Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

  • 97 trang
  • file .pdf
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THANH HÕA
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Dương Đăng Huệ
HÀ NỘI – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thanh Hòa
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan .......................................................................................................
Mục lục ................................................................................................................
Danh mục các bảng .............................................................................................
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP
VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP...................................................... 4
1.1. Lý luận về doanh nghiệp ...................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp ..................................... 4
1.1.2. Vị trí và vai trò của doanh nghiệp ................................................ 11
1.1.3. Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam ...................................... 14
1.2. Lý luận về pháp luật về doanh nghiệp ................................................ 17
1.2.1. Khái niệm pháp luật về doanh nghiệp .......................................... 17
1.2.2. Vai trò của pháp luật về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường ...................................................................................................... 19
1.2.3. Nội dung pháp luật về doanh nghiệp ........................................... 21
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng nội dung pháp luật về
doanh nghiệp ............................................................................................. 24
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP CỦA
VIỆT NAM..................................................................................................... 36
2.1. Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp ............................................... 36
2.1.1. Thực trạng pháp luật về thành lập và đăng ký doanh nghiệp ...... 36
2.1.2. Thực trạng pháp luật về cơ cấu tổ chức và quản trị doanh
nghiệp ............................................................................................... 45
2.1.3. Thực trạng pháp luật về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp ......... 55
2.2. Nhận xét chung về thực trạng pháp luật về doanh nghiệp ................. 61
2.2.1. Ưu điểm ........................................................................................ 61
2.2.2. Khuyết điểm ................................................................................. 63
Chương 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DOANH NGHIỆP................................................................................... 66
3.1. Yêu cầu hoàn thiện ............................................................................. 66
3.2. Phương hướng hoàn thiện................................................................... 69
3.3. Giải pháp cụ thể .................................................................................. 72
3.3.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định về các loại hình doanh nghiệp .... 72
3.3.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về thành lập và đăng ký doanh
nghiệp ...................................................................................................... 75
3.3.3. Kiến nghị hoàn thiện quy định về cơ cấu tổ chức và quản trị
doanh nghiệp ............................................................................................. 77
3.3.4. Kiến nghị hoàn thiện quy định về tổ chức lại, giải thể doanh
nghiệp ...................................................................................................... 81
3.3.5. Một số kiến nghị khác .................................................................. 83
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 90
DANH MụC CÁC BảNG
Bảng 2.1: Bảng so sánh yêu cầu tỷ lệ biểu quyết thông qua quyết định trong
công ty của một số nước……………………………………………………53
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một cuộc cải biến cách mạng từ nền
kinh tế nông nghiệp trở thành nền kinh tế với công nghiệp là chủ đạo, đồng
thời đó cũng là cuộc cải biến cách mạng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Để triển khai thuận lợi và thực hiện thành công sự nghiệp này đòi hỏi
phải có những tiền đề cần thiết, trong đó việc mở rộng quy mô huy động và sử
dụng có hiệu quả các nguồn vốn là một trong những điều kiện quan trọng để
công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công. Vốn để công nghiệp hoá, hiện đại
hoá có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước. Nguồn
vốn trong nước được tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở
hiệu quả sản xuất, là lao động thặng dư của người lao động thuộc tất cả các
thành phần kinh tế. Trong đó hiện nay doanh nghiệp là nhân tố đặc biệt quan
trọng thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; là bộ phận chủ yếu tạo ra
tổng sản phẩm trong nước; là đơn vị sản xuất hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu
cầu chủ yếu của toàn xã hội. Mặt khác, một trong những mục tiêu quan trọng
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phân bổ tốt nguồn vốn, nguồn lao động,
nguồn tài nguyên vào nơi đem lại nhiều nhất lợi nhuận và giá trị thặng dư cho
xã hội. Nhiều số liệu thực tế đã chứng minh, trên cùng một đơn vị vốn, lao động
và tài nguyên thì doanh nghiệp là bộ phận đem lại giá trị thặng dư cao nhất.
