm 1986.
4
- Nghiên cứu hệ thống tổ chức và hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau trong
giai đoạn 1986 - 2016. Qua đó, rút ra những mặt mạnh, hạn chế của Mỏ trong
thời gian này.
- Đánh giá vị trí - vai trò của Mỏ trong thời gian 1986 - 2016.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Thực hiện đề tài này, tác giả Luận văn dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Văn kiện Đảng (các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng; các
chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước; nghị quyết Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên,
nghị quyết Đảng bộ Công ty Gang thép Thái Nguyên…).
- Các tác phẩm bàn về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.
- Các báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất của Mỏ sắt Trại Cau được lưu
trữ tại Phòng Lưu trữ của Mỏ.
- Các công trình nghiên cứu về ngành khai khoáng đã được công bố.
- Các cán bộ lãnh đạo Mỏ sắt Trại Cau qua các thời kì.
Tất cả những nguồn tài liệu trên là cơ sở quan trọng để tác giả Luận văn
hoàn thành đề tài này.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử kết
hợp với phương pháp lôgic là chủ yếu. Bằng phương pháp lịch sử, tác giả trình
bày một cách hệ thống quá trình ra đời, hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau trong hơn
50 năm (1963 - 2016). Dựa vào các nguồn tư liệu lịch sử có chọn lọc, trên cơ sở
phân tích các sự kiện, tác giả rút ra bản chất, tính quy luật trong quá trình hoạt
động của Mỏ; nhận định, đánh giá vị trí - vai trò của Mỏ sắt Trại Cau đối với sự
nghiệp xây dựng đất nước nói chung, địa phương nói riêng.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, so
sánh, phỏng vấn, điền dã.
5
5. Đóng góp của Luận văn
- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống về quá trình xây
dựng, hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong
những năm 1986 - 2016.
- Làm rõ vị trí - vai trò của Mỏ trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội
của đất nước nói chung và địa phương nói riêng.
- Là nguồn tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương
tại các trường phổ thông trên địa bàn; đồng thời cũng là nguồn tài liệu dùng
để giáo dục truyền thống cho các thế hệ cán bộ, công nhân, viên chức Mỏ sắt
Trại Cau.
6. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
Luận văn được cấu tạo thành 3 chương nội dung:
Chương 1: Khái quát Mỏ sắt Trại Cau trước năm 1986.
Chương 2: Tình hình hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau trong những năm
1986 - 2016.
Chương 3: Vị trí - vai trò của Mỏ sắt Trại Cau.
6
Chương 1
KHÁI QUÁT MỎ SẮT TRẠI CAU TRƯỚC NĂM 1986
1.1. Quá trình xây dựng Mỏ sắt Trại Cau (1959 - 1963)
Năm 1897, sau khi căn bản hoàn thành bình định về quân sự, thực dân
Pháp bắt đầu tiến hành công cuộc cướp bóc, vơ vét trên quy mô lớn các nguồn
tài nguyên khoáng sản trên đất nước ta (khai thác thuộc địa lần thứ nhất). Một
trong những trọng điểm của chương trình khai thác thuộc địa là bóc lột tài nguyên
mỏ. Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực trung du - miền núi phía Bắc Việt
Nam; đất không rộng, người không đông, nhưng giàu có về tài nguyên khoáng
sản, đặc biệt là than mỡ và kim loại.
Đầu thế kỉ XX, Sở Địa chất Đông Dương tổ chức thăm dò mỏ ở Bắc Kỳ.
Năm1906, kết quả thăm dò mỏ cho biết ở Thái Nguyên có 1 mỏ than, 9 mỏ sắt,
1 mỏ măng gan, 2 mỏ chì và bạc, 4 mỏ kẽm, 3 mỏ vàng. Kết quả thăm dò của Sở
Địa chất Đông Dương một lần nữa càng khẳng định sự phong phú, đa dạng về
tài nguyên khoáng sản ở vùng đất Thái Nguyên và càng cuốn hút sự quan tâm
của thực dân Pháp. Do đó, ngành Công nghiệp khai thác mỏ cũng sớm được hình
thành ở đây.
Vào những năm 1927 - 1928, Pháp cho thăm dò khu vực Trại Cau và phát
hiện ra nhiều mạch quặng sắt dài tới 20 km ở Linh Nham, Na Lư, Cù Vân… [48,
tr.328]. Các mỏ sắt ở Trại Cau, Tiến Bộ (huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên)…
đều là những mỏ lộ thiên có tổng trữ lượng khoảng 50 triệu tấnvới 2 loại quặng
chủ yếu là Manhêtít (có hàm lượng Fe trên 60%), Limônít (có hàm lượng Fe
khoảng 50 - 55%) [48, tr.35]. Một chủ mỏ người Pháp tên là Bôvơri đã khai thác
hàng vạn tấn quặng sắt mang tên con gái mình là Ivol bán cho Nhật. Dưới ách
áp bức, bóc lột của các chủ mỏ người Pháp, đời sống những người phu mỏ lúc
đó vô cùng tối tăm; tai nạn lao động thường xuyên xảy ra, có lúc hầm sập vùi
chết 46 phu mỏ.