Hiện nay, đầu tư thành lập doanh nghiệp đang là xu hướng chung của
tổ chức, cá nhân trong mọi nền kinh tế. Để điều chỉnh hoạt động của doanh
nghiệp, Nhà nước đã ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 và hàng loạt
nghị định hướng dẫn thi hành. Những văn bản này đã có những tác động tích
cực trong việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng; thúc đẩy
huy động vốn, phát triển và mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp; góp
phần gia tăng tốc độ tăng trưởng và giải quyết các vấn đề xã hội. Tuy vậy,
thực tế cũng cho thấy, việc triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp trong 8
1
năm qua đã gây ra không ít vướng mắc, hạn chế đối với yêu cầu hoàn thiện và
nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh nói chung và phát triển doanh
nghiệp nói riêng; đã ghi nhận rất nhiều bất cập khi các quy định trong luật còn
chưa rõ ràng, chồng chéo và không đáp ứng kịp thời với sự biến đổi của nền
kinh tế, sự chuyển đổi của các cơ chế quản lý nhà nước và nhu cầu phát triển
nhanh, mạnh của cộng đồng doanh nghiệp.
Xuất phát từ những bất cập nêu trên, đồng thời ý thức được Luật Doanh
nghiệp là một đạo luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc đầu tư vốn
thành lập doanh nghiệp và quyền tự do kinh doanh của công dân đã được
Hiến pháp ghi nhận, tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về doanh
nghiệp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” để
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình. Từ nghiên cứu này sẽ tổng kết,
đánh giá những ưu nhược điểm, các tồn tại, hạn chế, bất cập của Luật Doanh
nghiệp năm 2005. Quan trọng hơn, tôi mong muốn sẽ đề xuất được những
kiến nghị hữu ích đối với việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Doanh nghiệp năm
2005, đáp ứng mục tiêu tạo lập môi trường kinh doanh cạnh tranh, thông
thoáng, bình đẳng, làm động lực cho việc thu hút các nguồn lực trong nước
cũng như nước ngoài, góp phần thúc đẩy các loại hình doanh nghiệp phát
triển toàn diện, tự do có trật tự; huy động được ngày càng nhiều vốn đầu tư
vào sản xuất, kinh doanh, khuyến khích mọi công dân làm giàu cho mình và
cho đất nước.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nội dung, quy định về bản chất
pháp lý của các loại hình doanh nghiệp; về thành lập doanh nghiệp và đăng ký
kinh doanh; về tổ chức quản lý doanh nghiệp; về cấu trúc vốn của doanh
nghiệp; về tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các
văn bản hướng dẫn thi hành.
2
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở những vấn đề lý luận về
doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp; phân tích những nội dung cơ bản
của pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp nói chung và từng loại hình doanh
nghiệp nói riêng, từ đó đưa ra những ưu, nhược điểm của pháp luật Việt Nam
về vấn đề này; đề xuất những quan điểm cá nhân về định hướng và những giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp để pháp luật này trở thành
công cụ hỗ trợ đắc lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện
nay tại Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin; tư
tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảng cộng
sản Việt Nam, Nhà nước về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội nói chung; về
vị trí, vai trò của doanh nghiệp vàpháp luật doanh nghiệp nói riêng.
Luận văn đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học
khác nhau, như phương pháp tổng hợp và phân tích; phương pháp thống kê;
phương pháp so sánh và đối chiếu; kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn...
Các phương pháp nghiên cứu này được thực hiện trên nền tảng của phương
pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp và pháp luật
về doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp
3
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP
1.1. Lý luận về doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp
Sự hình thành các doanh nghiệp là quy luật tất yếu khách quan của nền
kinh tế. Sản xuất hàng hoá khi phát triển đến một mức độ nhất định sẽ tất yếu
nảy sinh nhu cầu mở rộng kinh doanh. Chính nhu cầu về vốn và nhu cầu chia
sẻ rủi ro đã thúc đẩy các nhà đầu tư liên kết lại với nhau, tổ chức theo một cấu
trúc nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh. Nhưng không chỉ là quy luật
khách quan của nền kinh tế, sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp
còn bị tác động bởi yếu tố chủ quan, tuỳ thuộc vào điều kiện chính trị - xã hội
khác nhau trong từng thời kỳ lịch sử. Theo đó, khái niệm doanh nghiệp,
tương ứng với mỗi giai đoạn, mỗi quốc gia, mỗi khu vực lại có những cách
hiểu không đồng nhất.
Hiện nay, trong điều kiện đất nước ta đang tiến vào thời kỳ hội nhập, với
ý nghĩa tạo tiền đề lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
doanh nghiệp, quan điểm về doanh nghiệp cần được tiếp cận phù hợp với xu
hướng phổ biến, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Để thống nhất cách hiểu về doanh nghiệp, chúng ta cần xem xét khái
niệm doanh nghiệp từ hai góc độ: kinh tế - xã hội và pháp lý, gắn với những
yếu tố của nền kinh tế thị trường.
Dưới góc độ kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp được coi là thành tố cơ
bản của hệ thống kinh tế - xã hội, tuy nhiên dưới góc độ này khái niệm doanh
nghiệp cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong tiếng Anh, theo từ
điển Black’ law dictionary “doanh nghiệp (Enterprise)” có nghĩa là hoạt động
4
kinh doanh”. Như vậy, cách hiểu này mới chỉ đề cập đến khía cạnh thương
mại của doanh nghiệp chứ chưa thực sự nhìn nhận bản chất của doanh nghiệp
dưới góc độ là những thực thể kinh tế - xã hội độc lập mà ở đó hoạt động kinh
doanh chỉ là chức năng đầu tiên và chủ yếu. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa
“doanh nghiệp là một hình thức tổ chức kinh tế làm công việc kinh doanh”.
Theo đó, xét về mặt bản chất, doanh nghiệp là một loại hình tổ chức nên
mang những đặc điểm chung như bao gồm nhiều thành viên, có một cấu trúc
rõ ràng để các thành viên thực hiện phần việc của mình.
Có thể nói, đặc trưng riêng có của doanh nghiệp, phân biệt doanh
nghiệp với các đơn vị khác như cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, trường học,
bệnh viện... chính là mục tiêu mà doanh nghiệp luôn hướng tới: lợi nhuận từ
hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo đó, kinh doanh là một phạm trù gắn liền
với sản xuất hàng hoá, là tổng thể các hình thức, phương pháp, biện pháp
nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa người với
người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất
xã hội nhằm thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu [8].
Như vậy, dưới góc độ kinh tế - xã hội, doanh nghiệp được tổ chức theo
một cấu trúc nhất định để sử dụng vốn, bộ máy quản lý, lực lượng lao động
nhằm thu lợi nhuận sau một thời gian hoạt động. Với cách hiểu trên đây, khái
niệm doanh nghiệp ở Việt Nam không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể kinh
doanh theo quan niệm phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, coi doanh nghiệp
là chủ thể pháp luật bao gồm cả cá nhân và tổ chức. Theo đó, doanh nghiệp ở
Việt Nam chỉ là một trong rất nhiều chủ thể kinh doanh được pháp luật ghi
nhận để điều chỉnh.
Có thể khẳng định rằng, với những đặc điểm nêu trên, doanh nghiệp chỉ
thực sự phát huy lợi thế trong nền kinh tế thị trường. Theo kinh nghiệm phát
5
triển kinh tế của Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung,
các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều từ phía Nhà nước về nguồn vốn cũng
như mục tiêu, kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Với mô hình này, Nhà nước
chứ không phải là các doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm của nền kinh tế.