7
Sau khi hòa bình được lập lại (1954), miền Bắc nước ta bước vào thời kì
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Là một tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản, năm
1959, tỉnh Thái Nguyên được Đảng và Chính phủ chọn làm nơi xây dựng khu
công nghiệp gang thép đầu tiên ở miền Bắc nước ta.
Ngày 4/6/1959, Chính phủ ban hành Quyết định số 214-TTg thành lập
Công trường Khu Gang thép Thái Nguyên (trong đó có Mỏ sắt Trại Cau). Đồng
chí Đinh Đức Thiện - Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ
trưởng Bộ Công nghiệp - được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Công trường.
Tháng 9/1959, đoàn cán bộ gồm 22 người được thành lập, do đồng chí Ngô Huy
Lễ - Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, làm Chỉ huy trưởng
Công trường xây dựng Mỏ sắt Trại Cau. Đoàn đã khảo sát, chọn địa điểm xây
dựng Nhà máy Tuyển khoáng.
Lực lượng tham gia xây dựng trên Công trường Mỏ sắt Trại Cau gồm
bộ đội chuyển ngành, các đoàn công nhân được tuyển dụng từ các tỉnh: Bắc
Giang, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng, Hưng Yên,… Công nhân được biên
chế thành các đội: mặt bằng, cốp pha, cốt thép…Tháng 12/1959, tổng số cán
bộ, công nhân trên công trường là 300 người; đến tháng 3/1960, tăng lên 1.862
người.
Ngày 12/9/1960, lễ khởi công xây dựng Trạm bơm Thác Lạc - công trình
đầu tiên của Mỏ - được tiến hành. Sau đó, quân số tiếp tục được bổ sung, vào
năm 1961 có trên 2.000 người. Khu vực rừng núi rậm rạp phía Nam huyện Đồng
Hỷ đã trở thành một công trường sôi động nhộn nhịp. Với khí thế thi đua đạt
danh hiệu Kiện tướng, công nhân trên Công trường đã đào đắp hàng chục vạn
mét khối đất, đá; san phẳng hàng chục quả đồi, đổ hàng vạn mét khối bê tông cốt
thép, xây dựng hàng ngàn mét vuông nhà xưởng, lắp đặt hàng trăm tấn thiết bị
máy móc. Khu đồi núi hoang vu với cơ sở khai thác thủ công thời thuộc Pháp đã
biến thành một khu công nghiệp khai thác và chế biến quặng sắt phục vụ cho
ngành Luyện kim đen của đất nước.
8
Công trường Mỏ sắt Trại Cau được xây dựng đã tạo ra diện mạo mới, từng
bước làm thay đổi bộ mặt kinh tế, xã hội của địa phương. Ngày 19/10/1962, theo
Quyết định số 114/CP của Chính phủ, 3 xóm: Thai Thông, Đoàn Kết, Thác Lạc
của xã Tân Lợi (huyện Đồng Hỷ) được tách ra để thành lập thị trấn Trại Cau trực
thuộc thành phố Thái Nguyên.
Sau hơn 3 năm san đồi, bạt núi, lắp đặt thiết bị máy móc…, cán bộ, công
nhân kĩ thuật Việt Nam và chuyên gia Trung Quốc đã hoàn thành công việc xây
dựng Nhà máy Tuyển khoáng. Ngày 10/11/1963, Nhà máy bắt đầu chạy thử
không tải; đến ngày 12/11/1963, chính thức chạy có tải.
Sáng ngày 16/12/1963, hàng ngàn cán bộ, công nhân kĩ thuật Việt Nam,
chuyên gia Trung Quốc và nhân dân địa phương hân hoan phấn khởi về dự Lễ
khánh thành Nhà máy Tuyển khoáng. Đồng chí Nguyễn Văn Trân - Bộ trưởng
Bộ Công nghiệp nặng - về dự và trực tiếp cắt băng khánh thành Nhà máy, đánh
dấu toàn bộ các công trình xây dựng Mỏ sắt Trại Cau đã hoàn thành và đi vào
sản xuất. Từ đó, ngày 16/12 hằng năm trở thành Ngày truyền thống của Mỏ sắt
Trại Cau.