Bước sang nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp chủ yếu hoạt động theo
những quy luật kinh tế cơ bản (quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật
cung - cầu) nên tất yếu có quyền tự chủ rất cao. Xuất phát từ mục tiêu xây
dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ở Việt Nam
hiện nay, khái niệm doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thành
lập, hoạt động của doanh nghiệp không những bị chi phối bởi những quy luật
của nền kinh tế thị trường mà còn bị chi phối bởi định hướng xây dựng xã hội
chủ nghĩa.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm doanh nghiệp được pháp luật nhìn
nhận với những đặc trưng riêng. Theo Luật Công ty năm 1990 thì doanh
nghiệp được định nghĩa là “một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục
đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Khái niệm này có nội
hàm khá rộng, theo đó tất cả những đơn vị kinh doanh có hoạt động kinh
doanh sẽ được công nhận là doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm trong Luật
Công ty năm 1990 chưa thể hiện được những đặc điểm pháp lý của doanh
nghiệp. Đến khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm
2005 được ban hành, các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm doanh nghiệp một
cách cụ thể và đầy đủ hơn “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
(Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005). Trong khuôn khổ luận văn
này, tôi sẽ nghiên cứu doanh nghiệp dưới góc độ pháp lý với những đặc điểm
pháp lý cơ bản sau:
6
Thứ nhất, doanh nghiệp là một loại chủ thể pháp luật. Có thể nói, việc
pháp luật công nhận hay không công nhận tư cách chủ thể pháp luật cho tổ
chức, cá nhân có ý nghĩa vô cùng to lớn, là cơ sở để tổ chức, cá nhân đó tiến
hành mọi hoạt động nhân danh mình, đồng thời được pháp luật bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp. Tư cách chủ thể pháp lý độc lập của doanh nghiệp cho
phép doanh nghiệp có quyền tự chủ, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm trong
việc tổ chức hoạt động. Trách nhiệm pháp lý cơ bản của doanh nghiệp về hoạt
động kinh doanh thể hiện ở chỗ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình, thậm chí vượt ra khỏi phạm vi những tài sản đó về
những cam kết tài chính, nợ nần trong kinh doanh... Trước đây, pháp luật về
doanh nghiệp đã công nhận tư cách chủ thể của doanh nghiệp nhà nước; công
ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; công ty hợp danh; doanh nghiệp tư
nhân; doanh nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Sau này,
khi thống nhất các loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005,
pháp luật chỉ công nhận tư cách chủ thể cho bốn loại hình doanh nghiệp: công
ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; công ty hợp danh và doanh nghiệp
tư nhân. Dù thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào thì khi thành lập doanh
nghiệp, các nhà đầu tư cũng chỉ được thành lập một trong bốn loại hình doanh
nghiệp đó. Kết quả là khái niệm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được thay thế bằng những khái
niệm chính xác hơn như doanh nghiệp có vốn nhà nước hay doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài. Đây là tên gọi chung cho các doanh nghiệp được tổ
chức theo một trong bốn hình thức nêu trên mà Nhà nước hoặc tổ chức, cá
nhân nước ngoài bỏ vốn thành lập.
Bên cạnh đó, khi nói đến doanh nghiệp, có một loại chủ thể luôn được
đề cập đến với hai quan điểm khác nhau về bản chất và tư cách chủ thể - đó
chính là hợp tác xã.
7
Quan điểm thứ nhất cho rằng, hợp tác xã là một loại hình doanh
nghiệp. Quan điểm này giải thích lý do là: Hợp tác xã có tổ chức rõ ràng, có
bộ máy điều hành gồm hội đồng xã viên, ban quản trị hợp tác xã, ban kiểm
soát; đồng thời cũng có quy định về góp vốn và cơ chế huy động vốn tương
tự như doanh nghiệp. Vì vậy, hợp tác xã phải là một loại hình doanh nghiệp
được điều chỉnh bằng luật riêng - Luật Hợp tác xã, cũng giống như doanh
nghiệp nhà nước được quy định trong Luật Doanh nghiệp nhà nước năm
2003; công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh
nghiệp tư nhân được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 hay doanh
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được quy định trong
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam [6].
Quan điểm thứ hai cho rằng, hợp tác xã không phải là một loại hình
doanh nghiệp. Quan điểm này giải thích lý do là: Hợp tác xã có những nét
tương đồng với doanh nghiệp là vì “Hợp tác xã hoạt động như một loại hình
doanh nghiệp” nhưng điểm khác nhau cơ bản giữa hợp tác xã và doanh
nghiệp chính là yếu tố tự nguyện trong việc tham gia hay rút khỏi hợp tác xã
và tính xã hội, tương trợ cộng đồng rất cao của xã viên. Trong công ty, những
điều kiện ràng buộc giữa các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần, công ty hợp danh với nhau và giữa các thành viên với công ty liên
quan đến việc chuyển nhượng phần vốn góp hay cổ phần bao giờ cũng phức
tạp hơn so với các trường hợp tương tự trong hợp tác xã. Đồng thời, không
giống như doanh nghiệp chỉ hoạt động trước hết và chủ yếu vì mục tiêu lợi
nhuận, hợp tác xã còn luôn hướng đến việc phát huy sức mạnh tập thể của
từng xã viên, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh [6].
Mặc dù tồn tại với những lý lẽ khá thuyết phục, quan điểm thứ nhất về
tư cách doanh nghiệp của hợp tác xã cũng không được ghi nhận trong luật.
8
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã thống nhất các loại hình doanh nghiệp, trong
đó không bao gồm hình thức hợp tác xã. Luật Hợp tác xã năm 2013 có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/7/2013 đã chính thức khẳng định Hợp tác xã không
phải là chủ thể của pháp luật doanh nghiệp.
Thứ hai, để được công nhận tư cách chủ thể pháp lý, doanh nghiệp phải
được thành lập và đăng ký kinh doanh theo thủ tục nhất định do pháp luật quy
định. Đây là một đặc điểm rất quan trọng bởi lẽ nó thể hiện thái độ của Nhà
nước đối với các tổ chức kinh tế, xác định tổ chức ấy có đủ hay không đủ
điều kiện được công nhận là một doanh nghiệp. Dưới góc độ pháp lý, các
doanh nghiệp buộc phải đăng ký kinh doanh trước khi tham gia thị trường,
đây là hoạt động có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với các doanh nghiệp mà
còn xuất phát từ yêu cầu của quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh
trong nền kinh tế thị trường. Đối với các doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh
nhằm xác định tư cách chủ thể cho doanh nghiệp. Kể từ thời điểm được cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được phép tiến hành
những hoạt động kinh doanh theo nội dung đã đăng ký. Hoạt động kinh doanh
đó sẽ được pháp luật bảo vệ nhằm chống lại những hành vi xâm phạm quyền
và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc đăng ký kinh doanh
sẽ giúp Nhà nước nắm bắt được hệ thống thông tin về số lượng doanh nghiệp,
số lượng mỗi loại hình doanh nghiệp, các ngành nghề kinh doanh chủ yếu, địa
bàn thu hút vốn đầu tư... từ đó đưa ra, sửa đổi hoặc bổ sung kịp thời chủ
trương chính sách nhằm hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp. Hơn nữa, việc
đăng ký kinh doanh sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh an toàn và minh bạch
khi các nhà đầu tư dễ dàng tìm hiểu thông tin về bạn hàng từ sổ đăng ký kinh
doanh. Việc đăng ký kinh doanh vì thế có thể giúp các doanh nghiệp tránh
được tình trạng lừa đảo bằng việc bưng bít thông tin hay cạnh tranh không
lành mạnh trong hoạt động kinh doanh vốn đã có rất nhiều rủi ro. Trên thực
9
tế, hoạt động đăng ký kinh doanh thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các
thành phần kinh tế. Trước đây, khi pháp luật về doanh nghiệp còn phân loại
các doanh nghiệp theo tiêu chí tính chất sở hữu, việc đăng ký kinh doanh
được quy định trong nhiều văn bản khác nhau. Hiện nay, theo xu hướng
chung để đảm bảo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế, đồng thời đảm
bảo hơn nữa quyền tự do kinh doanh của công dân, các quy định về đăng ký
kinh doanh đã được thống nhất trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, áp dụng
chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp. Điều này tạo thuận lợi và dễ
dàng cho các nhà đầu tư khi áp dụng những quy định đó. Trong bối cảnh nền
thương mại thế giới hiện nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác, luôn
luôn đề cao việc cải thiện môi trường đầu tư mà trong đó quan trọng nhất là
cải thiện thủ tục hành chính ở khâu đăng ký kinh doanh nhằm khuyến khích
đầu tư trong nước đồng thời thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ ba, mỗi doanh nghiệp đều được xác định bởi những ngành nghề
kinh doanh nhất định. Doanh nghiệp sẽ phải kinh doanh đúng ngành nghề mà
mình đã đăng ký một cách thường xuyên. Nếu một chủ thể nào đó thực hiện
hành vi kinh doanh có tính chất đơn lẻ, vụ việc thì không thể xem chủ thể đó
là doanh nghiệp. Hơn nữa, thậm chí khi một chủ thể đã được coi là một doanh
nghiệp (được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) mà “không hoạt động
tại trụ sở đăng ký trong thời hạn 6 tháng liên tục kể từ ngày được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc chứng nhận thay đổi trụ sở chính thì sẽ
bị xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh” (Khoản 2 Điều 165 Luật Doanh
nghiệp năm 2005). Quy định này thực sự là một công cụ hiệu quả giúp cho cơ
quan quản lý nhà nước dễ dàng nắm bắt thông tin về doanh nghiệp, đồng thời
tránh tình trạng doanh nghiệp chỉ đăng ký kinh doanh mà trên thực tế không
tiến hành hoạt động hoặc ngừng hoạt động trong một thời gian dài.