Nhà máy Tuyển khoáng Mỏ sắt Trại Cau là một trong những nhà máy
tuyển quặng sắt đầu tiên của miền Bắc nước ta. Với công nghệ hiện đại, Nhà máy
được đưa vào sản xuất phục vụ cho Khu Công nghiệp Luyện kim đầu tiên của cả
nước.
Mỏ sắt Trại Cau là đơn vị thành viên của Công ty Gang thép Thái Nguyên
(nay là Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên). Văn phòng của Mỏ nằm trên
địa bàn thị trấn Trại Cau (huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên), cách thành phố
Thái Nguyên 20km về phía đông. Phạm vi hoạt động của Mỏ trên địa bàn của 3
xã: Nam Hòa, Cây Thị, Tân Lợi và thị trấn Trại Cau. Tổng diện tích đất đang sử
dụng là 1.737.953 m2. Mỏ được Nhà nước giao quản lí 8 điểm quặng sắt trong
vùng, hiện tại đã và đang khai thác 6 điểm (Quang Trung, Thác Lạc, Chỏm Vung,
Núi Đ, Núi Quặng, Hàm Chim); các điểm còn lại đang chuẩn bị khai thác. Mỏ
9
sắt Trại Cau có trữ lượng quặng sắt khoảng 9,88 triệu tấn. Qua mấy chục năm
khai thác, trữ lượng quặng khu vực này còn có thể khai thác được gần 2,7 triệu
tấn.
1.2. Tình hình hoạt động của Mỏ sắt Trại Cau (1963 - 1985)
1.2.1. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ công nhân của Mỏ
Được sự chỉ đạo trực tiếp của Công ty Gang thép Thái Nguyên, sau một
thời gian đi vào hoạt động, đến năm 1964, bộ máy tổ chức của Mỏ sắt Trại Cau
đã dần kiện toàn.
Cơ cấu bộ máy quản lí của Mỏ sắt Trại Cau lúc này được tổ chức trên cơ
sở nguyên tắc quản lí của Nhà nước, gồm có: 1 Giám đốc, 2 Phó Giám đốc, 1 Bí
thư Đảng ủy, 1 Thư kí Công đoàn,13 phòng, ban (Phòng Kĩ thuật, Phòng Cơ
điện, Phòng Tài vụ, Phòng Hành chính - Quản trị, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng
Lao động - Tiền lương, Phòng Kế hoạch kinh doanh, Phòng Bảo vệ - Tự vệ, Ban
KCS, Ban An toàn, Ban Kiến thiết cơ bản, Ban Y tế, Ban Chuyên gia - Giao tế),
5 phân xưởng (Phân xưởng Khai thác, Phân xưởng Tuyển khoáng, Phân xưởng
Động lực, Phân xưởng Gia công cơ khí, Phân xưởng Sản xuất vật liệu) và các
đội sản xuất.
Giám đốc Mỏ chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc Công ty Gang thép
Thái Nguyên và tập thể lao động về việc điều hành sản xuất kinh doanh; về tổ
chức quản lí, đảm bảo có hiệu quả cao theo đường lối của Đảng, pháp luật của
Nhà nước; thực hiện các điều lệ, quy chế, phân cấp quản lí của Công ty Gang
thép Thái Nguyên.
Giúp việc cho Giám đốc là hệ thống các cán bộ quản lí từ Phó Giám đốc
đến các Trưởng phòng, ban, Quản đốc và Phó Quản đốc phân xưởng, Tổ trưởng
tổ sản xuất… Đội ngũ cán bộ quản lí từ Ban Giám đốc xuống đến các Trưởng
phòng, Quản đốc phân xưởng đều có trình độ đại học.
Trong quá trình chỉ đạo hoạt động sản xuất, các tổ chức chính trị của Mỏ
sắt Trại Cau cũng được thành lập và có vai trò rất quan trọng.
10
Đảng bộ Mỏ sắt Trại Cau được thành lập cùng với Đảng bộ Công trường
Khu Gang thép Thái Nguyên ngày 24/10/1959. Kể từ ngày khởi công xây dựng
Mỏ, Đảng bộ Mỏ sắt Trại Cau luôn giữ vững vai trò lãnh đạo về chính trị, tư
tưởng và tổ chức, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, bảo đảm sự đoàn
kết nhất trí trong Đảng bộ, nội bộ Mỏ. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Đảng
bộ đã tập trung lãnh đạo việc sắp xếp cơ cấu bộ máy quản lí phù hợp, tổ chức
sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, đào tạo đội ngũ công nhân lao động và đầu tư
nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Công đoàn Mỏ sắt Trại Cau là công đoàn cơ sở trực thuộc Công đoàn Công
ty Gang thép Thái Nguyên, được thành lập ngày 22/11/1959. Quá trình phát triển
phong trào công nhân, viên chức và hoạt động công đoàn cơ sở gắn liền với sự
phát triển của Mỏ.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Mỏ sắt Trại Cau trực thuộc Đoàn
Thanh niên Công ty Gang thép Thái Nguyên, được thành lập ngày 3/11/1959.