10
Trên đây là một số vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm doanh nghiệp
được nhìn nhận một cách tổng quát từ phương diện kinh tế - xã hội và phương
diện pháp lý. Có thể nói, những đặc trưng được chỉ ra ở trên sẽ là nền tảng, là
cơ sở khoa học cho pháp luật về doanh nghiệp được ban hành và hoàn thiện
trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
1.1.2. Vị trí và vai trò của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận
chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm nội địa. Trong những năm qua, hoạt động của
doanh nghiệp đã có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát
triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội;
góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất
khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội
như tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo...; quyết định đến chuyển dịch các cơ
cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu ngành
kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương.
Sự phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp ngành công
nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững
ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá
trình hội nhập. Có thể nói vai trò của doanh nghiệp không chỉ quyết định sự
phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành
mạnh hoá các vấn đề xã hội.
Sau khi các luật về đăng ký kinh doanh được ban hành và sửa đổi như
Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Ðầu tư trực tiếp của nước ngoài, Luật Hợp
tác xã và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp đã đi vào cuộc sống, hoạt động trong
khu vực doanh nghiệp có nhiều thay đổi, môi trường thông thoáng hơn, sản
11
xuất kinh doanh sôi động hơn, vai trò của doanh nghiệp được ghi nhận và có
nhiều tiến bộ, nhất là trong các ngành công nghiệp, thương mại, vận tải, du
lịch. Cùng với số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, các yếu tố sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp như lao động, nguồn vốn, tài sản và kết quả sản xuất
kinh doanh như doanh thu, nguồn nộp ngân sách cũng tăng lên. Ðiều đáng
chú ý là trong những năm gần đây, các chủ trương, chính sách khuyến khích
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhà nước đã có tác động tích cực đến
việc huy động mọi nguồn vốn của các tầng lớp dân cư vào sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây đã đưa lại
những kết quả quan trọng sau:
- Doanh nghiệp là khu vực chủ yếu tạo ra giá trị gia tang, thu nhập cho
nền kinh tế, qua đó tang nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nguồn thu này
tăng nhanh trong những năm qua là điều kiện để đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng, phát triển các hoạt động xã hội công (y tế, giáo dục, xoá đói giảm
nghèo,...). Phát triển doanh nghiệp tác động đến việc giải quyết tốt hơn các
vấn đề xã hội. Những năm gần đây, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do khối
doanh nghiệp tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng,
chất lượng hàng hoá, dịch vụ được nâng lên, do đó đã giải quyết cơ bản nhu
cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ ngày càng cao của toàn xã hội, góp phần
nâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hoá xuất
khẩu. Nhiều sản phẩm trước đây thường phải nhập khẩu cho tiêu dùng thì nay
đã được các doanh nghiệp trong nước sản xuất thay thế và được người tiêu
dùng trong nước tín nhiệm như: Ô tô, xe máy, phương tiện vận tải, các mặt
hàng đồ điện, điện tử, may mặc, thực phẩm, đồ uống, hoá mỹ phẩm, đồ dùng
gia đình, sản phẩm phục vụ xây dựng, ... [20].
12
- Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người
lao động: Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh đã giải quyết được nhiều việc
làm với thu nhập cao hơn cho người lao động. Tuy chiếm tỷ trọng không cao
trong tổng lao động toàn xã hội, nhưng lao động của khu vực doanh nghiệp lại
là lực lượng chủ yếu tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đóng góp
lớn cho tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa; lao động ở khu vực này cũng có
thu nhập cao hơn nhiều so với khu vực cá thể và hộ gia đình. Thu nhập cao và
tăng nhanh của lao động khối doanh nghiệp góp phần cải thiện và nâng cao
mức sống chung của toàn xã hội và tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu
lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp.
- Doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển là yếu tố quyết định đến tăng
trưởng cao và ổn định của nền kinh tế: Doanh nghiệp phát triển nhanh những
năm gần đây đã làm cho tỷ trọng đóng góp của khu vực này vào tổng sản
phẩm nội địa tăng nhanh. Lợi ích cao hơn mà tăng trưởng doanh nghiệp đem
lại là tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất
lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan
trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu, đó là
yếu tố quan trọng giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển những năm qua.
- Doanh nghiệp phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu trong nền
kinh tế quốc dân và trong nội bộ mỗi ngành: Trước năm 2000, doanh nghiệp
phát triển chủ yếu trong ngành công nghiệp với vai trò quyết định là doanh
nghiệp nhà nước, các ngành khác (như nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, thương
mại...) hoạt động của cá thể, hộ gia đình là chính, chiếm từ 85-95% sản lượng
toàn ngành [20]. Ðến nay, hoạt động của loại hình doanh nghiệp có mặt ở hầu
hết các ngành sản xuất kinh doanh. Các loại hình kinh tế trong doanh nghiệp
phát triển đa dạng gồm nhiều thành phần, trong đó doanh nghiệp nhà nước và
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn, các loại hình doanh
13
nghiệp tư nhân tuy còn nhỏ nhưng phát triển nhanh và rộng khắp ở các ngành
và các địa phương trong cả nước. Doanh nghiệp phát triển nhanh trong tất cả
các ngành và ở khắp các địa phương đã tạo ra cơ hội phân công lại lao động
giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản và sản xuất kinh doanh nhỏ của
hộ gia đình là khu vực lao động có năng suất thấp, thu nhập không cao, chiếm
số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh nghiệp, nhất là ngành công
nghiệp và dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn.
1.1.3. Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
Việc phân loại doanh nghiệp nhằm các mục đích khác nhau và được
dựa trên các tiêu chí khác nhau. Từ góc độ nghiên cứu và lập pháp, việc phân
loại doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng cho việc lựa chọn cơ chế điều chỉnh
pháp luật thích hợp đối với doanh nghiệp, cả về quản lý nhà nước và quản trị
doanh nghiệp. Có nhiều căn cứ để phân loại doanh nghiệp như căn cứ vào
hình thức pháp lý của doanh nghiệp; chế độ trách nhiệm; tính chất sở hữu và
mục đích hoạt động của doanh nghiệp; cơ cấu nhà đầu tư và phương thức góp
vốn vào doanh nghiệp…
Ở hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau thì có sự phân chia
các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Ví dụ ở các nước theo hệ thống Luật
Án lệ chia doanh nghiệp ra làm hai nhóm chủ yếu là hãng kinh doanh và công
ty; ở các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa thì doanh nghiệp được
chia thành hai nhóm là doanh nghiệp cá nhân và công ty; doanh nghiệp theo
hệ thống pháp luật của Trung Quốc gồm hộ cá thể, doanh nghiệp cá thể
(doanh nghiệp tư nhân), hợp danh, doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp nhà
nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và công ty.
Ở Việt Nam, do những điều kiện lịch sử, xã hội đặc thù, doanh nghiệp
và pháp luật về doanh nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều điểm khác biệt lớn so
14
với xu hướng phổ biến trên thế giới, một trong những khác biệt đó là vấn đề
loại hình doanh nghiệp.
Căn cứ vào hình thức pháp lý của doanh nghiệp, theo Luật Doanh
nghiệp năm 2005 thì các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:
 Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên) là
doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
 Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia
thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ
phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
 Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
 Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là
chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành
viên hợp danh). Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong
công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn.
 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật
Đầu tư nước ngoài năm 1996 chưa đăng ký lại hay chuyển đổi theo quy định.
Căn cứ vào chế độ trách nhiệm, có thể phân loại các doanh nghiệp
thành doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn và doanh nghiệp chế độ
trách nhiệm hữu hạn, cụ thể:
15