Từ khi thành lập đến năm 1985, hoạt động của Đoàn tập trung vào nhiệm vụ thi
đua xây dựng cơ sở vật chất, quản lí tài nguyên, cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng
suất lao động. Mặc dù việc sản xuất kinh doanh của Mỏ có những thời điểm gặp
nhiều khó khăn, song tổ chức Đoàn Thanh niên đã biết khắc phục, phát huy tốt
những mặt tích cực, luôn xứng đáng là lực lượng xung kích trong mọi hoạt động.
Có mặt ở hầu hết các vị trí của Mỏ, cán bộ, đoàn viên đã khẳng định sức trẻ của
mình trong công tác xây dựng Mỏ, xây dựng tổ chức Đoàn ngày càng vững mạnh.
Số lượng công nhân làm việc tại Mỏ thường xuyên có trên 1.000 người
(trong đó tỉ lệ nam giới chiếm trên 70%). Bộ phận công nhân khai thác quặng chủ
yếu là lao động phổ thông, có trình độ văn hóa cấp 2 (nay là Trung học cơ sở), cấp
3 (nay là Trung học phổ thông). Bộ phận công nhân kĩ thuật có trình độ văn hóa
cao hơn, được đào tạo cơ bản qua các trường lớp dạy nghề. Nguồn tuyển dụng
công nhân là bộ đội chuyển ngành, thanh niên xung phong sau khi đã hoàn thành
nghĩa vụ; con em cán bộ, công nhân viên trong Mỏ. Ngoài các đối tượng trên,
11
trước yêu cầu phát triển của Mỏ, Ban Giám đốc đặc biệt chú ý tuyển dụng những
học sinh đã tốt nghiệp các trường kĩ thuật, số công nhân có trình độ, tay nghề cao,
những kĩ sư cơ điện, khai thác mỏ...
Trong quá trình sản xuất, nhận thấy tầm quan trọng của nguồn nhân lực
đối với hoạt động của Mỏ, Ban Giám đốc rất chú ý đến việc nâng cao trình độ
văn hóa và tay nghề cho công nhân. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc
sử dụng máy móc thiết bị, Mỏ đã gửi công nhân đi đào tạo lại, đồng thời phân
công và cắt cử những công nhân có trình độ tay nghề giỏi huấn luyện, kèm cặp
thế hệ đi sau. Ngoài ra, Ban Giám đốc Mỏ còn mở các lớp bổ túc kĩ thuật, tổ
chức thi thợ giỏi, nâng bậc cho công nhân các phân xưởng sản xuất. Nhờ đó,
cùng với đội ngũ công nhân kĩ thuật, thông qua thực tiễn sản xuất, trình độ tay
nghề của công nhân Mỏ được nâng lên. Đây là nhân tố quan trọng có tính quyết
định giúp cho Mỏ sắt Trại Cau hoạt động có hiệu quả.
1.2.2. Vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không
quân của đế quốc Mĩ (1963 - 1975)
Mỏ sắt Trại Cau là mỏ đầu tiên ở Việt Nam khai thác bằng phương pháp
công nghiệp. Mỏ được thiết kế với công nghệ khai thác lộ thiên và tuyển rửa với
công suất 350.000 tấn/năm. Công nghệ khai thác của Mỏ sắt Trại Cau là phương
pháp khai thác lộ thiên với chiều cao tầng H = 8m, góc nghiêng tầng α = 65 0.
Việc mở vỉa được tiến hành bằng máy gạt C-100 và TZ-130, dùng máy khoan
đập CZ-20M để khoan nổ mìn; xúc bốc quặng bằng máy xúc gầu thuận (W-1001
và W-1002) dung tích gầu là 1m3. Việc chuyển quặng từ nơi khai thác về xưởng
tuyển đều bằng ôtô vận tải Kpaz có tải trọng 12 tấn. Quặng sắt được tuyển theo
công nghệ tuyển nước và phân loại theo các công đoạn sàng tuyển để làm nguyên
liệu luyện gang cung cấp cho dây chuyền luyện kim khép kín của Công ty Gang
thép Thái Nguyên.
Công nghệ chế biến được mô tả như sau:
Quặng nguyên khai tuyển rửa, sàng thô đập, sàng, tuyển,
12